Saturday, January 11, 2025

CHÍNH KHÁCH VĨ ĐẠI PHẢI ĐI ĐÔI VỚI NHÂN CÁCH LỚN

 

HÌNH

Ông Jimmy Carter, cựu tổng thống Mỹ một nhiệm kỳ nhưng được nhiều người ngưỡng mộ cho công việc nhân đạo của ông sau khi rời nhiệm sở, đã được tưởng nhớ đến trong lễ quốc tang hôm 9/1 như một người đặt sự trung thực và tử tế lên trên chính trị đảng phái.

Trong bài điếu văn, Tổng thống Joe Biden đã ca ngợi vị tổng thống thứ 39, người đã qua đời vào ngày 29/12 năm ngoái ở tuổi 100. Ông Biden nói rằng cuộc đời của ông Carter là ‘câu chuyện về một người  không bao giờ để những cơn sóng chính trị đẩy ông khỏi sứ mệnh phục vụ và định hình thế giới’.

“Một người có nhân cách,” TT Biden nói. “Ông cho chúng ta thấy nhân cách và niềm tin bắt đầu từ chính chúng ta và sau đó lan tỏa đến người khác như thế nào.” (theo VOA/ 11/1/2025)...

================= 


Chào bạn đọc

Chính khách và sự vĩ đại ngày xưa là BIỂU TƯỢNG mà giờ đây nếu không lầm đang bị giới chính trị gia hiện đại cố tình đem vào chưng vào tủ kiếng lịch sử.

Dựa vào hay cố tình lợi dụng vào thời đại thông tin Internet hay lợi điểm của Kỹ Thuật Số, giới chính khách ngày nay càng lúc càng gia tăng, bắt chước nhau cùng dối trá lừa phỉnh dân chúng hầu kiếm phiếu cho bản thân để chiếm đoạt cho được ngôi vị quyền lực dù bất cứ thủ đoạn nào. Sự thật trần trụi ngày nay càng lúc càng nhiều, khiến các chính trị gia không còn biết lòng tự trọng và sự liêm sĩ là gì nữa? 

Có thể không là cường điệu hay quan điểm tiêu cực nếu chúng ta công tâm theo dõi tình hình chính trị thời hiện đại. Thời thế tạo 'anh hùng' hay thời thế hiện nay đang tạo nên nhiều tên hoạt đầu hay thao túng cùng dối gạt quần chúng về chính trị? 

Chuẩn mực của họ là chiến thắng chính trường và lợi nhuận. Khi sự xấu xa đều phủ lên quá nhiều khuôn mặt điển hình chính trị thì không ai còn biết hổ thẹn là gì? 

Lừa dối, phủ nhận cùng cường điệu hay nói xấu là thủ thuật chung cho phần nhiều chính khách. Nói về dối gạt thứ chính khách 'ma đầu' hiện tại thường áp dụng chiến thuật 'nói dối triền miên' để trở thành một 'sự thật' dù sự thật đó bỉ ổi tới đâu?

Đối với loại chính trị gia 'ma đầu' thì lừa gạt hay đại dối trá triền miên là chiến thuật chính trị để chiến thắng cuối cùng. Hậu quả thể chế hay thượng tầng kiến trúc là thảm nạn do dần dà họ trở thành một tập đoàn lừa dối dân chúng và đất nước khi chiến lược chính trị đầy ắp một thứ 'VĂN HÓA TUYÊN TRUYỀN' . Trong cạnh tranh chính trị do cứu cánh của họ là chiến thắng quyền lực chỉ một mục đích cuối cùng là phục vụ cho đam mê bản thân hơn là phục vụ đất nước.

Ngày 19 tháng 11 năm 1863, cố Tổng thống Abraham Lincoln đã có bài phát biểu trước 15.000 người tụ họp để tham dự lễ khánh thành Nghĩa trang Quốc gia Chiến sĩ tại Gettysburg, tiểu bang PA. Trong đó có câu nói trở thành tinh thần nước Mỹ khi cố TT Lincoln  nhấn mạnh chính phủ nước Mỹ là chính phủ "..của dân, do dân và vì dân.."



Chính quyền CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN hiện tại đã bị chuyển hóa thành sáo ngữ do thực tế chính trị hiện tại nhất là Hoa Kỳ khó tìm lại được hay bị số đông chính khách nhóm lãnh đạo cố tình vứt vào sọt rác từ lâu.

Sự thui chột của tai mắt người dân từng bị lợi nhuận của giới truyền thông hiện đại hướng dẫn sai lạc khiến hàng trăm triệu người dân càng ngày càng bị các kết quả bách hại từ chứng ung nhọt chính trị xấu xa gây ô nhiễm càng lúc càng nặng nề khó bề cứu chữa. 


Cho đến một giai đoạn kinh hoàng hơn khi đa số cử tri đều phớt lờ trước tội lỗi hay sai lầm của chính khách dối trá thủ đoạn lại lấy đó làm một 'MẪU MỰC TỘI LỖI' hòng che chở tiếp viện cùng bênh vực. 



Ngày 9-1, Tổng thống Mỹ đương nhiệm Joe Biden, Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump và 3 cựu Tổng thống gồm ông Barrack Obama, ông George W Bush và ông Bill Clinton đã cùng tới dự tang lễ cố Tổng thống Mỹ Jimmy Carter, tại Nhà thờ quốc gia Washington (ở thủ đô Washington D.C, Mỹ), theo hãng tin Reuters.


Chứng ung thư về chính trị từ đó di căn đến giai đoạn làm suy yếu luôn chính thể dù la một cả siêu cường là điều khó tránh. 

Tại sao có một nền chính trị cực đoan và bạo tàn? Lịch sử từng chứng minh rằng các bạo chúa hay nhà độc tài thế giới những lúc phát khởi đầu tiên là họ đã LỪA GẠT ĐƯỢC DÂN CHÚNG. Quần chúng trong lịch sử nhân loại từng bị một thời bị thôi miên và lừa gạt và cho đến nay dù là thời hiện đại nhưng HỘI CHỨNG BỊ THÔI MIÊN VÀ CUỒNG SI CHÍNH TRỊ KHÔNG HỀ THAY ĐỔI

Dù xưa hay nay khi quần chúng bị mê hoặc và thôi miên thì thảm nạn xã hội khó bề tránh né được. Hậu quả cuối cùng cho toàn thế giới lúc nào cũng có những đáp số kinh hoàng.

Các cuộc chiến cổ đại, những cuộc THẾ CHIẾN ĐỀU LÀ HẬU QUẢ DO TỪ CÁC ĐIỀU NÓI TRÊN.

Đối với Chính Khách trên thế giới nói chung những ai có nhân cách càng vĩ đại thì lưu danh muôn thuở. Ngôi vị quyền lực chỉ là tạm bợ chỉ có NHÂN CÁCH VÀ LÒNG TỰ TRỌNG YÊU DÂN THƯƠNG NƯỚC LÀ MÃI TRUYỀN NGÀN SAU những loại con buôn chính trị, những ma đầu gian xảo đại láo lừa gạt dân chúng tuy bước đầu họ có thành công nhưng sự thành công này chỉ là tạm bợ rồi tiếng xấu của họ cũng bị lịch sử phán xét và lưu xú ngàn sau.


HỔ TỬ LƯU BÌ NHÂN TỬ LƯU DANH 



TT Jimmy Carter và giải Nobel Peace Prize Ceremony, Oslo City Hall, Dec. 10, 2002. theo VOA...
Khi đó cộng đồng quốc tế đã triệu tập hội nghị về người tị nạn ở Geneva và ông Carter đã là nguyên thủ đầu tiên cam kết tăng số người tị nạn mà Mỹ tiếp nhận...

theo Ông Lê xuân Khoa ‘Hành động can đảm’

Giáo sư Lê Xuân Khoa ở bang California, người từng đứng đầu một trung tâm tư vấn về chính sách đối với người tị nạn dưới thời Tổng thống Carter, nói với VOA rằng ‘tất cả người Việt tị nạn đều nhớ ông Carter là một ân nhân’.

Ông Khoa nhắc lại lịch sử là vào năm 1979 khi mà làn sóng thuyền nhân Việt Nam ồ ạt đổ đến các nước đông nam Á, ‘đã có nhiều tàu tị nạn bị kéo trở lại ra biển và còn dọa bị bắn khiến cho nhiều người tị nạn đã chết’.

Khi đó cộng đồng quốc tế đã triệu tập hội nghị về người tị nạn ở Geneva và ông Carter đã là nguyên thủ đầu tiên cam kết tăng số người tị nạn mà Mỹ tiếp nhận từ 7 ngàn lên 14 ngàn người một tháng, tổng cộng 168 ngàn người một năm, ông Khoa kể lại những con số mà ông ‘nhớ rất rõ’...

Cựu tổng thống Jimmy Carter đã giúp hàng trăm ngàn người tị nạn Việt Nam đến Mỹ và thiết lập nền tảng để Mỹ tiếp đón người tị nạn về sau mà nếu không có ông thì đã có biết bao nhiêu thuyền nhân Việt chết trên biển, những người nắm rõ vấn đề trong cộng đồng Việt Nam cho biết...(VOA)


Câu trên không là sáo ngữ mà là sự thật. Cố tổng thống Jimmy Carter một con người nhân hậu, phục vụ dân không vì lợi ích hay quyền lực cá nhân. Ông từng nhận giải Nobel Hòa Bình vào năm 2002 và từng là ân nhân của Thuyền Nhân Việt Nam sau tháng Tư Đen 1975. 

Gia tài sản nghiệp của cố TT Jimmy Carter dù là một đại phú nông về đậu phụng, khi ông rời Bạch Ốc theo báo cáo hiện nay chỉ vỏn vẹn 10 triệu Mỹ Kim một con số khiêm nhường so với các chính khách tỷ phú hiện đại?

Giàu có tới đâu, khi từ giã cõi đời không ai mang theo được gì? 

Sinh không tử lại hoàn không!

Chỉ có TIẾNG THƠM nói cho cùng là NHÂN CÁCH chính đây mới tạo được một di sản quý báu cho muôn đời con cháu mai sau.

DÙ TÂY HAY ĐÔNG DÙ XƯA HAY NAY CÁC VĨ NHÂN THƯỜNG LÀ NHỮNG BẬC CÓ NHÂN CÁCH VĨ ĐẠI ĐỂ TIẾNG THƠM MUÔN ĐỜI CHO HẬU THẾ NOI THEO, LƯU DANH SỬ SÁCH.


ĐHL 11/1/2025



HÌNH ẢNH THẬT CỦA VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC

 

các thế hệ máy chụp hình cũ dùng phim cuộn, nay đang vào quên lãng 

 Bạn đọc thân mến

Chứng liệu lịch sử nước ta qua hình ảnh vẽ lại đôi lúc nó không đúng lắm. Nhờ vào kỹ thuật thuật số, hiện nay qua trí tưởng tượng làm lớp con cháu hiện nay có thể tưởng tượng tiền nhân sau khi được kỹ thuật số 'màu mè' thêm làm cho chúng ta khó có thể hình dung ra hình ảnh thật người xưa.  

 Có điều may mắn nhờ vào những tài liệu chính thống của người Pháp liên quan đến lịch sử và văn hóa Việt Nam chúng ta và nhờ đó chúng ta có thể thấy lại được hình ảnh THỰC của dân Việt cách đây hơn một thế kỷ.


Joseph Nicephore Niepce (1765-1833)



CÁM ƠN SỰ RA ĐỜI CỦA MÁY CHỤP HÌNH 


Mặc dù việc phát minh ra máy ảnh từng đóng góp qua nhiều thế kỷ, nhưng thế giới đồng ý rằng chiếc máy chụp ảnh đầu tiên được nhà phát minh  người Pháp Joseph Nicéphore Niépce sáng chế ra đầu tiên vào năm 1816.  Niépce đã phát triển các hình ảnh chụp ảnh trên giấy có lót clorua bạc (AgCl) và một bức ảnh mà ông tạo ra khoảng năm 1826 được coi là bức ảnh lâu đời nhất còn sót lại.


bức hình đầu tiên của thế giới do máy chụp hình của Joseph tạo ra 

Vào năm 1826 hoặc 1827 Joseph Nicéphore Niépce đã lắp đặt một chiếc máy ảnh trùm bóng tối trong cửa sổ nhìn ra khu nông thôn của nhà ông. Niépce  có mấy năm hoàn thiện hệ thống quang học của chiếc máy ảnh đầu tiên này và chế ra một lớp phủ nhạy bén với ánh sáng đặc biệt—sau tám giờ phơi sáng— đó là bức ảnh đầu tiên của thế giới đó là SÂN ĐIỀN TRANG  của Niépce, bao gồm cả đường viền của các tòa nhà và một cái cây. Trong bức thư cho ÔNG vào năm 1824 có viết “đó là một kết quả hết sức kỳ diệu”  


 Bức ảnh đầu tiên đó vẫn được trưng bày tại Đại học Texas ở Austin Hoa Kỳ.


*


NGƯỜI PHÁP  KHI QUA VIỆT NAM CÓ MANG MÁY CHỤP HÌNH, NHỜ ĐÓ TRONG SỬ LIỆU VN CÓ MỘT SỐ HÌNH ẢNH THẬT CỦA NGƯỜI XƯA ...


HÌNH ẢNH THẬT VỀ KHOA BẢNG THỜI PHONG KIẾN VÀ GẦN NHẤT LÀ THỜI TRIỀU NGUYỄN RA SAO


theo tài liệu các trang mạng khả tín thì...

Trong hơn 900 năm, từ khi bắt đầu mở khoa thi (1075) đến khoa thi cuối cùng tổ chức năm 1919, lịch sử khoa cử Việt Nam có 184 khoa thi với 2785 vị đỗ đại khoa (đỗ Tiến sĩ và Phó bảng), trong đó có 56 Trạng nguyên, gồm 7 trong số 9 thủ khoa Đại Việt và 49 Trạng nguyên.

Trạng nguyên là danh hiệu thuộc học vị Tiến sĩ của người đỗ cao nhất trong các khoa thi Đình thời phong kiến ở Việt Nam, kể từ khi có danh hiệu Tam khôi dành cho 3 vị trí đầu tiên. Người đỗ Trạng nguyên nói riêng và đỗ Tiến sĩ nói chung phải vượt qua 3 kỳ thi: thi Hương, thi Hội và thi Đình. 


Khoa thi đầu tiên mở năm 1075 dưới thời Lý Nhân Tông, nhưng người đỗ đầu khoa thi này là Lê Văn Thịnh chưa được gọi là Trạng nguyên. Từ năm 1075 đến năm 1246, có bảy vị đỗ đầu các khoa thi, nhưng chưa có danh hiệu Trạng nguyên. Đến đời Vua Trần Thái Tông (1246 hoặc 1247?) mới đặt ra định chế tam khôi (ba vị trí đỗ đầu có tên gọi thứ tự là: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) thì mới có danh hiệu Trạng nguyên và người đầu tiên đạt danh hiệu Trạng nguyên là Nguyễn Hiền. Ông cũng là vị Trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam, đỗ Trạng nguyên khi mới 12 (có tâì liệu nói là 13) tuổi. Đến thời nhà Nguyễn không lấy danh hiệu Trạng nguyên nữa. Do đó Trạng nguyên cuối cùng là Trịnh Tuệ (vốn tên là Trịnh Huệ, nhưng do trùng tên với Tuyên phi Đặng Thị Huệ nên phải đổi là Tuệ) đỗ khoa Bính Thìn (1736) thời Lê-Trịnh 


tân đại khoa được vua ban Mũ Áo 


CẢNH THÍ TRƯỜNG CỦA NƯỚC TA THỜI NHÀ NGUYỄN



VUA DUY TÂN ĐĂNG QUANG LÚC 7 TUỔI




VUA THÀNH THÁI 21 TUỔI năm 1900


ĐOÀN TÚY TÙNG VÀ CÁC QUAN  RƯỚC VUA DUY TÂN ĐĂNG QUANG TẠI KINH ĐÔ HUẾ  LUC 7 TUỔI 




Bắc kỳ, các quan tân khoa kỳ thi Văn được ban mũ áo để vinh quy bái tổ ở trường thi Nam Định khoảng 1900


TRƯỜNG THI NAM ĐỊNH CÓ QUAN SỨ PHÁP TỚI THĂM 


                  LÍNH VÕNG QUAN ĐI TẠI KINH ĐÔ HUẾ

                                THẦY ĐỒ NGÀY XƯA



GỐC DÂN TA LÀ GIAO CHỈ (LES GIAO CHI, HAY ANAMITES)  (Giao Chỉ Quận) NGÀY XƯA GỐC DÂN VIỆT CHÍNH THƯỜNG GỌI LÀ GIAO CHỈ ( do 2 ngón chân cái thường châu lại với nhau) BÂY GIỜ RẤT HIẾM có





                       CẢNH RƯỚC DÂU NHÀ QUAN QUYỀN GIÀU CÓ
Chợ Lớn Sài Gòn năm 1888 - lúc này thuyền buôn của người Hoa đã tấp nập.

CHỢ ĐỒNG XUÂN HÀ NỘI 1866 ( chúng ta thấy đàn bà VN mặc váy và đàn ông áo dài)




Bắc kỳ cuối thế kỷ 19, tội ăn cắp bị xử đánh đòn, ảnh chụp trong khoảng 1870 đến 1890.
CĂNG NỌC RA ĐÁNH đây là luật pháp thời xưa và có thật trong đời sống dân gian. Kẻ phạm tội bị lý trưởng hay quan nha sai người  "căng nọc" ra đánh bao nhiêu hèo hay roi tùy theo tội nặng nhẹ


CÁC QUAN QUỲ TRƯỚC ĐIỆN THÁI HÒA THÀNH NỘI HUẾ LẠY MỪNG VUA HÀM NGHI 1900 





NHÀ THỜ ĐỨC BÀ NĂM ĐẦU TIÊN 

Nhà thờ Đức Bà sau này còn gọi là Vương Cung Thánh Đường được Giám Mục Isodore Comlombert khởi công vào ngày 7/10/1877 một khu đất cao nhất tại SG xưa. Đây là hình ảnh lúc hoàn thành đầu tiên 1882 chưa có tháp chuông. Hai tháp chuông nhọn bổ sung vào năm 1895



1895



CÁC SĨ TỬ VÀO TRƯỜNG THI NAM ĐỊNH KHOẢNG 1870 

SĨ TỬ THI ĐỖ RA MẮT QUAN TRƯỜNG THI NAM ĐỊNH

SĨ TỬ XEM TÊN BẢNG VÀNG 




MỘT BAN NHẠC CÔNG SÀI GÒN 1866

MANG TƠI ĐỘI NÓN  CỦA NGƯỜI VIỆT NAM  TRƯỚC 1960 


BẢN THẢO VIẾT TAY CỦA GIÁO SĨ PHÁP BÁ ĐA LỘC ---Pierre Pigneau de Behaine

              NGHỆ SĨ HÁT BỘI SÀI GÒN 1866

TUYẾN ĐƯỜNG SẮT ĐẦU TIÊN TẠI VN (về Mỹ Tho 1881)
Khi chiếm Việt Nam, người Pháp muốn xây dựng tuyến đường sắt đi các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nhằm khai thác vùng đất phì nhiêu giàu có. Sau những cuộc bàn thảo, năm 1881 Pháp cho xây đường sắt từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho dài hơn 70 cs. Đây cũng là tuyến đường sắt đầu tiên của Đông Dương, với tổng kinh phí gần 12 triệu Francs. Tất cả ật liệu xây dựng đều được chở từ Pháp qua

                                        HÀ NỘI XA XƯA 


Chiếc máy ảnh thế kỷ trước tuy cổ lỗ ra sao chăng nữa nhưng chúng ta cũng nhờ nó mới có được hình ảnh thật của tổ tiên nước ta vào thế kỷ trước.
Hình ảnh thật cho chúng ta có giây phút so sánh lại với thời nay tuy không sống động chút nào nhưng mà "thật" 
Chính nhờ cái thật đó mới tạo được trong trí tưởng tượng phong phú của thời hiện đại bức ảnh sinh hoạt của cha ông chúng ta đời trước.
Tiếp đến là máy quay phim ra đời...con người không ngừng khám phá, phát minh sáng tạo dần hồi cho đến một xã hội cực kỳ văn minh như thế giới digital hiện tại
Rất cám ơn sự phát minh của nhân loại. Bởi thế con người luôn học hỏi phát minh và tiến tới.

Trong nhiều phát minh tân kỳ khác có thể xã hội còn đón nhận những phát minh và phục chế lại hình ảnh của người xưa giúp ta tiếp cận với một xã hội từng khuất dạng hẳn trong sương mờ lịch sử một ngày nào đó tổ tiên chúng ta có thể như "sống lại" với thời khắc hiện tại 
Đố ai biết trước do rằng đó là khoa học và phát minh 

Đinh hoa Lư 
đón tết Quý Mão 2023

Thursday, January 9, 2025

NĂM MƯƠI NĂM QUA và CHUYỆN BUỒN CỦA NGƯỜI THUA TRẬN

 1975 -2025 NĂM MƯƠI NĂM QUA TƯỞNG NHƯ HUYỀN THOẠI 


30 tháng Tư 1975 và CHUYỆN BUỒN CỦA NHỮNG NGƯỜI THUA TRẬN



HỒI KÝ CỦA ĐHL
Cuộc chiến VN kết thúc kèm theo bao câu chuyện bi hùng về người lính VNCH. Có những câu chuyện kể lại nói về những cuộc rút lui để bảo vệ thủ đô Sài Gòn còn lại. Nhưng có những đơn vị hi sinh một cách âm thầm để cho những cánh quân Tổng Trừ Bị rút về Huế và trở lại Sài Gòn...
Ít ai nhắc lại hay biết đến những hi sinh âm thầm đó. Có những người lính trẻ, họ là những anh hùng vô danh một sự anh hùng khi thầm lặng hi sinh không một đòi hỏi hay ta thán nào. Những người lính im lìm chỉ biết một bề thi hành nhiệm vụ.
Người viết vào thời điểm này là một sĩ quan trẻ tuổi mới ra trường, với con mắt khách quan và cũng là người trong cuộc đã chứng kiến khi cùng toàn đơn vị hi sinh nằm lại bên bờ Ô Lâu thuộc làng Trạch Phổ và cuối cùng bị bắt làm tù binh vào trưa ngày 23/3/1975 tại rú Phong Bình
ĐHL

***
NGƯỜI LÍNH TRẺ NẰM LẠI BÊN DÒNG Ô LÂU

Con ơi à ơiĐây là giấc ngủ ban đầuMẹ ru conBên ngoài gió thổi nam non
… Hai mươi tuổi đờiMẹ sinh con yêu dấu à ơiGiấc mộng tuyệt vờiGiấc mộng là mộng hai mươi  (Trầm Tử Thiêng)



Người tân binh tên Thành được bổ sung về trung đội tôi chưa được bao lâu thì đơn vị đã có lệnh rút lui về đồng bằng Diên Sanh. Thành còn quá trẻ, trạc tuổi em trai tôi và lại là người Huế. Đa số người trong trung đội tôi đều là người Quảng Trị nên tôi để ý anh lính trẻ này nhiều hơn.
Gần một năm xa nhà, dấn thân vào đời lính. Ra đơn vị lên vùng núi này Thành bị vướng căn bệnh sốt rét, một chứng bệnh lan nhanh tại vùng núi quanh Động Ô Do.
Vừa khỏi cơn sốt rét nên da mặt Thành còn xanh xao. Nét gian truân người lính chỉ mới khởi đầu nên chưa thể xóa hết đi vẻ non dại của người con trai mới lớn từ một vùng quê. Thật ra, ngày ra đơn vị ngày đó Thành có nói tên quê em, đâu đó dưới quận Hương Điền nhưng lâu ngày tôi đành quên mất?
Sau ba tháng huấn luyện ở Trung Tâm Dạ Lê gần Phú Bài, Thành mãn khóa sau đó được đưa về Tiểu Khu Quảng Trị và cuối cùng em được bổ sung về trung đội 3 của tôi.
Điều tôi biết rõ về người lính trẻ này là Thành vừa rời lưỡi liềm, cái cuốc làng quê rồi đi vào nghiệp lính. Biết bao lớp tuổi cày cuốc, trụ cột cho gia đình từng phải lên đường tòng chinh trong thời tao loạn.
Rồi sau tết 1975, những gì đã đến trong cuộc chiến dai dẳng này bắt đầu xảy ra khi toàn bộ đơn vị Phòng tuyến Động Ông Do có lệnh di tản. Không những chỉ chúng tôi mà các tiểu đoàn lân cận ở vùng núi như Phòng tuyến Barbara cũng di tản vào ngày 17/3/1975
Ai ngờ đâu, Xuân 1975 đó là xuân cuối cùng của người lính miền nam- rồi các đơn vị của Tiểu Khu Quảng Trị là chứng nhân và cũng là nạn nhân cho một kết cuộc đau buồn bên bờ Sông Ô Lâu. Một dấu ấn khó quên trong đời quân ngũ vào tuần lễ cuối cùng của tháng Ba năm 1975. Tôi đã lâm trận và chứng kiến sự rút lui và nói cho đúng hơn là một sự rệu rã đầu tiên bên bờ sông xưa một cách bất ngờ, tức tưởi.
Bắc quân hình như đã được biết trước cuộc chiến đang đến hồi CÁO CHUNG. Họ hí hửng thổi còi vượt sông Ô Lâu bắt đầu vào hơi xế trưa ngày 23 tháng 3 năm đó.

LÀNG TRẠCH PHỔ ƯU ĐIỀM BỜ SÔNG Ô LÂU

Ruộng Trạch Phổ mới cấy xong, nhà hoang cửa vắng
Dĩ nhiên khỏi viết hết lên đây thì bạn đọc cũng hiểu rồi; đó sự tan rã đến nhanh. Nhưng trong tiếng súng và làn hơi áp mạnh của B 40 tấn công, tôi nghe có tiếng hét của hạ sĩ Lộc người y tá trung đội:
-Ch úy , ch Úy ! thằng Thành bị đạn rồi, ngay ngực nặng quá!
Thành chẳng chút may mắn, em bị trúng đạn ngay vào loạt đạn đầu của bắc quân vượt sông ngang xã Hải Văn... Càng lúc áp lực của những toán quân chính quy bên kia vừa qua sông càng bắn xối xả mạnh hơn.
Tất cả đại đội 2 chúng tôi bị dồn ra phía cánh đồng trống trải vừa mới cấy xong của Làng Trạch Phổ.
Bên cạnh cái lăng mộ ai đó giữa đồng lúa mới cấy tôi nghe tiếng rên của một người bị đạn, tiếng của Thành. Có thể bạn cho rằng tiếng rên kia phải là to lớn kêu gào hay thống thiết lắm chăng? Không phải thế! Qua bao nhiêu năm tôi không quên được tiếng rên của người lính trẻ. Thành chỉ rên lên tiếng “ i ..;i...” mà thôi. Người bị đạn không còn đủ sức để kêu to do đạn đã xuyên qua ngực, giữa tiếng nổ chát chúa của những tràng đạn tấn công, tiếng B 40 và từng hồi còi 'súp-lê' xung phong của bắc quân nghe lanh lảnh...
.
Âm thanh của người lính trẻ trúng đạn, đó là tiếng rên hay tiếng kêu đau đớn của một thanh niên vừa rời cái roi giữ trâu hay cái cày bên luống ruộng quê nhà. Một làng quê, nơi đó Thành có mẹ già. Những người thân yêu của Thành vĩnh viễn không còn thấy được Thành về. Tôi đoan chắc là Thành đã chết bên cánh đồng Trạch Phổ do người y tá bỏ cuộc và cả đơn vị tôi cũng tan nát thối lui ra giữa cánh đồng và tán loạn rút về rú Ưu Điềm. Tôi bị bắt tù binh từ cái rú càn đó. Có hai người tiểu đội trưởng cũng ngẩng đầu lên lần cuối cùng và gục xuống trên đồng ruộng thôn làng. Trong hình ảnh đau khổ đó, có Hạ Sĩ Hách người tiểu đội trưởng già mà tôi còn nhớ tên.
Làm sao tôi quên được Thành, em là người lính trẻ mới về đơn vị tôi chỉ hai tháng, lại vĩnh viễn ra đi trong ngày tàn cuộc chiến? Tiếng rên “i ..i” của em -một người bị trúng đạn nhưng sao tôi nhớ mãi đến hôm nay? Tiếng kêu đau thương của một người thanh niên hay đúng hơn là một em nhỏ mới lớn. Một lứa xanh chưa có niềm vui nào khi tập tễnh bước vào đời với làn vải kaki, màu áo trận, cùng nòng súng lạnh lùng? Một lứa trai vừa giã từ cuộc sống đơn sơ bên mái tranh nghèo cùng mẹ hiền dưới khóm tre làng. Thành chỉ quen và nhìn đời qua những ngày chân lấm tay bùn bên con trâu, nhánh lúa.
Giờ đây em chỉ còn những làn hơi yếu ớt còn lại. Chút sức lực cuối cùng của một người trai, chới với thảm thương cùng sự tan nát của đơn vị mình giữa cánh đồng chưa xanh lá mạ ...Một tiếng rên đớn đau nhưng quá âm thầm, rời rạc không còn đủ sức để kêu thêm hai tiếng:
-MẸ ƠI!
Đó là tiếng nói cuối cùng người lính trẻ hay là nỗi buồn sót lại của một cuộc chiến ĐANG TÀN trên quê hương dau khổ Việt Nam.

nhờ vào cuốn phim tư liệu cũ có tên là "Đường về GP Huế" 26.3.1975, tác giả đã lấy được hình ảnh của toán tù binh (trong đó có tác giả đội nón lưỡi trai đi giữa) của đơn vị đại đội 2 tiểu đoàn 105 ĐPQ Tiểu Khu Quảng Trị đang bị dẫn ra Đông hà ngày 24.3.1975, hình ảnh này có thể ngang đoạn gần Bến Đá
**

Đã bốn mươi tám năm qua kể từ cái chiều 23 tháng 3 năm 1975 bên bờ Sông Ô Lâu, khi cầm bút viết vài dòng để tưởng niệm Thành tôi không cầm được giọt nước mắt thương nhớ về em. Thật tiếc và oan uổng cho Em trong giờ phút kết thúc chiến tranh. Em có hi sinh thêm nữa thì số phận miền nam cũng đã được định phần. Cái chết của em cũng chẳng giúp thêm gì cho NHỤC VINH của những người may mắn còn lại trên cuộc đời này?
Trên bàn thờ nhà em trong làng của người lính tử trận này, giờ có thể còn một bát nhang thờ vọng cho Em, người ra đi không hẹn ngày về? Con trâu bờ ruộng cùng lũy tre làng Thành vẫn doi dỏi trông chờ hình bóng người lính trẻ; dù em có về cùng đôi nạng thương binh. Nhưng có điều tôi tin chắc chắn rằng THÀNH cùng hai người tiểu đội trưởng cùng những anh em khác đã vĩnh viễn không về. Cũng như người đại đội trưởng chúng tôi, Đại Úy Lê Kim Chung, Anh đã nằm lại một mình bên làng Lương Mai, cũng vĩnh viễn chẳng về...
Gần năm mươi năm, sau ngày tàn cuộc chiến nhưng quê Mẹ vẫn còn quá nhiều trường hợp như Thành vẫn còn quá nhiều mẹ già đau đáu chờ con, vẫn nuôi hi vọng con về, cho đến lúc nhắm mắt tàn hơi?
    Tôi vẫn mãi thương xót cho số phận một NGƯỜI LÍNH TRẺ cùng tiếng rên cuối cùng bên bờ ruộng mới cấy của cái làng tên là Trạch Phổ năm xưa. Hàng năm cứ đến tháng Tư Đen là tôi tiếp tục tái đăng bài Hồi Tưởng về Thành. Đây cũng là nén tâm nhang cho tôi tưởng niệm về hương hồn một người LÍNH TRẺ đã hi sinh oan uổng trong ngày TÀN CUỘC CHIẾN. Đã nửa thế kỷ qua mau nhưng một câu chuyện trong muôn triệu nỗi buồn chiến tranh cứ day dứt và ám ảnh mãi làm lòng tôi khó bề quên được ./.

Ký Ức ĐHL Bên Bờ Sông Ô Lâu ngày Tàn Cuộc Chiến 23/3/1975

TỪ IRAQ TỚI IRAN TT TRUMP VẪN MỞ CÁI HỘP PANDORA trong HUYỀN THOẠI

     CHÀO bạn đọc       Cuộc tấn công của khủng bố Hồi Giáo vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đánh vào nước Mỹ từ đó đã định hình chính sách ngoạ...