Friday, August 8, 2025

NHẬN XÉT CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO QUA BÀI HỒI ỨC ĐÔI BỜ HIỀN LƯƠNG CỦA TÁC GIẢ ĐINH HOA LƯ

 

Dựa trên các thông tin và ngữ cảnh lịch sử liên quan đến Đinh Hoa Lư cũng như các tài liệu tham khảo liên quan, các sự kiện chính trị phản ánh trong hồi ký của Đinh Hoa Lư tập trung chủ yếu vào những điểm sau:

  1. Thời kỳ chiến tranh và chia cắt đất nước (1954-1975)
    • Hồi ký ghi lại trải nghiệm cá nhân về cuộc sống ở miền Nam Việt Nam vào thời kỳ chiến tranh và hỗn loạn chính trị.
    • Ghi nhận các biến động chính trị của miền Nam Việt Nam trong giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa (dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm) và những hậu quả xã hội, chiến tranh.
    • Mô tả các lễ kỷ niệm ngày chia đôi đất nước (20 tháng 7, 1954) sau Hiệp định Geneva năm 1954, với sự kiện lịch sử chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam – Bắc; sự kiện này đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử chính trị Việt Nam thế kỷ 20.
    • Trải nghiệm cá nhân ghi lại ngày lễ mít tinh, tương tác ở khu vực ranh giới cầu Bến Hải trên sông Hiền Lương – vùng phân định quyền lực chính trị hai miền Nam-Bắc thời kỳ chiến tranh lạnh ở Việt Nam.
    • Cảnh quan chính trị đối đầu, gồm phổ biến cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam và cờ đỏ sao vàng của miền Bắc; sự căng thẳng giữa hai phía.
    • Mô tả hoạt động truyền thông, tuyên truyền, với việc loudspeaker và quân nhạc hai bên dùng để cạnh tranh ảnh hưởng chính trị và tinh thần dân tộc.
  1. Khó khăn và trải nghiệm của người dân thời chiến và tạo dựng hòa bình
    • Trình bày các thách thức về đời sống người dân miền Nam trong chiến tranh, những nỗi đau, mất mát và tự do tìm kiếm hy vọng.
    • Điều này gắn liền với cảnh chiến đấu, quân đội miền Nam, nỗi lo sợ và tính cách xã hội bị chia cắt.
    • Ghi lại những kỷ niệm cá nhân và xã hội trong thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa, có tính chất sống động, cảm xúc sâu sắc về một giai đoạn lịch sử biến động.
  1. Sự phản ánh của lịch sử và chính trị đương đại thông qua ký ức cá nhân
    • Hồi ký như một tư liệu lịch sử quan trọng phản ánh các sự kiện địa phương và quốc gia từ góc nhìn cá nhân trong thời kỳ tranh chấp chính trị và chiến tranh.
    • Nêu bật vai trò của các địa danh, như cầu Bến Hải, sông Hiền Lương, quận Trung Lương (Quảng Trị) trong lịch sử phân cắt hai miền và các hoạt động chính trị của người dân.
    • Thể hiện mối quan hệ phức tạp giữa người dân với các lực lượng chính trị và quân sự miền Nam và miền Bắc.
    • Bên cạnh đó, cũng có sự đề cập đến thái độ, phản ứng của dân chúng và cán bộ 2 miền, tạo nên bức tranh đa chiều về chính trị thời kỳ ấy.

Tổng kết

Hồi ký của Đinh Hoa Lư tập trung phản ánh các sự kiện chính trị gắn liền với cuộc chiến tranh chia cắt Việt Nam, đặc biệt là miền Nam dưới chế độ Đệ nhất Cộng hòa, những trải nghiệm cá nhân trong các hoạt động kỷ niệm ngày chia cắt đất nước năm 1954, cùng những biến động xã hội và chính trị trong giai đoạn chiến tranh và hỗn loạn. Đây là tác phẩm có giá trị tư liệu quan trọng để hiểu sâu sắc một phần lịch sử chính trị – xã hội của Việt Nam thế kỷ 20 qua con mắt của người trong cuộc.


 

 

ĐÔI BỜ HIỀN LƯƠNG VÀ KỶ NIỆM THĂM CẦU BẾN HẢI 20/7/1964

hình ảnh sưu tầm được cho thấy đồng bào QT ra thăm cầu Bến Hải (1964) đang tụ tập bên kia cầu ngó qua và đội quân nhạc miền bắc sẽ tấu lên lúc đồng bào đang làm lễ đông đúc nhìn qua phía bờ bắc . Chính tác giả bài viết năm đó tận mắt thấy đoàn quân nhạc miền bắc trong hình này nhưng nhìn theo hướng từ bờ nam . Nhờ vào hình này, tác giả biết được năm 1964 tức mình mới 11 tuổi.

                            hình báo LIFE của Hoa Kỳ 

    
    Ngày 20 tháng 7 năm 1954 đất nước VN bị chia đôi- miền bắc sống dưới chế độ Cộng Sản và miền nam xây dựng chế độ cộng hòa. Cũng từ ngày đó giòng sông Bến Hải trở thành một địa danh lịch sử, phân chia ranh giới hai miền đất nước với chế độ chính trị hoàn toàn khác nhau.


Người viết sinh ra và lớn lên tại tỉnh Địa Đầu Giới Tuyến đúng 10 năm khi chỉ là một cậu bé 10 tuổi nói khác đi ngày 20/7/1964 may mắn  có cơ hội đi theo gia đình và đồng bào Quảng Trị ra dự mít tinh kỷ niệm ngày ký kết Hiệp Định Geneva.











Quá khứ tiếp nối quá khứ như từng dãy núi  chập chùng đưa tôi về lại hinh ảnh ngày xưa, những ngày còn bé, một thuở tạm thanh bình dưới thời Đệ nhất  Cộng Hòa của Cố TT Ngô Đình Diệm. Dịp kỷ niệm 20 tháng 7, 1964 tôi là một  đứa bé được cả nhà cho theo ra quận Trung Lương cùng đồng bào Quảng Trị làm lễ Mit ting kỷ niệm ngày chia đôi đất nước.
  
  Hồi đó muốn ra tới Cầu Bến Hải xe phải qua Đèo Ba Dốc. Đèo này không cao nhưng muốn xuống đèo xe phải lái rất cẩn thận, xuống được 3 cái dốc rất ngặt nên cũng rất nguy hiểm . Hết đèo là xe có thể ‘bon bon’ chạy trên một đoạn đường thẳng trên một đồng bằng hiếm hoi của quận Trung Lương để đến chân cầu Bến Hải, nơi này có trụ sở Kiểm Soát đình Chiến kết hợp cảnh sát Trung Lương làm việc ở đây.


   Tôi nhớ rõ nhất là hai lá cờ to lớn có thể là ‘vĩ đại’ nhất trong trí nhớ. Dĩ nhiên cờ vàng ba sọc đỏ bên ‘miềng’ (tiếng gọi MÌNH của dân Quảng Trị chúng tôi) và cờ đỏ sao vàng bên “tê” (kia). Hai là cờ to lớn theo tôi nó có thể phủ kín một cái nhà một cách dễ dàng. Cái cầu cũng bị chia đôi, mỗi bên mỗi màu và sơn đúng một nửa bên mình thì màu xanh . Nhân viên 2 phía đi lui đi tới trên cầu thỉnh thoảng đi qua mặt nhau cũng đôi lúc cả 2 cùng nói gì đó và cùng ngó xuống mặt nước sông Hiền lương. Bề mặt của chiếc cầu rất hẹp và nó chẳng cần chi cho chuyện xe cộ, mà để trao đổi nhân viên 2 miền qua lại làm việc hàng ngày. Gia đình tôi kể rằng: mỗi ngày cảnh sát quận Trung Lương cũng qua làm việc bên kia, đổi lại bên kia cũng có một người qua ‘làm việc’ bên mình. Văn phòng làm việc của mỗi bên đều gần sát cầu, kế cột cờ.


   Đến giờ hành lễ, đồng bào tới sát cầu, mặt hướng về bờ sông bên kia, tai thì nghe ban tổ chức đọc diễn văn và cáo trạng Cộng Sản miền Bắc đang đày đọa đồng bào ruột thịt miền Bắc, khi họ cố tâm xây dựng cho được Chủ nghĩa Xã hội áp đặt lý thuyết Cộng sản lên đầu dân chúng miền Bắc. Xen kẽ còn có những bài hát đề cao tự do no ấm của miền Nam như "Khúc hát thanh bình - Chuyến đò vĩ tuyến - Nắng đẹp miền Nam…"


Lúc này phía bên kia đâu có chịu yên, họ đem một đội quân nhạc bận complet trắng, cùng hướng về bờ nam hợp tấu những bài gì đó nhưng phía bên mình ồn quá làm sao nghe được? hơn nữa phía miền bắc chỉ muốn phá hay quấy rồi bằng tiếng nhạc của họ để cho buổi lễ của đồng bào phía mình bị xáo trộn mà thôi.


Hôm nay, phương tiện nhờ Internet, tôi TÌM ra được đội QUÂN NHẠC miền bắc trong bài viết và ngày tháng đồng bào QT ra thăm cầu Hiền Lương là dịp 20/7/1964 
(trong hình, đồng bào phía bên tê sông chắc có tôi trong đó do trí nhớ tôi còn nhớ ttoan quân nhạc miền bắc bận toàn complet màu trắng như trong hình nhưng tôi thấy theo chiều ngược lại)
theo trang web của CSVN hiện nay tôi có được hình ảnh đội quân nhạc của miền bắc trong bài viết

*
LỘN XỘN NHƯNG MAY...
    Bỗng có tiếng la hét và một đám đông đồng bào hốt hoảng chạy ngược lùi lại phía sau, Những hoảng loạn đó lan  rất nhanh làm tôi cũng chạy mất luôn đôi dép "nhựa" (hồi đó ít ai có giày). Sau đó mới vỡ lẽ là một "ông cán bộ" đang trực trên cầu vô ý vứt tàn thuốc xuống một đám cỏ khô bên cầu, có gió nó bắt lửa lên khói làm đồng bào hoảng sợ. Những đám đông khác thấy chạy thì cứ chạy nên hoảng loạn mới lan nhanh như thế.








Tội nghiệp mấy chú cảnh sát Trung Lương vất vả giải thích một hồi lâu, thì đồng bào mình mới yên tâm. Hết lễ, bà con chia thành từng tốp nhỏ đi theo men sông để ngắm phía "bên tê".

Trí nhớ của tôi còn ghi lại một giòng sông nhỏ bé, nước lặng lờ trôi. Bên tê sông hình dáng những người dân miền Bắc kham khổ chịu đựng, những cánh áo nâu khom khom người "lùng sục" dưới đáy sông kiếm từng con cá; hay những chiếc thuyền nan bé tí teo, những chiếc nón lá chỉ biết im lăng, câm nín cúi đầu với công việc kiếm ăn. Họ im lìm tuyệt đối không có một cử chỉ tò mò gì khi bên này sông, đồng bào mình đang đi như trẩy hội. Bên kia sông chỉ một khoảng cách ngắn ngủi mà thôi, thế mà đồng bào bờ Bắc như không thấy không nghe, không dám ngẫng đầu nhìn. Một sức mạnh vô hình đang bắt họ phải điếc, phải mù?



   Men theo bờ Hiền Lương, cách chừng một cây số theo bờ đều có những hình ảnh cổ động tuyên truyền hay trụ phát thanh, mỗi trụ gắn khoảng gần 20 cái loa đều mở hết "volume" hướng về bờ kia để phát thanh cùng ca nhạc tuyên truyền. Bên nào cũng mở hết cỡ âm thanh làm huyên náo cả một vùng, khiến tôi quên cả sợ hãi phập phồng.

Qua năm sau, cũng dịp này lần này tôi có dịp đi ra phía Cửa Tùng, cửa sông Hiền Lương. Cửa Tùng dáng vẻ đìu hiu buồn bả vô cùng . Bên “tê” chỉ lác đác vài ba cái thúng của dân đánh cá miền Bắc, không có dân. Còn phía bờ Nam cửa Tùng thì tuyệt đối đồng bào không có làm ăn ở đây.

ĐỊNH CƯ CAM LỘ 


    Chiến sự leo thang, cường độ cuộc chiến càng ngày càng ác liệt. Những năm sau 1965, Trung Lương càng ngày càng hoang vắng.  1967 toàn bộ dân Gio Linh di tản hết lên Cam Lộ, vào Nam tái định cư. Tuyến MacNamara ra đời. Chiến tranh không tập miền Bắc gia tăng mức độ. Và chuyện đi chơi dự mít - ting ở cầu Bến Hải đã thực sự nằm trong dĩ vãng./.

ĐHL edit 4/3/2023

Saturday, March 4, 2023

ĐÔI BỜ HIỀN LƯƠNG VÀ KỶ NIỆM THĂM CẦU BẾN HẢI 20/7/1964

hình ảnh sưu tầm được cho thấy đồng bào QT ra thăm cầu Bến Hải (1964) đang tụ tập bên kia cầu ngó qua và đội quân nhạc miền bắc sẽ tấu lên lúc đồng bào đang làm lễ đông đúc nhìn qua phía bờ bắc 

                            hình báo LIFE của Hoa Kỳ 

    
    Ngày 20 tháng 7 năm 1954 đất nước VN bị chia đôi- miền bắc sống dưới chế độ Cộng Sản và miền nam xây dựng chế độ cộng hòa. Cũng từ ngày đó giòng sông Bến Hải trở thành một địa danh lịch sử, phân chia ranh giới hai miền đất nước với chế độ chính trị hoàn toàn khác nhau.


Người viết sinh ra và lớn lên tại tỉnh Địa Đầu Giới Tuyến đúng 10 năm khi chỉ là một cậu bé 10 tuổi nói khác đi ngày 20/7/1964 may mắn  có cơ hội đi theo gia đình và đồng bào Quảng Trị ra dự mít tinh kỷ niệm ngày ký kết Hiệp Định Geneva.











Quá khứ tiếp nối quá khứ như từng dãy núi  chập chùng đưa tôi về lại hinh ảnh ngày xưa, những ngày còn bé, một thuở tạm thanh bình dưới thời Đệ nhất  Cộng Hòa của Cố TT Ngô Đình Diệm. Dịp kỷ niệm 20 tháng 7, 1964 tôi là một  đứa bé được cả nhà cho theo ra quận Trung Lương cùng đồng bào Quảng Trị làm lễ Mit ting kỷ niệm ngày chia đôi đất nước.
  
  Hồi đó muốn ra tới Cầu Bến Hải xe phải qua Đèo Ba Dốc. Đèo này không cao nhưng muốn xuống đèo xe phải lái rất cẩn thận, xuống được 3 cái dốc rất ngặt nên cũng rất nguy hiểm . Hết đèo là xe có thể ‘bon bon’ chạy trên một đoạn đường thẳng trên một đồng bằng hiếm hoi của quận Trung Lương để đến chân cầu Bến Hải, nơi này có trụ sở Kiểm Soát đình Chiến kết hợp cảnh sát Trung Lương làm việc ở đây.


   Tôi nhớ rõ nhất là hai lá cờ to lớn có thể là ‘vĩ đại’ nhất trong trí nhớ. Dĩ nhiên cờ vàng ba sọc đỏ bên ‘miềng’ (tiếng gọi MÌNH của dân Quảng Trị chúng tôi) và cờ đỏ sao vàng bên “tê” (kia). Hai là cờ to lớn theo tôi nó có thể phủ kín một cái nhà một cách dễ dàng. Cái cầu cũng bị chia đôi, mỗi bên mỗi màu và sơn đúng một nửa bên mình thì màu xanh . Nhân viên 2 phía đi lui đi tới trên cầu thỉnh thoảng đi qua mặt nhau cũng đôi lúc cả 2 cùng nói gì đó và cùng ngó xuống mặt nước sông Hiền lương. Bề mặt của chiếc cầu rất hẹp và nó chẳng cần chi cho chuyện xe cộ, mà để trao đổi nhân viên 2 miền qua lại làm việc hàng ngày. Gia đình tôi kể rằng: mỗi ngày cảnh sát quận Trung Lương cũng qua làm việc bên kia, đổi lại bên kia cũng có một người qua ‘làm việc’ bên mình. Văn phòng làm việc của mỗi bên đều gần sát cầu, kế cột cờ.


   Đến giờ hành lễ, đồng bào tới sát cầu, mặt hướng về bờ sông bên kia, tai thì nghe ban tổ chức đọc diễn văn và cáo trạng Cộng Sản miền Bắc đang đày đọa đồng bào ruột thịt miền Bắc, khi họ cố tâm xây dựng cho được Chủ nghĩa Xã hội áp đặt lý thuyết Cộng sản lên đầu dân chúng miền Bắc. Xen kẽ còn có những bài hát đề cao tự do no ấm của miền Nam như "Khúc hát thanh bình - Chuyến đò vĩ tuyến - Nắng đẹp miền Nam…"


Lúc này phía bên kia đâu có chịu yên, họ đem một đội quân nhạc bận complet trắng, cùng hướng về bờ nam hợp tấu những bài gì đó nhưng phía bên mình ồn quá làm sao nghe được? hơn nữa phía miền bắc chỉ muốn phá hay quấy rồi bằng tiếng nhạc của họ để cho buổi lễ của đồng bào phía mình bị xáo trộn mà thôi.


Hôm nay, phương tiện nhờ Internet, tôi TÌM ra được đội QUÂN NHẠC miền bắc trong bài viết và ngày tháng đồng bào QT ra thăm cầu Hiền Lương là dịp 20/7/1964 
(trong hình, đồng bào phía bên tê sông chắc có tôi trong đó do trí nhớ tôi còn nhớ ttoan quân nhạc miền bắc bận toàn complet màu trắng như trong hình nhưng tôi thấy theo chiều ngược lại)
theo trang web của CSVN hiện nay tôi có được hình ảnh đội quân nhạc của miền bắc trong bài viết

*
LỘN XỘN NHƯNG MAY...
    Bỗng có tiếng la hét và một đám đông đồng bào hốt hoảng chạy ngược lùi lại phía sau, Những hoảng loạn đó lan  rất nhanh làm tôi cũng chạy mất luôn đôi dép "nhựa" (hồi đó ít ai có giày). Sau đó mới vỡ lẽ là một "ông cán bộ" đang trực trên cầu vô ý vứt tàn thuốc xuống một đám cỏ khô bên cầu, có gió nó bắt lửa lên khói làm đồng bào hoảng sợ. Những đám đông khác thấy chạy thì cứ chạy nên hoảng loạn mới lan nhanh như thế.








Tội nghiệp mấy chú cảnh sát Trung Lương vất vả giải thích một hồi lâu, thì đồng bào mình mới yên tâm. Hết lễ, bà con chia thành từng tốp nhỏ đi theo men sông để ngắm phía "bên tê".

Trí nhớ của tôi còn ghi lại một giòng sông nhỏ bé, nước lặng lờ trôi. Bên tê sông hình dáng những người dân miền Bắc kham khổ chịu đựng, những cánh áo nâu khom khom người "lùng sục" dưới đáy sông kiếm từng con cá; hay những chiếc thuyền nan bé tí teo, những chiếc nón lá chỉ biết im lăng, câm nín cúi đầu với công việc kiếm ăn. Họ im lìm tuyệt đối không có một cử chỉ tò mò gì khi bên này sông, đồng bào mình đang đi như trẩy hội. Bên kia sông chỉ một khoảng cách ngắn ngủi mà thôi, thế mà đồng bào bờ Bắc như không thấy không nghe, không dám ngẫng đầu nhìn. Một sức mạnh vô hình đang bắt họ phải điếc, phải mù?



   Men theo bờ Hiền Lương, cách chừng một cây số theo bờ đều có những hình ảnh cổ động tuyên truyền hay trụ phát thanh, mỗi trụ gắn khoảng gần 20 cái loa đều mở hết "volume" hướng về bờ kia để phát thanh cùng ca nhạc tuyên truyền. Bên nào cũng mở hết cỡ âm thanh làm huyên náo cả một vùng, khiến tôi quên cả sợ hãi phập phồng.

Qua năm sau, cũng dịp này lần này tôi có dịp đi ra phía Cửa Tùng, cửa sông Hiền Lương. Cửa Tùng dáng vẻ đìu hiu buồn bả vô cùng . Bên “tê” chỉ lác đác vài ba cái thúng của dân đánh cá miền Bắc, không có dân. Còn phía bờ Nam cửa Tùng thì tuyệt đối đồng bào không có làm ăn ở đây.

ĐỊNH CƯ CAM LỘ 


    Chiến sự leo thang, cường độ cuộc chiến càng ngày càng ác liệt. Những năm sau 1965, Trung Lương càng ngày càng hoang vắng.  1967 toàn bộ dân Gio Linh di tản hết lên Cam Lộ, vào Nam tái định cư. Tuyến MacNamara ra đời. Chiến tranh không tập miền Bắc gia tăng mức độ. Và chuyện đi chơi dự mít - ting ở cầu Bến Hải đã thực sự nằm trong dĩ vãng./.

ĐHL edit 4/3/2023

NGÀY ĐẦU ĐI HỌC





Lớp VỠ LÒNG chúng tôi là mái trường nho nhỏ chẳng xa phố chợ Quảng Trị chút nào. Mấy đứa tôi lại "xuất thân" từ Phường Đệ Tứ, nói cho cùng cho đến nay chưa đứa nào quên được hình ảnh ngày cùng 'tốt nghiệp vỡ lòng' tại nhà thầy Bồi, vị hương sư  trong cái xóm nằm phía sau Chùa Tỉnh Hội.



Khoảng Hè năm 1959, gần nhập học lớp năm (lớp một), nên được cha mẹ đem tới nhà Thầy xin làm quen với "sách vở bút nghiên"  hơn là ở nhà chuyên trò chơi đánh bi, đá dế hay là đánh căng, ù mọi... Tuy nhà Thầy nhận dạy lớp "vỡ lòng" nhưng lại kèm luôn các học trò lớp hai, lớp ba, trong dịp hè về.
Tiếng là Đi Học, thế mà lũ chúng tôi lại bận quần đùi (quần short). Riêng tôi, hàng ngày đi từ Cửa Hậu (Cửa Lao Xá) lên tận Xóm Heo do nhà Thầy ở ngay giữa xóm. Từ lớp này, tôi kết thân thêm mấy đứa bạn. Hôm nay hơn năm mươi năm sau, thế mà tôi tin nhắc lại cái  tên "Trường Thầy Bồi", chắc chắn nguòi dân cố cựu phường Đệ Tứ phần đông đều nhớ. Hơn sáu thập niên qua đi, thế mà tôi vẫn nhớ  hình ảnh người thầy, lớp tuổi trung niên người tầm thuớc, chắc nịch hay bận chiếc sơ mi ngắn tay. Cái roi mây luôn cầm nhịp sẵn trong tay, làm đứa nào cũng sợ uy thầy. Nhà thầy ở sâu trong xóm, thông với căn dưới khá rộng. Căn nhà dưới tuy vậy cũng đủ chỗ cho cả chục chiếc bàn dài, khá ọp ẹp lại loang lỗ dấu mực. Nền đất láng bóng do những bàn chân trần của lũ học trò mãi chạy tới lui. Tiếng mấy chục đứa học trò, nghịch ngợm, ồn ào, cuời nói huyên thiên. Chúng tôi tuy hoang phá lung tung, nhưng chẳng đứa nào dám héo lánh lên nhà trên

    Lớp bạn chúng tôi vỏn vẹn mấy đứa. Thầy có hai con trai ngang lứa chúng tôi- Đại Anh và Đại Em. Những đứa bạn phải "đồng song" như Hùng, Vinh, Hiếu, Lợi, Thương ... chúng tôi sẽ 'tốt nghiệp' vỡ lòng tại nhà Thầy. Có điều lạ, tôi không nhớ có học trò con gái học tại đây hay không? có thể 'sự nghiệp học hành' con gái không quan trọng chăng, chuyện này phải hỏi các bậc cha mẹ chúng tôi mà thôi.

tác giả và người bạn thân là Lê xuân Hùng- hai đứa bạn từ thuở ấu thơ Thôn Đệ Tứ thị xã Quảng trị 
Museum Midway Aircraft Carrier San Diego @  Fourth of July 2023 


                                                                            

 Chúng tôi tới lớp, vào nhà thầy, phải qua  một hai lò sát sanh này, nhưng đối vói chúng tôi thuở nhỏ chẳng ai quan tâm chỉ mong mau đến nhà Thầy 'nghịch phá' vui chơi. Thầy, tiếng là cầm roi mây, nhưng ít ai ăn đòn của Thầy.

    Tôi nhớ hàm răng đen của vợ chồng Thầy, lại nhớ đến gánh cháo lươn, sinh kế chính trong gia đình. Chúng tôi có dịp thưởng thức món cháo lươn nhờ vào buổi tiệc chia tay tổ chức tại nhà của thầy. Ngày đó đứa nào cũng xin mạ cho được ba đồng góp vào buổi tiệc nói trên.  Ngoài bánh kẹo ra còn có món cháo lươn, là món chính trong buổi tiệc mặn. Trong xóm không kêu vợ thầy là 'cô' lại kêu là Mụ– “ Mụ Bồi bán cháo lươn” thôi. "gõ đầu trẻ" là nghề tay trái của thầy, duy gánh cháo lươn mới là sinh kế. Ngang đây người viết có dịp nhắc đến món lươn um, luôn đi cạnh nồi cháo thơm lừng. Thức ăn trong "tiệc liên hoan" được dọn lên trên mấy cái bàn dài hoen ố vết mực. Từ giã lớp thầy, chúng tôi chuẩn bị gặp nhau sau hè vào đầu niên học của trường Nam Tiểu Học.
                                *
    Thế là tôi xa cái lớp vỡ lòng, ồn ào, trong cái xóm nhỏ. Sau hè 1960, tôi được nhập học Trường Nam Tiểu Học QT. Một khoảng không xa, từ Phường Đệ Tứ lên khỏi vài cột đèn, tính từ đầu đường Trần hưng Đạo là đến cổng phụ của trường phía đường Trần hưng Đạo. Ngày khai giảng, thật là một "sự kiện" đậm nét trong đời- nào giấy tờ khai sinh, hộ tịch, nào chầu chực nộp đơn, chờ kết quả. Ba tôi làm xa tận quận Ba Lòng nên mẹ tôi lo lắng chu toàn. Ngày tựu trường, tôi được mặc cái cụt treo bằng vải kaki xanh, áo trắng, đồng phục. Tôi níu tay mẹ, tưởng như đi tới thế giới xa lạ nào đó không bằng. Những ngày vui vẻ, hồn nhiên dưới mái nhà thầy Bồi tôi bạo dạn chừng nào, thì nay tôi nhút nhát chừng đó. Tôi vào lớp rồi, mẹ tôi còn ngồi lại tại cổng trường, đợi con trai về trong ngày đầu nhập học. Tôi ghi nhớ hình ảnh hai bà mẹ, bận áo dài  ngồi đợi co nói chuyện với nhau trước cổng trường chính hướng ra bờ sông tức con đường Gia Long ngày đó.

    Trường Nam tiểu học có dãy trường chính khang trang gồm mấy lớp. Lớp Năm C của tôi, sao to lớn, lạ lùng. Nhũng chiếc ghế riêng cho từng em, có nắp bàn lật lên xuống được,  những túi kẹo bi, đồ chơi xanh đỏ treo trên vách tường. Cô Lớp năm trường công đầu đời của tôi là phu nhân của thầy Thái Mộng Hùng. Giờ này các vị, lớp thầy cô chúng ta hầu hết đã về với lớp người thiên cổ. Ngay chúng ta giờ đây cũng người còn kẻ mất, huống gì là các bậc phụ sư.

    Học tại trường Nam Tiểu Học chính gần bờ sông được một năm, lớp tôi lại dời qua học tại Trường Nam Cửa Hữu- một dãy trước cổng thành Đinh công Tráng. Đây là trường phụ nên chỉ là một dãy nhà lợp tôn ngó ra đường Phan đình Phùng. Trường có bốn lớp và một văn phòng nhỏ ở đằng đầu. Tôi nhớ cái kính lão của Thầy Biền. Thầy vừa chấm bài vừa nhướng mắt ngó xuống lớp- tiếng thước thầy gõ đôm đốp lên mặt bàn. Tôi không quên hàng cây nhãn trước sân.  Mấy cây nhãn tuy cao nhưng chẳng bao giờ thấy trái. Tôi nhớ cái kẻng thay trống làm bằng thanh sắt đường rầy. Tiếng kẻng ra chơi là lúc chúng tôi chạy qua căn nhà giặt ủi bên hông trường mua duy nhất một thứ kẹo xóc.
                                  
                                    *


    Lên được lớp nhất, chúng tôi được qua lại trường chính. Lớp Nhất C của tôi được thầy Khánh coi dạy. Thầy Khánh (tôi không có cơ hội biết họ) người Huế, có giọng nói dịu dàng hiền lành làm sao. Lạ một điều, mặt Thầy hay đỏ gay nhất là khi thầy nói. Thầy Khánh ra dạy trường Nam chỉ một vài năm gì đó thôi...

    Có một lần Thầy Khánh đi đâu tạt qua xóm Cửa Hậu. Thấy tôi đứng phụ bán quán cho mẹ, thầy ghé vào thăm. Tôi vẫn nhớ hình ảnh thầy cười hiền lành, lại khen tôi có khiếu về văn. Thế mà lời khen của thầy sao "linh" thật? Năm 1965, tôi đậu vào lớp đệ thất Trường Nguyễn Hoàng căn bản lại nhờ vào bài luận khá nhiều. Nhưng lạ một điều, lên đệ Nhị Cấp tôi lại xin vào ban B và cuối cùng lên lớp 12, do tôi ôm mộng y khoa Huế nên chuyển qua ban A.


  Chuyện năm lớp nhất tôi có nhiều bạn cùng phường như Lê xuân Hùng, Nguyễn văn Bốn, Trương Sừng, Trần Tài, Trương Lợi (còn là liên toán trưởng của lớp tôi), Nguyễn kim Long... những đứa bạn trên phố như Hồ đại Đường, Trần chính Nghĩa, Hồ đắc Lễ, Lê Cảnh Dỏ, Trương sĩ Dũng, Hoàng Đạo... tôi nhớ về  Đạo do bạn có giọng bắc rất đúng thầy Khánh hay kêu Đạo lên đọc chính tả cho cả lớp viết.  Còn nhiều đứa bạn khác nhưng tôi  chỉ nhớ tên không nhớ họ do có khi nào gọi nhau luôn cả HỌ bao giờ...

vợ chồng bạn cùng xóm Cửa Hậu Nguyễn v Bốn (hiện nay)



cuối năm 2013 giáp tết 2014, thầy Lê hữu Thăng cùng một số đồng môn Nguyễn Hoàng tới thăm Hồ đại Đường bị tai biến nhẹ tại Sài Gòn. Bạn Đường đã mất năm ngoái 

   Trần chính Nghĩa (đứng) tới thăm vc Hồ đại Đường ở SG 



hơn 50 năm sau một Lê Cảnh Dỏ lưu lạc nam phương mang theo tiếng hát phiêu lưu lãng tử giúp vui cho người cho đời (hình 2017)

                                       






Hoàng Đạo làm "dân Sài Thành" từ lúc nào chẳng ai hay.

    Trường Nam QT bước sang năm 1965 đã được xây thêm nhiều dãy mới. Lớp Nhất C quay lưng với Ty Tiểu Học. Sau ông Lê Hành có ông Hoàng văn Ngũ có con gái là Hoàng Như Huy bạn cùng lớp với vợ chồng chúng tôi.

Trương Sừng nay xứ người phương trời Texas (2017)
ngày 2.7.2023 vừa rồi ĐHL về nam Cali nhưng chỉ gặp được Sừng qua Facebook, Sừng lại nằm yên trên giường do vừa đi chữa tim mới về nhà. Từ 1972 tới nay người viết mới thấy được Sừng nhưng chỉ qua mạng mà thôi. Sừng cũng nối gót ra đi theo người thiên cổ vào cuối tháng 1 năm 2024 tại Texas


trái cây ngô đồng mé sân trường Nam Tiểu Học ngày đó chúng tôi hay làm bánh xe chơi

    Thời gian này những học sinh đủ điểm thì miễn thi tiểu học có cấp chứng chỉ tạm thay bằng tiểu học. Nhắc lại trường Nam Tiểu học Quảng Trị, tôi không muốn bỏ qua hình ảnh mấy cây ngô đồng đầy gai nhọn nhưng trái khô rơi xuống lại giúp chúng tôi làm bánh xe đồ chơi. Mấy cây ngô đồng trong khuôn viên trường Nam ngó ra con đường nhỏ nối hai con đường Gia Long và Trần Hưng Đạo, con đường đìu hiu không ai còn nhớ tên. May thay sau này nhờ nhóm Đồng Môn Nguyễn Hoàng trên Facebook vẽ lại sơ đồ thị xã mới nhớ đó là đường Cao Thắng. Người viết khó lòng quên hàng cây dương cùng mấy cây phượng vĩ cổ thụ hai bên con đường Gia Long bên bờ sông Thạch Hãn im vắng. Cổng trường chính lại nằm phía con đường Gia Long, ít kẻ vô ra nên trường Nam còn có thêm một cổng thứ hai ngó ra con đường Trần Hưng Đạo đông học trò vô ra hàng ngày.

Nguyễn Kim Long khung trời Bình Dương 2017- bạn Long sau này học chung cho đến năm lên lớp đệ tứ 
                                     




                                       *
    Mẹ tôi nay đã đi xa về miền miên viễn, duy quá khứ thuơng yêu trong ngày đầu tiên NHẬP HỌC mãi khắc ghi trong lòng tôi. Hình ảnh ngôi trường đầu đời và lũ bạn mến thương vẫn mãi còn trong hoài niệm. Ôi nhớ lắm kỷ niệm êm đềm một ngày đầu thu mẹ tôi nắm tay con dẫn đến Trường Nam Tiểu Học. Đó là một dấu ấn khắc ghi, một bước ngoặc cuộc đời cho tương lai phía trước của đứa con trai. Từ ngày đó, dấu chân nhỏ bé của một thằng bé ngày hai buổi đi về trên con đường Lê văn Duyệt thân quen hòa nhịp với tiếng cười đùa vô tư của lũ bạn thân tình.

    Ngày Đầu Đi Học của Thanh Tịnh là hình ảnh " lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bac..." đó là cảm nhận của một nhà văn chuyên nghiệp. Riêng tôi thì không. Dù sao tôi vẫn tin rằng, ngày đó là một ngày cuối thu, tháng chín, năm 1960. Hình ảnh lưu luyến và thuơng hoài trong tim - mẹ tôi áo dài trang trọng, còn tôi thì đồng phục chỉnh tề trong NGÀY ĐẦU NHẬP HỌC ./.

tái biên ĐHL

Thursday, August 7, 2025

TRẦN ĐÌNH PHƯỚC - TRÁI KEO CHỢ TRỜI



                     Trái Keo  

              Nhớ Lại Thời Thơ Ấu

 

       (Thân tặng những ai đã từng thưởng thức hương vị của trái Keo)


 

     Thành Phố San José có hai Chợ Trời: Chợ Trời Lớn số 1590 Berryessa Rd, San José, CA 95133, đậu xe phải trả tiền, và một ở số 3630 Hillcap Ave, San José, CA 95136, nằm ngay góc ngã tư đường Capitol Expressway và Snell Ave, còn gọi là Chợ Trời Nhỏ.

 

     Cuối tuần vừa qua. Thời tiết ấm áp, nắng vàng đẹp. Rảnh rỗi, tôi đi The West Wind Capitol Flea Market. Còn gọi là Chợ Trời Nhỏ. Đây là một ngôi chợ khá quen thuộc với bà con người Việt vùng Bắc Cali. Bà con rất thích đi Chợ Trời này. Chợ chỉ mở 5 ngày, từ Thứ Tư đến Chúa Nhật. Chỗ đậu xe rộng rải và miễn phí. Vé vào cửa tùy theo ngày. Thứ Tư $0.50 , Thứ Năm $1.25, Thứ Sáu $0.75, Thứ Bảy $1.75 và Chúa Nhật $2.50 (Bà con người Mễ thích đi vào ngày này vì có Ban Nhạc trình diễn trên sân khấu mái che và cùng nhau kéo ra Khiêu Vũ rất hào hứng, hấp dẫn.)

 

     Mỗi khi có bà con, bạn cũ từ các tiểu bang xa ghé thăm San José. Tôi thường lái xe đưa họ đến đây, để cho họ biết về chợ trời nhỏ ở San José. Chợ này bán thượng vàng, hạ cám: cây trái, hoa lá, bánh trái, quần áo, đồ chơi trẻ em, vật dụng dùng trong nhà, dụng cụ làm vườn, và nhiều thứ linh tinh khác. Nhiều món giá rẻ không ngờ và đôi khi có món giá cũng mắc vô cùng

 

    Khi đi ngang qua các gian hàng bán trái cây của người Mễ. Tình cờ, tôi thấy một gian hàng bán trái Keo, với giá mà tôi không thể tưởng tượng được “$20.00/1pound”. Họ không cho khách muốn mua được sờ tay tới và cũng không mời khách ăn thử. Trong khi đó, các loài trái cây khác, khách tha hồ được mời ăn thử. Nhìn những trái Keo màu xanh, màu đỏ nằm ngổn ngang, trơ hột phơi trên quầy. Bỗng nhiên, “ký ức tuổi thơ của tôi trở về.”

 

     Nhớ lại, ngày xưa các bạn trong xóm Giếngxóm Cù Laoxóm Nhà Đèn và tôi thường hay lén ba má đi tắm sông ở cầu Kiệu, Cầu Công Lý, cầu Trương Minh Giảng, Cầu Bông. Nơi đây, thuở đó có nhiều cây Keo mọc hoang dại từng bụi, từng lùm.

 

    Vào mùa hè trái vừa sống, vừa chín xanh đỏ lẫn lộn. Trông rất đẹp mắt. Không đứa nào trong bọn tôi dám trèo lên hái, vì thân cây toàn là những gai nhọn như bàn chông. Người ta đồn có Ông Bà khuất mặt, khuất mày ở trên đó, đứa nào mà leo lên quậy phá. Ông Bà sẽ quở phạt, bẻ què cẳng què tay, hay cho Ma Da rút chìm xuống sông thành thằng Chổng.

 

     Vì thế ! Bọn nhóc tì tụi tôi thường lấy dép, gạch liệng, hay dùng ná thun với đạn làm bằng đất sét để bắn. Sau này, biết cách dùng cây sào dài có móc dây kẽm để hái. Trái Keo có mùi thơm nhẹ nhàng. Lúc trái còn sống ăn chát chát, chua chua và khi trái chín thì cho vị ngọt ngọt.

 

     Ngày xưa trên đường Chi Lăng (Gia Định), nằm giữa khúc đường Ngô Tùng Châu và đường Hoàng Hoa Thám (có Bót Hàng Keo), đường Vạn Kiếp, còn có tên đường Hàng Keo, nằm bên hông Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và hàng rào bao chung quanh sân Vận Động Hoa Lư trên đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao … trồng toàn là những Cây Keo. 

 

     Khi mùa hè đến, trái Keo nở chín rộ trên cây. Trong lúc này, học sinh được nghỉ học cùng rủ nhau kéo đến hái, hay lượm các trái Keo bị gió thổi rt đầy trên lối đi. Tuy nhiên, ăn nhiều trái Keo không tốt cho bao tử, ăn nhiều dễ bị táo bón.

 

     Bây giờ, tất cả đã đi vào quá khứ. Cây Keo hầu như không còn nữa! Người ta lấp sông, lấp ao, lấn đất,chặt bỏ để xây cất khách sạn, nhà hàng, biệt thự ... Ngoài ra, có lẽ cây Keo cũng không có giá trị nhiều về mặt xây dựng và kinh tế. Nên dần dần mai một theo thời gian. Giờ đây, tìm thấy một cây Keo xuất hiện đâu đó ở vùng Sài Gòn và Gia Định, chắc là rất hiếm!

 

     Trái Keo trong Chợ Trời Nhỏ bán với giá $20.00 /1 pound thì mắc quá! Giá như vậy thì cao ngất ngưởng trời mây. Nếu bỏ vỏ và hột đi thì không còn lại bao nhiêu. Phải chi, trái Keo có Dược Tính trị được các bệnh hiểm nghèo, giúp cho trí óc thêm minh mẫn, sáng suốt, cải lão hoàn đồng, kéo dài tuổi thọ, trưởng sinh bất tử, tăng cường sinh lực hơn gấp nhiều lần: Nhân Sâm Đại Hàn, Cao Hổ Cốt, Mật Gấu, Tam Tinh Hải Cẩu Bổ Thận Hoàn, Đông Trùng Hạ Thảo, Fucoidan, Yến Sào, Collagen, Sữa Ong Chúa, Nấm Linh Chi, Nước Nhàu Noni, Nước Alkaline, Omega -3, Sữa Ensure, Oil Fish, Sụn và Vi Cá Mập…được quảng cáo ra r, rầm rộ suốt ngày, suốt đêm trên các phương tiện truyền thông đại chúng của người Việt, thì may ra bà con, nhất là các bác cao tuổi sẽ chen lấn, giành nhau mua cho bằng được Linh Dược Trái Keo.

 

     Riêng tôi, nếu trái Keo giá chỉ vài đồng một Pound thì tôi sẵn sàng bỏ tiền ra mua. Mục đích để nhớ lại bạn bè thời ấu thơ cùng nhau chơi đánh đáo, bắn đạn, tạt lon, tạt hình, năm mười, u bắt mọi, bắt cu, hái me, hái trái trứng cá, đá cầu, đá banh, tắm mưa, tắm sông, bắt để, bắt cà cung, bắt cá Lia Thia ở cầu Bình Lợi, cầu Băng Ky .., mà bây giờ đếm lại không còn bao nhiêu. Đa số đã theo Ông, theo Bà từ khuya lắc, khuya lơ. Mấy đứa còn lại đang vất vả, vất vưởng ở vùng Tân Định và Đa Kao, hay đang sống tha phương nơi xứ ngưi. Đứa nào, đứa nấy tuổi cũng sắp gần đất, xa trời, trên tay đã cầm sẵn vé một chiều, chờ lên chuyến tàu cuối đi về miền miên viễn.

 

     Dù sao, tôi cũng xin cảm ơn gian hàng bán trái Keo của người Mễ trong Chợ Trời Nhỏ, San José đã cho tôi tìm lại “Ký Ức Thời Thơ Ấu”, mà tôi tưởng chừng như đã đánh mất.

 

      Ôi! Trái Keo kỷ niệm ngày xưa còn bé của những ai tuổi thất thập cổ lai hy và tôi đang dần dần nghìn trùng xa cách. Một ngày nào đó sẽ không còn thấy. Cho dù, trong tay có tiền muôn, bạc biển.

 

Trần Đình Phước 

(San José, California)  

TỪ IRAQ TỚI IRAN TT TRUMP VẪN MỞ CÁI HỘP PANDORA trong HUYỀN THOẠI

     CHÀO bạn đọc       Cuộc tấn công của khủng bố Hồi Giáo vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đánh vào nước Mỹ từ đó đã định hình chính sách ngoạ...