Wednesday, July 27, 2022

NHỮNG ĐỨA CON MỸ LAI CÒN LẠI

 


        
 PHẦN MỘT


  THẰNG ĐEN THỨ NHẤT -XẤU SỐ

     Vừa lên khỏi con dốc Sơn Mỹ một đoạn là quán chè mụ Mít. Cái quán đơn sơ. Một cái bàn gỗ ọp ẹp, hai tấm ván bìa làm thành hai cái ghế dài, nửa tấm ván lớn làm bàn. Chỉ vậy, mà quán chè mụ Mít khá đông khách. Khách phần đông là đàn bà, con gái, những người đi bán than dưới chợ tỉnh La Gi về. Nhà họ quanh quất quán này, không xa lắm.


Quán mụ bán vài loại chè bình thuờng như đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh ... không màu mè như chè đô thị, tuy vậy mà đông Khách. Tầng lớp lao động, rẫy rừng, ly chè, mụ Mít đập cho vài cục đá lạnh thế là họ 'thỏa mãn' rồi. Mụ nhớ, thì mụ rắc cho một giọt dầu chuối cho thơm ly chè, nhưng mụ quên thì thôi, không ai phiền hà.



  quán nước bên đường 1995 (dốc Sơn Mỹ xuống chợ Cam Bình , hinh cua ĐHL  )



Trời xế chiều. Mấy o bán than, mấy ôn đạp xe buôn heo con, coi bộ cũng hết. Hơn nữa, mụ chỉ còn một ly chè cho thằng con út. Con trai mụ đi rẫy, chiều nào hắn cũng về sớm. 

***

 

Mụ Mít giờ đang ngồi thừ người ra; dáng thư giãn sau một ngày bán buôn mệt nhọc. Ngó vậy mà trong lòng mụ mấy hôm nay như "sóng cồn, lửa cháy". Mụ ghen tức với mụ Hồng bán cá trên chợ xã Sơn Mỹ: 

  -Con mệ Hồng bựa ni oai dữ rứa? cả nhà con mệ sắp đi Mỹ rồi mà, răng mà không oai?!

 Mụ Hồng có đứa con lai Mỹ nhưng không là con nuôi mà là con ruột. Bởi nó lai mẹ nên pha hai dòng máu thành ra là đứa con lai đẹp trai là đằng khác. Có cái may mắn, con mụ Hồng là con lính Mỹ trắng nên chẳng hề có màu da đen như mấy đứa Mỹ đen khác. Mấy hôm nay cả nhà mụ Hồng đang rục rịch chuẩn bị đi Mỹ. Phái đoàn phỏng vấn xong trước tết. Nghe đâu giấy mời xuất cảnh cũng gởi về rồi. Gần cả tháng này mụ Hồng  đã nghỉ bán cá ngoài chợ. Trong chợ, ai cũng trầm trồ "chỉ chọt" mụ Hồng. Tuy chưa đi Mỹ mà mụ coi bộ "trắng da dài tóc", huống chi qua bên nớ- xứ Mỹ giàu có ngất trời. Thằng con trai của mụ Hồng đã xin nghỉ học cấp ba dưới thị xã La Gi, chuẩn bị đi cùng gia đình.

Trong lòng mụ Mít vừa buồn vừa đau ghê gớm. Mụ quay quắt trong người, ăn không còn biết ngon, ngủ thì hết còn thẳng giấc như bữa trước. Không biết chuyện đau của mụ từ "tiếc của" hay "sám hối ăn năn". Hoàn cảnh mụ Hồng khác với mụ Mít; do mụ Mít chỉ tình cờ "lượm" mấy đứa con lai Mỹ đen tận ngoài Đà nẵng. Sau đó mấy đứa con lai này cũng theo ba mạ nuôi vào Bình Tuy theo diện KHẨN HOANG LẬP ẤP 1973 đi từ Đà Nẵng nên chúng đã có tên trong sổ gia đình rồi.
Con lai Mỹ trắng dĩ nhiên thì làm sao vào tay mấy mụ được chỉ còn lại mấy đứa con rơi Mỹ đen "quỷ tha ma bắt ", ngoài Đà Nẵng không ai thèm nuôi mà họ  còn ghê là đằng khác. Trước tiên do Mụ Mít nuôi để làm phước, sau là có cơ hội kê khai thêm vào sổ gia đình. Thời chạy giặc 1972 ngoài Đà Nẵng,  có thêm nhân khẩu tức thêm gạo, thêm mỳ không thiệt thòi chi. Tiếp đến, vào Bình Tuy có một khẩu lại thêm gạo và tôn lợp nhà nên còn lợi thêm.

Thằng Đen như mụ Mít hay gọi cũng giống như những đứa con lai da đen khác, đa số chúng đều được gọi là " thằng đen" cả. Sau 1975, hết trợ cấp, mấy đứa con nuôi này trở thành những tay lao động CHÍNH trong nhà. Chúng làm than, củi cùng phá núi, san rừng chi chúng đều rành rọt. Chúng là con lai nên vóc dáng to lớn, lao động mạnh nên chẳng ai cảm thấy thiệt thòi; trái lại, sau 1975 tại các vùng rẫy rừng người ta còn mừng là đằng khác.
Chỉ có mụ Mít hôm nay quả là thiệt thòi nhất trong xã. Có thể là "quả báo" hay chăng?  Chuyện do Mụ bắt thằng Đen làm việc quần quật ngày này qua tháng nọ.  Mọi ngày nó phải vào rừng rất sớm, tối mịt mới về. Con trai mụ làm rừng chỉ đôi ba bữa lại 'than đau-van mệt' ; đã biếng thế, nhưng mà mụ Mít bới cho con trai mình toàn cơm trắng cá kho khô. 

Còn thằng Đen? 


Nó, quanh năm suốt tháng mịt mù trong rừng. Hết phát rẫy, đợi khô xong đốt dọn. Xong, mụ bắt làm than kiếm thêm tiền. Mụ bắt chước do thấy thiên hạ đi bán than, mấy chiếc xe đạp thồ nghểu nghện mấy bao than cao ngất, có tệ chi "cũng hơn trăm bạc!" mụ Mít chắt lưỡi  thèm thuồng.


Đen làm trong rừng cật lực thế mà Mụ cho thằng Đen ăn ít quá! bới vào rừng chỉ toàn là sắn lát dính vài hột cơm trắng cho có; ruốc kho khô mặn chát, không có chi tươi cả.

Mấy bữa nó đau. Cực quá, nó xin mụ cho nghỉ ở nhà một ngày cho khỏe nó gắng làm bù. Nó coi bộ sốt thiệt. Muỗi trong rừng cắn nó bao lâu nay sao mà không sốt rét cho được? Thế mà mụ chửi, mụ la. Mụ Mít bảo nó làm biếng, không biết công ơn mụ lượm nó từ Đà Nẵng vô; nuôi nó lên vóc dáng như hôm nay.


Thế là Đen tuy đau trong người, nhưng hắn vẫn phải tiếp tục lủi thủi vác rìu rựa vô rừng.




 dốc Sơn Mỹ xuống chợ Cam Bình , hình 1995 của tác giả


Một bữa trong làng xôn xao, thằng Đen con mụ Mít chết rồi, chết vì sốt rét! Nhà mụ cũng võng nó về trạm xá dưới huyện Hàm Tân lo cứu nó, nhưng nó chết giữa đường.


Tội nghiệp, Thằng Đen chết thật lặng lẽ. Trong làng chẳng có mấy người đi đưa đám nó. Cái mả nó sơ sài, nằm bên cồn đất xấu rìa làng. Nơi này là đất bỏ hoang, không ai canh tác.

                 *

Thời thế đổi dời.
Mấy hôm nay mụ nghe thiên hạ đồn 'nhà giàu' mô từ Sài Gòn về tận thôn lùng sục mua con lai. Nghe đâu giá mỗi đứa con lai tới "MƯỜI MẤY CÂY VÀNG"- sau khi hoàn tất 'thủ tục' giấy tờ xong.

Ôi! "cả đống vàng " trong tay, mà mụ nỡ lòng vứt đi. 


Mụ Mít mấy hôm nay như kẻ mất hồn. Người mụ trông 'như ngây như dại', ăn không ngon, ngủ chẳng yên. Mấy đứa con mụ Hồng đi lo thủ tục "cắt khẩu" trên huyện về, khi lái honda qua nhà mụ, chúng còn ngó vô nhà mụ như an ủi mà lại muốn khoe khoang, làm mụ Mít tức muốn sôi gan, lộn ruột.


Đêm nằm mụ trăn trở do không ngủ được. Trong giấc ngủ chập chờn, mụ thấy hình ảnh thằng Đen đang thất thểu bước vào rừng. Dáng nó ốm, cao lêu nghêu. Cái quần đùi cụt, chiếc áo ka-ki bạc màu, vá mấy nơi...

Ánh sáng phía rừng chợt lóe lên; những tia sét lóa cả mắt, kèm theo tiếng nổ ầm ầm của sấm làm mụ Mít giật thót mình. Những giọt mưa đầu mùa bắt đầu rơi mạnh, nghe "rào rào" trên hai mái tôn xi măng. Nỗi sợ mơ hồ ập đến, làm mụ co rúm cả thân người vào tận góc giường như muốn trốn chạy một ám ảnh nào.


PHẦN HAI

 THẰNG ĐEN THỨ HAI - TỐT SỐ  


 từ ba thôn Hà -Mỹ- Lễ  (viết tắt từ Gio Hà, Gio Mỹ và Gio Lễ) xã Sơn Mỹ ngó lên ngọn núi Bể và ngọn Mây Tào cao hơn hình của tác giả tháng 7/1995 


Thời gian tiếp theo, cả nhà mụ Mít không biết đổi đi đâu, không còn ở vùng Sơn Mỹ này nữa. Cái quán, người chủ khác bán. Khách ăn chè đôi khi rảnh rang bàn tán chuyện nhà mụ Mít. Ít người thuơng cho hoàn cảnh của mụ còn nói "đáng đời!"
Nhà mụ bỏ đi do chẳng còn ai đảm trách việc nặng trong rừng sau khi thằng Đen chết, lại còn cái miệng đời "thị phi, to nhỏ" là một chuyện khác. 
Chuyện đi Mỹ càng ngày càng rầm rộ trong một vùng quê "chó ăn đá gà ăn muối" này. Dĩ nhiên không ngoài cái chuyện "mua bán, gán ghép" những đứa con lai còn sót lại sau cuộc chiến tranh. Nói đúng ra khi những cặp mắt "lùng sục" tìm ra những đứa con lai còn sót lại nơi "khỉ ho cò gáy"- một vùng quê sắn khoai còn thiếu, huống gì cơm.

Thời gian đó, khi những đứa con lai tại đô thành đã ra đi hết, thì những đứa con lai tại đây dù da đen cũng quý "hơn vàng". Suy cho cùng, da chúng 'càng đen' càng đúng "nai vàng chính hiệu" đó thôi.          

Thằng Đen (lại một thằng đen khác) lúc mấy tuổi còn đi giữ bò làm rẫy hắn có tên là Cu Đen. Hắn con mụ T. chịu vừa nghe tin chịu "làm chồng" con gái ông thầy thuốc thú y miệt dưới, tức là vùng Tân Thiện, để con ông được đi Mỹ theo diện con lai.


Đen coi như bắt đầu "đổi đời". Hắn đương nhiên bỏ nghề làm rẫy để bắt đầu "tập tành" nếp sống quá mới lạ đối với hắn. Thật vậy, từ lúc hắn sinh ra cho đến tuổi trưởng thành, hoàn toàn là những ngày cơ cực. Mười mấy năm, rẫy rừng làm bạn, hết cái roi giữ bò thì những ngày mót sắn, lượm chai trong rẫy.  Mẹ hắn do cái tình mẫu tử- "rứt ruột" sinh ra hắn nên cũng không quá bỏ bê hay hành hạ "núm ruột" của mình. Có những ngày mạ hắn đem Đen đi xin học, dù đã quá tuổi, từ lớp một cho đến lớp năm trường làng. Để bù lại, Đen lao động rất siêng năng để bù lại thời gian đi học. Rồi phải được ăn diện "ra phết" cho giống "rể nhà giàu" mới được con mắt. Giai đoạn này chuyện kiếm con lai để đi Mỹ chẳng ai dấu giếm nữa do những gia đình con lai đi Mỹ 'ào ào' ngày nào mà chẳng nghe trên mặt báo hay mấy câu chuyện ở quán cà phê cũng như ngoài chợ. Có một điều đặc biệt, Đen là "rể" trên giấy tờ thôi nên Đen  không bao giờ được "léng phéng" với con gái ông. Chuyện bàn soạn hai bên là chuyện giữa cha mẹ mà thôi.  


Người viết có một chút biết về Đen do hắn có học lớp ba do vợ người viết đi dạy ở vùng này. Nó cao nhất lớp; chuyện này không ai ngạc nhiên do nó là con lai; hơn nữa lại đi học trễ. Bởi cao nhất lớp nên lúc nào cũng ngồi sau cùng để khỏi che mắt bạn bè. Tội cho hắn, do tai nó điếc nhiều vợ tôi kêu lên bảng phải nhìn thẳng vào nó ra dấu, nó mới hiểu.

Trời bù cho, Đen viết chữ rất đẹp ai cũng khen. Mạ nó một thời chịu khổ, kỳ thị, khi đẻ ra nó; nhất là sau khi "thời thế đổi dời"(1975), nói sao hết truân chuyên đắng cay của một người đàn bà có con lai Mỹ?


Trời cũng bù lại cho mạ thằng Đen này. Sau đó Đen làm rẫy giỏi và học hành cũng "bò" lên được lớp năm trường cấp I. Hình ảnh cái trường rách nát tả tơi, một thằng con lai da lại đen nổi bật trong đám học trò nghèo. Ai cũng nghèo, không rừng thì rẫy. Nói chung người trong làng, ai cũng thân phận giống nhau, chẳng thấy "phân biệt kỳ thị" gì nó cả. 


Dù sao, Thằng Đen này tốt số hơn Thằng Đen trong phần đầu truyện. Sau này nghe đâu qua Mỹ, Đen cũng đàng hoàng "giữ lời", trả lại đời độc thân cho người vợ con nhà giàu đó và đường ai nấy đi.


Mạ Đen sau này nghe đâu có về thăm lại xã xưa Sơn Mỹ một lần duy nhất.  Mạ hắn không quên chuyện quà cáp biếu bà con quanh xóm, không sót một ai. Người viết còn biết, người mẹ này còn biếu cho Xã một cái T.V. thật to. Từ đó, không ai còn nghe tin Đen nữa. Bà con bên "vợ" nó cũng chẳng biết gì tăm hơi thằng Đen nơi quê huơng của cha hắn- một đất nước quá mênh mông xa lạ. May mắn thay, sau này tác giả bài này được tin Đen khá thành công, an phận nơi quê hương mới.

                                        ***
Chuyện hai Thằng Đen, hai cuộc đời nơi vùng đất cao khô cằn sỏi đá, là những mẫu chuyện buồn của những đứa trẻ lai bất hạnh, lạc loài. Chuyện chiến tranh tuy dài lê thê, nhưng ít ai kết vào Thiên Bi Hùng Sử Chiến Tranh của đất nước chúng ta vài mẫu chuyện nho nhỏ- chuyện buồn của những đứa trẻ lai mang hai dòng máu Mỹ - Việt sau ngày tàn cuộc chiến ./.

Đinh hoa Lư  EDITION

2/7/2022

ghi chú: tên của các nhân vật đã được thay đổi 

NHỮNG BUỔI CHIỀU XƯA

 


Có những lần đi bộ, ngắm ánh chiều dần buông trên triền núi phía xa, tôi chạnh nhớ về những buổi chiều vàng trên quê hương xa thẳm.
Đối với tôi, hai tiếng quê hương giờ trở nên trừu tượng. Quê hương có thể là những ngày thơ dại nơi chôn nhau cắt rốn; cũng có thể là đất mới phương nam, lưu dân Quảng Trị đã chọn sau ngày ly tán. Trong tôi, quê hương còn là hình ảnh những buổi chiều vàng khi ánh nắng thoi thóp của một ngày tàn còn vương đọng trên những mãng đồi sim. Chiều tàn như thôi thúc người tù mau chân vác cây về trại khi trời kịp tối...
Có rất nhiều những buổi chiều vàng trong dĩ vãng. Chúng lưu dấu cho nhiều hoài niệm khác nhau. Thời gian cuồn cuộn trôi nhanh, xô đẩy dòng đời vào nhiều lối rẽ.
***
Tôi nhớ làm sao những buổi chiều, một thời con nít, tuổi bé thơ hồn nhiên vui thú đó là những ngày rong chơi đá dế, thả diều.
Trời trở nồm vài ngọn gió từ mạn biển thổi lên, khi ánh nắng Nam Lào bớt gay gắt là lúc những cánh diều bọn tôi tha hồ bay bổng trên cánh đồng còn trơ gốc rạ.



Từ Cửa Lao Xá, Thành Cổ theo con Đường Ngự ra cánh đồng Hạnh Hoa là nơi bọn trẻ trong xóm chúng tôi làm nơi thả diều thi tài cao thấp. Cánh đồng giáp giới con đường Lê Văn Duyệt, ba tháng mùa hè trống không nhìn thẳng về bờ tre Xóm Tiêu, An Tiêm hay Ba Bến Trí Bưu còn rõ nét. Ruộng này chờ cày đất, đập bằng vồ, sau đó chờ nước từ sông Vĩnh Định lên cho vụ lúa. Nhưng bấy giờ cánh đồng là lãnh thổ của trẻ con chúng tôi làm bãi thả diều.
Ngày xưa chỉ ngần ấy thú chơi, nhưng lứa chúng tôi sao thương yêu nó đến thế? Những cọng tre chuốt mỏng, công phu mềm mại. Những đồng bạc nhịn ăn hàng, tôi mua cho được giấy bóng màu hồng hay xanh cùng cuộn dây gai, lọ hồ, lên tận Chợ Tỉnh mới có. Con diều dán bằng giấy vở, hồ bằng cơm nguội thì thuộc loại thô sơ hay "hết thời" không ai chơi? Những con diều màu mè, bay cao hơn, chắc chắn, có dây gai. Chúng đã tiến hay khá hơn nhiều, là niềm kiêu hãnh cho ai làm chủ nó, trong đó có tôi.
***
DIỀU NGƯỜI LỚN
Tôi không thể nào quên được thứ diều của người lớn, nếu không muốn nói của các cậu tôi. Diều người lớn cũng được thả trên cánh đồng này. Cánh đồng rộng lớn từ xóm Tiêu trải dài tận Hạnh Hoa. Con diều người lớn phải có đồng rộng để làm bãi phóng nó lên. Diều còn mang trên lưng tới ba ống sáo, bay cao 'tận mây'. Thật quá thích, mỗi lần tai tôi nghe được tiếng sáo diều. Tiếng kêu o o như từ trên mây vọng xuống,
Tiếng sáo diều sẽ kêu suốt buổi những khi trời no gió. Ngắm con diều người lớn làm, lòng tôi ước ao thán phục. Cuộn dây gai to lớn đã tuôn ra hết cỡ, sợi dây cong cong cao lên tận con diều đang căng gió phất phơ. Chỉ có các cậu tôi mới cẩm nỗi con diều này. Con nít chúng tôi chỉ có chạy theo, không đứa nào được cầm. Nếu có muốn , chẳng ai cho?
Diều đã lên cao bình yên, thỉnh thoảng lại chao chạnh qua lại theo hướng gió. Yên tâm, cậu tôi kéo diều về nhà. Buộc một đầu dây vào cột hiên, mặc cho con diều đu đưa mãi trên cao với tiếng sáo văng vẳng vọng xuống. Có con diều này, các cậu tôi xem chừng hãnh diện. Có khi các cậu để vậy suốt đêm. Nếu muốn ngưng chơi, con diều sẽ từ từ bị thu ngắn dây lại. Sợi dây ngắn dần, con diều mỗi lúc một to. Tôi cảm thấy chút nào hồi hộp khi Diều trở xuống. Diều đã về nhà, sau một buổi chiều bay bỗng trên đám mây cao. Đối với tôi, nó y như trở về 'từ chốn thần tiên' vậy.
***


Theo lưu dân Quảng Trị xa lìa quê cũ. Từ Mùa Hè đó ra đi, người Quảng Trị trong đó có tôi vĩnh viễn chia tay những buổi chiều vàng quê hương. Người đi không bao giờ còn có cơ hội thấy ánh tà dương được từ từ chìm hẳn dưới rặng Trường Sơn để lại những vệt sáng vàng vọt mờ dần trên nền trời phía tây.
Rồi một miền nam mưa nắng hai mùa. Người quê tôi sẽ dần dà yêu thương quê hương thứ hai này.
Miền nam trở thành hai tiếng thân yêu không biết lúc nào? Quê hưong mới chở che cho người dân mất đất. Nơi đây lại có những buổi chiều vàng. Người làm ruộng về nhà, để lại phía sau rơi rớt vài vạt nắng cuối ngày trên đồng lúa vừa cắt. Người tiều phu nhanh chân vác rìu ra khỏi rẫy. Rừng còn buông lơi bao làn khói xám, nhẹ bay trên cánh rẫy cuối ngày. Lũ mục đồng vội lùa bò về làng, trả lại cảnh rừng tối thẩm phía sau. Buôn bán tảo tần đường xa, có anh thương nhân đang gò lưng đạp nhanh xe mong sớm về nhà khi ánh chiều dần dà tắt hẳn trên dặm đường gió bụi...
***
Thời gian mãi trôi với bao buổi chiều vàng như thế. Bao kỷ niệm, bao mảnh đời cùng sánh vai nhau lùi lại phía sau. Có lúc nào ta dừng chân nhìn lại phía sau để đếm được cuộc đời đã qua mấy buổi chiều vàng? Từng vạt nắng 'thi ân' lên ngàn cây nội cỏ trước khi bóng tối phủ trở về rồi lại có ánh dương rực rỡ của bình minh.
Riêng trong tôi vẫn thương mãi những buổi chiều vàng ngày xưa khi nhiều cánh diều bè bạn bay cao. Tuổi nhỏ mãi rong chơi cho đến khi có tiếng mạ gọi con vang vang trong xóm. Trên cao tiếng sáo của con diều cậu tôi vẫn mãi ngân nga ./.


Tuesday, April 27, 2021

TỪ CHUYỆN CƠM CHÁY: HẬU QUẢ CỦA KHỦNG HOẢNG VỊ GIÁC






 Thời đại cơm cháy lên ngôi

Trong các thực đơn tại các tiệm ăn hiện nay món "cơm cháy' cũng là một món đặc biệt dành cho khách sành ăn. Trên các show TV người Việt hải ngoại, các Đầu Bếp (Cook) còn biểu diễn món cơm cháy ví dụ cơm cháy với cá Salmon 

Trong các món cơm cháy hiện nay người ta thấy "ngon" do nó lạ? Nhưng thực chất nó chỉ là dạng cơm dòn do bị nướng hay hạt cam đã bị rang nổ 

Thực ra vài năm trước phong trào cơm cháy đã có nghe với dạng cơm cháy hành phi sau này các tiệm ăn thêm thắt vào menu này cho nó phong phú thêm và các đầu bếp có tiếng lại nghĩ ra cách câu thêm khách bằng các kiểu lạ hơn 

Nhưng nói gì thì nó đây là hậu quả của tâm lý dư thừa sinh ra cả.

KHI NGƯỜI TA DƯ THỪA ĂN GÌ CŨNG KHÔNG THẤY NGON DÙ GAN RUỒI MỠ MUỖI 

CŨNG VẬY THÔI 

Thời đại thông tin chúng ta biết những thứ như dế, cào cào chiên hay bò cạp nướng cũng thành ĐẶC SẢN ? 

Một thời đại cái vị giác của con người đang bị 'tàn phá' do bị lạm dụng đã khiến sự thưởng thức của con người bị phá hoại từng ngày? 

Người ta có thể phì cười do ý tưởng này. 

NHƯNG ĐÂY LÀ MỘT THỰC TẾ, DÙ CHUA CHÁT 

HÃY ĂN KHI ĐÓI, HÃY THƯỞNG THỨC KHI CƠ THỂ BẠN ĐANG CẦN THỨ GÌ ĐÓ đây là lúc vị giác của bạn làm việc xứng đáng với nhiệm vụ của nó. 

Nếu cơ thể bạn đang dư thừa, đang cần tiết giảm ăn uống thì nhà hàng nào, đầu bếp có giỏi cỡ nào chỉ làm bạn khen và thích một đến hai lần thôi. 

Một giai đoạn của câu CƠM DẺO CANH NGỌT bây giờ đang đà xuống dốc để nhường chỗ cho CƠM CHÁY lên ngôi?



Đầu Bếp Lâm Hiền giới thiệu CƠM CHẤY CÁ SALMON VỚI SAIGON TV

*

Viết ngang đây tôi chợt nhớ đến hai hình ảnh trái ngược của dư thừa và thiếu thốn. 

Nạn Béo Phì của con nít Mỹ. Nước Mỹ đang hoảng sợ với tỷ lệ BÉO PHÌ CỦA TRẺ EM HOA KỲ CÀNG LÚC CÀNG TĂNG. CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC, VÀ LÀM CHÍNH SÁCH ĐANG KÊU GỌI CÙNG LÚC BÁO ĐỘNG NƯỚC MỸ HÃY CỨU LẤY THẾ HỆ TƯƠNG LAI 

Hậu quả của dư thừa, và người Mỹ chưa biết đến ảnh hưởng vô cùng TIÊU CỰC CỦA DƯ THỪA TÁC HẠI THẾ NÀO ĐẾN THẾ HỆ TƯƠNG LAI 

Nhưng điều trước tiên nói về vị giác thì chúng ta chắc chắn rằng sự 'bất hạnh' của các em thiếu nhi Mỹ này đó là CÁC EM KHÔNG BIẾT THẾ NÀO LÀ CHỮ NGON CẢ.



Tôi lại liên tưởng đến hình ảnh ĐÓI KHÁT CỦA CÁC EM NHỎ PHI CHÂU dưới dây. Các dỉa thức ăn từ thiện dưới này dù không có những cái bánh McDonald Béo Ngậy, hay THỊT CHIÊN THƠM PHỨC chỉ cháo và đậu thôi nhưng các em nhỏ bất hạnh PHi CHâu này sẽ có CÁI CẢM GIÁC NGON LÀNH VÔ CÙNG 

LÝ DO: Các bộ xương biết di động này ĐANG ĐÓI KHÁT VÀ ĐANG CẦN CÁI ĂN 

LÚC NÀY DÙ CHỈ LÀ CỌNG CỎ THÔI NHƯNG CÁC EM BÉ PHI CHÂU NÀY CŨNG CÓ HƯƠNG VỊ VÀ CẢM GIÁC NGON LÀNH SẼ DIỄN ĐẠT TẬN CÙNG Ý NGHĨA 

Schoolchildren in the Amboasary-South district of Madagascar eat lunch provided by the World Food Programme. Photograph: Rijasolo/AFP/Getty Images
các em học sinh tỉnh Amboasary South của nước Madagascar PHi châu đang ăn buổi trưa từ thiện của Chương Trình Thực Phẩm Thế Giới 

***

Vị giác của bạn có thể bị đánh mất khi bạn quá dư thừa. Người ta không bao giờ thỏa mãn theo nhu cầu thưởng thức khi vị giác đi vắng. 

Chớ chạy theo cái lạ hơn, cầu kỳ hơn trong vấn dề ẩm thực mà hãy duy trì tính truyền thống của ẩm thực.




Triết Gia thời cổ đại là Socrates ông sinh năm  469 và mất năm 399 trước Công Nguyên, nói: CÁC NGƯƠI ĂN ĐỂ SỐNG CHỚ SỐNG ĐÊ ĂN Ngay cả Moliere nhà kịch nghệ Pháp (1622- 1673) cũng có ý tương tự.

Nếu SỐNG ĐỂ ĂN thì cho đến một thời điểm nào đó VỊ GIÁC SẼ BỊ THOÁI HÓA VÀ BIẾN MẤT DO HẬU QUẢ CỦA LẠM DỤNG

Cho đến lúc này dù có tìm ra GAN RUỒI MỠ MUỖI CON NGƯỜI CHÚNG TA SẼ CHÀO THUA 

Một sự MẤT MÁT KHỐN CÙNG ĐẾN DO TA CHẴNG BIẾT ĐÂU LÀ ĐIÊM DỪNG CHÂN CỦA TÂM LÝ THÕA MÃN ./.


ĐHL 27/4/2021


Wednesday, April 7, 2021

TRONG RỪNG THANH HÓA

 


 cánh rừng lim mênh mông thành hồ nước bao la
Hồ sông Mực hiện nay Như xuân Thanh Hoá chụp từ vệ tinh


CÁI  ĐÓI CỦA NGƯỜI TÙ BINH TRONG RỪNG THANH HÓA




  Bình thuờng khi đói người ta càng ăn ngon miệng và sẵn sàng ăn ngay để đáp lại nhu cầu cơ thể . Đây là chuyện trong đời sống bình thuờng , vì lỡ hay bận việc chúng ta chưa kịp ăn.
Nhưng có những trường hợp trái ngược : đói mà chưa dám ăn ngay vì 
cái được ăn nó quá hiếm hoi ít ỏi, biến mất quá nhanh trước những cặp mắt háu đói lâu ngày
    Câu chuyện này được kể lại mà người viết là chứng nhân và cũng cùng chung số phận trong quá khứ .


                                             ***

Gió đón mưa về thêm đau thương trần thế
Người bước năng nề, tìm chưa thấy tình quê
Ai đã thề mà ai đã thề
Có hồn thiêng dẫn mẹ đang còn nghe
...(Gió Núi Mưa Rừng / Huỳnh Anh )


Huyện Như xuân-Thanh hóa đầu năm  1978

  Giờ ăn trưa,  rừng vẫn còn nhả khói. Làn mưa xuân nhè nhẹ trong cái lạnh miền núi cao, tất cả không đủ làm tắt những đống lửa khổng lồ do vô số gỗ cây đang bị khai hoang và đốt dọn. Trai, người tù binh chậm rãi khều từng cục than từ đống  lim và trường mật đang ngùn ngụt cháy cho vừa đủ độ nóng để nướng miếng bánh mỳ luộc, khẩu phần ăn trưa cho mỗi người tù cải tạo tại chốn này, miền núi huyện Như xuân tỉnh Thanh hóa.  Sau những giờ vật lộn với từng cây lim và trường mật khổng lồ Trai cùng các bạn tù khác, ai cũng mong đợi nhận khẩu phần trưa-mỗi một miếng bánh mỳ luộc lớn non lòng bàn tay, dày na ná một phân tây. Tuy đơn giản vậy mà nó là niềm mong đợi của tất cả mọi người. Người tù nhận nhiệm vụ gánh bữa trưa ra cho toán tù làm rừng, vừa đặt gánh xuống. Một đầu là thùng nước nấu với lá ngái rừng, đầu kia là một cái thúng đựng những lát bột mì luộc. Mỗi người sẽ lãnh một lát mì này cho buổi ăn trưa. Chẳng còn gì hơn nữa, trước bao cặp mắt háu đói của anh em...


      Trước khi nướng miếng bánh, Trai cẩn thận lấy mũi rìu rạch từng ô vuông nho nhỏ, anh rạch cả hai mặt của miếng bánh mỳ đó. Vừa thong thả làm anh vừa tưởng tượng miếng bánh sẽ phồng rộp lên, phơn phớt vàng dưới hơi nóng của lớp than hồng, sự hấp dẫn đó làm anh nuốt nước bọt mấy lần. Nhưng than phải trãi mỏng thôi vì nhiều than quá sẽ thiêu cháy miếng bánh quý giá đó mất. Chiếc que để xiên miếng bánh, Trai vót từ thân cây lụi, một thứ cây mà người dân Huế nơi quê T dùng để làm nan quạt. Tiếng than nổ tí –tách, đống gỗ rừng vẫn còn cháy ngùn ngụt. Tất cả cánh rừng lim này phải bị chặt hạ và đốt cháy thành bình địa, sau này nơi đây sẽ biến thành lòng hồ mênh mông. Công trình này được gọi là ‘Công Trường Giải Phóng Lòng Hồ Sông Mực" nó sẽ đem nước về huyện Diễn châu tỉnh Thanh hóa. Rừng mênh mông, đa số là thứ gỗ lim cứng như thép nguội mà xưa kia danh tướng Ngô Quyền đã dùng đóng cọc dưới lòng sông Bạch đằng và đã phá tan tành quân xâm lăng Nam Hán. Giờ thì những cánh rừng lịch sử và quý báu này đang bị phá hủy một cách  tàn khốc. 


   Giờ người tù binh tiếp tục trở hai mặt của miếng bánh trên mặt than, tay của T đều đặn đưa miếng bánh qua lại thật đều và mềm mại như bàn tay của một người "vũ nữ điệu nghệ". Thật ra miếng bánh đã vàng lắm rồi! thơm lắm rồi !  nhưng T chưa muốn ăn ngay như sợ mất đi "một vật báu trên đời" và như T muốn kéo dài việc nướng bánh để hương thơm đó bốc lên tận cùng của khứu giác.  T thở dài vì  không thể kiên nhẫn kéo dài thời gian thêm được nữa,! T cắn một miếng bánh. Quanh T mấy bạn tù cũng đang loay hoay nướng bánh giống y T, không ai để ý đến ai. Mọi người đồng mang một ý tưởng là muốn kéo dài 'sự hiện hữu" của chiếc bánh để mà ngắm, không ai muốn nó "chui  nhanh"  vào những cái dạ dày "lép kẹp"  lâu  ngày.

    Giờ anh từ từ nhai, cử động nhai xem chừng cẩn thận - rành rẽ không kém lúc nướng chút nào. Trai cố cho nước bọt của mình thấm thật đều, thật nhuyễn vào lượng bột của miếng bánh. Trai đang tạo cho chiếc lưỡi của mình một cảm giác thật ‘hưởng thụ’ thật ‘đê mê’ đến tận từng tế bào vị giác. Người tù không muốn hấp tấp để khối bánh đã được nhào nặn với nước bọt của T xuống nhanh qua cổ họng của mình. Cái dạ dày trống rỗng khốn nạn  thỉnh thoảng lại kêu lên "ồn -ột"...đó là âm thanh anh nghe và ai đang gần hay nghe lúc Trai đói bụng. Anh nhớ lại chứng bệnh này xảy ra từ lúc trại Ái Tử đi làm ruộng muối ở thôn Hà La - Cửa Việt.


      Trai đưa mắt nhìn lên từng ngọn đồi trơ trọi , cháy loang lỗ, toang hoác, hai bên còn nhiều mảng rừng tiếp tục phải bị chặt hạ và đốt sạch. Mấy dãy núi bao quanh trông giống như một lòng chảo, mai đây nước sẽ dâng cao, người ta sẽ thả lưới đánh cá nên mặt đất bắt buộc phải sạch gốc cây. Đây là điều vô phúc, ai rủi để gốc cây còn cao thì phải khuân củi tới đốt cho gốc cây đó cháy ra tro bụi mới thôi. Sao cũng được, T nghĩ-nhưng khốn nạn nhất là sự hành hạ của cơn đói, nó cứ kéo dài tháng này qua năm khác. 
 

 

di ảnh người bạn Bùi băng Bim bạn tù cùng lán trại với tác giả ĐHL


    Trai tiếp tục nhai. Giờ thì Trai ‘cho phép’ mình được nuốt. Hàm dưới của anh đưa qua, lại chậm rãi.  Mắt anh nửa như lơ đảng hay  lờ đờ chẳng khác chi "cụ trâu già" xong buổi cày, đang nằm nhai lại dưới bụi tre làng. Ta có thể tạm cho anh đang nhìn gì đó nhưng thật ra anh chẳng phải nhìn? Trai nghĩ về hình ảnh cái chết của bạn tù Bùi  Bằng Bim, cùng ‘lán’ với anh.  Bim tối đó, đã dùng dây điện thoại liên lạc của hai trại 1 và 4 tự mình treo cổ chết trong rừng. Một đêm cả trại đổ xô đi tìm Bim.Trại 4 báo động.Trong ánh đuốc bập-bùng, Trai thấy hai mắt Bim tuy chết nhưng còn hé mở. Lưỡi anh hơi nhô ra. Cuối cùng trại xác minh cái chết của B là treo cổ tự vẩn.  Hình ảnh hai năm trước, khoảng thời gian 1975-1976 khi hai đứa cùng ở tù Ái Tử, Quảng Trị, ngày đó Bim khá còn vui vẻ.  Mỗi lần đi rừng kiếm được cây gỗ nào đẹp và thẳng Bim  huýt sáo luôn miệng. Ngày tháng đó, tuy từng gánh củi nặng chĩu trên vai hay những khi mưa gió phải lặn lội tìm gỗ trong rừng hai đứa không quên chia nhau từng nắm rau tàu bay cùng rau má.  Có lần Bim đi rừng về lượm đâu được mảnh nhôm đạn pháo sáng. Anh chờ dịp nghỉ lao động vội đem nó ra giũa, mài thành một chiếc lược nhôm thật đẹp. Dịp rảnh rang  khác Bim lại đem lược ra, tỉ mỉ chà lại thật bóng. Trai không ngờ Bim ngóng ngày người yêu của  ở Huế ra thăm. Rồi anh sẽ tặng nàng chiếc lược của tù để nàng làm kỷ niệm.

    Hết nghĩ đến cái chết của Bim, Trai lan man nhớ đến cái chết của Đại úy Trần hữu Lực, rồi Trung Úy Nguyễn Di, Trại Một bên kia. Chết vì  "ăn nhầm gan cóc", người thì ốm đau.  Thế là hết! các anh  vĩnh viễn chẳng còn dịp trở về sum họp  với gia đình. 

 
 Lòng Hồ Sông Mực ngày nay (năm 2000) trông nên thơ nhưng đã phủ lấp bao nấm mồ người tù binh VNCH

    Có tiếng con tắc-kè kêu phá lên từ bộng cây lim đằng kia, đưa Trai về thực tại. Còn ít phút nữa, đám tù sẽ tiếp tục công việc. Một vài người còn gắng kiếm thêm vài nắm nấm rừng, thứ nấm tù đặt cho cái tên “nấm dai” do chúng dính cứng thân cây gỗ mục. Họ sẽ kiếm làm sao cho đầy cái lon ‘gô’ đen đầy lọ nghẹ. Chiều hết làm, về lại trại ai cũng bỏ chung với phần ăn chén cơm trộn bắp.  Buổi ăn chiều như thế nếu thêm nước vào nấu thành cháo nấm, cho no bụng. Đêm lạnh và dài, cháo nấm sẽ giúp đám tù bằng sự no nê giả tưởng. Dù sao có còn hơn không. Nấm hay bao môn thục, rau rừng là cứu tinh là bạn cho tù. Trước mắt Trai, hình ảnh quen thuộc vào những phút giải lao trong rừng, số bạn tù thật nhẹ nhàng, thật khéo, đang gỡ từng tai nấm. Giữa khung cảnh ngổn ngang cây gỗ của cánh rừng đang bị triệt hạ,  hình ảnh những con người đang đói. Tất cả đều gầy guộc trong những bộ áo quần tù trông rất ‘quái lạ’: đằng trước nửa xanh nửa trắng, phía sau lưng nửa trắng nửa xanh. Áo quần quái dị như vậy, chẳng ai dám trốn vào đâu? Tuy vậy, gai rừng ‘chẳng tha’, gai rừng từng làm rách tơi tả thứ vải tù mỏng manh kia.

    Rừng vắng lặng, đám người cũng im lặng lủi thủi đi tìm cái ăn trông như những bóng ma nơi rừng thiêng nước độc.

     T bỗng nhếch mép cười một mình khi nghĩ đến thứ trái cây lạ trong rừng. Bữa đó, mấy anh em liều lĩnh ăn xong thấy không chết mới hỏi nhau trái gì đây? ai cũng không biết;đành tạm đặt cho nó cái tên là ‘Trái Hết Sẫy’. Ơn rừng ở đây cho mấy thứ để ăn như măng nứa, môn thục dưới khe, nấm dai từ cây gỗ mục. Có người còn tìm ra loại cây leo cam thảo nấu ra sắc đỏ vị ngọt cũng tạm khỏi nhớ chất đường. Có ai đó còn tìm ra thứ cây giống cây quế, cạo vỏ ra nhai thấy cay cay. Một buổi tối nghe lao-xao có mấy người còn vớ được một mớ hạt sót nơi "đống phân voi" để lại; nhưng ăn được hạt sót cũng lắm công phu, phải nấu chín chà cho tan lớp vỏ ngoài còn hạt ở trong phải nấu kỹ rồi rang lại một lần nữa mới ăn được. Có lần T cưa cây, cả tổ gặp may khi cưa bộng cây có một tổ ong muỗi, thứ ong này nhỏ hơn cả ong ruồi, rũi thay gặp lúc ong con đã nở hết vì vậy mật không còn nữa thế mà ai cũng tiếc rẻ chia nhau mỗi người một ít sáp ong còn lại. Sáp khá chua nhưng dù sao cũng phảng phất một ít hương vị mật ong, đó là chất bổ dưỡng , là chất sống , cho những người đang hồi suy kiệt đang khát khao mọi thứ khả dĩ bỏ vào được trong miệng , và sau hết vì ai cũng còn muốn sống để hi vọng có ngày trở lại miền Nam.


                               cái lon GÔ đầy kỷ niệm

    T nuốt miếng bánh cuối cùng xuống cổ họng, theo thói quen T  với ‘gô’ nước cam thảo lên miệng, chợt T ngừng tay lại. T  ngừng tay, một thoáng ngừng khốn khổ và tội nghiệp; nó bắt nguồn từ hai ý nghĩ đối nghịch: nửa thì Trai muốn lưu lại hương vị miếng bánh trên lưỡi, nửa kia anh  muốn ‘gô’ nước vào thật đầy trong bụng, rồi thứ bột mỳ đó sẽ thấm nhiều nước hơn và "trương phình ra "  như thế T sẽ no hơn dù biết đó là sự "no nê giả tạo" !

      Trai giờ đây đã đứng hẳn dậy, tay cầm lại cái rìu. Chống rìu, một thoáng T ngước lên ngắm bầu trời.  Những cơn mưa phùn giờ đã dứt, bầu trời trong sáng trở lại .  Những đám mây trắng  bay bềnh bồng  dưới khoảng trời xanh rộng thênh thang làm  T  ước sao  mình được  biến thành những đám mây trắng kia,  được  "thảnh thơi phiêu du"  bay về  phương nam -  nơi đó có Huế quê huơng yêu dấu và những người thân  đang mong đợi anh về  ./.


Đinh Hoa Lư 

Edition 7/4/2021

TỪ IRAQ TỚI IRAN TT TRUMP VẪN MỞ CÁI HỘP PANDORA trong HUYỀN THOẠI

     CHÀO bạn đọc       Cuộc tấn công của khủng bố Hồi Giáo vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đánh vào nước Mỹ từ đó đã định hình chính sách ngoạ...