Wednesday, September 3, 2025

ĐỤN RƠM XƯA và LÀN KHÓI LAM CHIỀU (edition)

 

 

Mỗi lúc đàn chim khuất về nẻo tối
Ánh nắng còn lưu luyến ngoài lưng đồi
Đường chiều xa vắng, mây nước mênh mang,
nghe lòng bâng khuâng nhớ nhung,.. (tác giả Lan Đài -Khói Lam Chiều)




TRÂU ĐANG ĐẠP LÚA NGÀY XƯA
 ĐẠP LÚA XONG SẼ XÂY ĐỤN RƠM BÊN CẠNH có trụ tre ở giữa 



 Thương về một thuở  hồn quê có MẸ tôi cùng có xóm Cửa Hậu, Thôn Đệ Tứ, Thị xã Quảng Trị

ĐHL

*     

  Chắc sẽ có bạn đọc mĩm cười, lạ gì cái đụn rơm mà viết. Thưa với bạn đọc chuyện là do cái xóm Cửa Hậu của chúng tôi ngày xưa tiếng ở thành phố lại giáp ranh với những đám ruộng hai thôn Hạnh Hoa cùng Trí Bưu nên mới có hình ảnh cái đụn rơm làm đề tài để kể lại ít nhiều cho bạn đọc nghe chơi...

  Thuở đó khoảng trước năm 1963, tôi chưa lên mười tuổi, xóm tôi ở có vườn nhà Ông Lâm tức là ông thân của võ sĩ Bách Tùng Lâm. Nhà ông kế cận nhà ngoại tôi. (sau này khoảng sau 1961 (?) ông bán nương vườn này lại cho ông thân sinh của bạn Hà thị bích Huờng  và dời nhà ra phía ruộng). Ông Lâm làm nông . Cái nhà rường của Ông nằm giữa mấy bụi tre và vườn chuối rậm rạp. Dù xóm tôi ở trước Cửa Hậu, nhưng qua vườn nhà Ông thì rõ ràng đây chẳng khác cái cảnh thôn quê chút nào.  Nào cảnh gặt lúa xa xong gánh về nhà, phơi đập, cuối cùng là chuyện xây cái đụn rơm.  Hình ảnh "về làng" là cái đụn rơm, làn khói lam chiều sau vườn nhà khi ông cho con bò  về chuồng sau buổi cày chăm chỉ.

   Người kể chuyện cho rằng, đụn rơm có thể biểu hiện cho sự sung túc no đủ của người làm nông. Lúa nhiều thì đụn rơm càng to. Xây đụn rơm là cả một quá trình công phu, cẩn thận đâu phải đem bỏ lồm xồm cho mau đầy đống. Gánh lúa về trước hết là đạp lúa mới còn lại rơm. Tiếng roi "tron trót" thúc chú bò vừa rủng rỉnh đi quanh cái trụ , những bó lúa đã bó gọn chắc nịch từ ngoài ruộng gánh về chất đống một bên. Con bò không ngơi bước. Con bò của nhà ông Lâm quan trọng đến thế. Cứ mỗi vòng đi là Ông lấy cái đòn "sảy" móc bó lúa thảy vào cho con bò tiếp tục dẫm lên . Đó là cái "nền , móng" cho đụn rơm ngày mai khi đạp lúa hết.

    Trí nhớ tôi không thể nhớ hết khi làm sao đụn rơm có thể lên cao chót vót trên kia? Nhưng cuối cùng, sẽ là cây tre bắt chéo từ trên phủ xuống để giữ cho đụn rơm khỏi gió. Cái trụ nằm giữa, cho các lớp rơm của nhà ông Lâm xây quanh, cao dần lên đạp chắc nịch. Cuối cùng là mấy cây tre bắt chéo từ chóp đống rơm thả xuống hai bên cho rơm khỏi tung khi gió thổi.



Ngồi buồn đốt một đống rơm
Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào.
Khói bay đến tận Thiên tào

Thượng hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm? 
 [ca dao]  
   















   Tôi thương và nhớ mãi mùi đụn rơm. Ta có thể gọi chính nó mới khắc ghi được một thuở "hương đồng cỏ nội"- những lúc ham mê chơi đuổi bắt hay trốn tìm cùng mấy đứa bạn quanh đụn rơm xóm cũ.  Tiếng bầy chim sẻ trên cành tre bìa vườn bác Lâm ngày xưa, giáp giới cánh đồng Cổ Thành chạy về  bờ sông Vĩnh Định tận bờ tre mờ nhạt phía làng An Tiêm. Những lần chị Dao, con gái Bác Lâm, rủ tôi đi nhặt ốc bươu hay bắt đam ngoài ruộng. (Sau này người ta lấy đất cày đắp thêm, mở mang xóm Cửa Hậu. Thế là có thêm nhà ông Nguyễn Tri Duyến, ông thân của chị Đoàn, chị Liễu...xóm  lấn dần ra ruộng...có mấy nhà vợ con lính từ làng lên ngụ cư và tiếp đến Đại Đội Võ Trang Chiêu Hồi thành lập...)
    
    Mỗi khi ông thân chú Tùng vác cày từ ruộng về, dáng ông mạnh khỏe, chắc nịch.  Bên trong con người điềm đạm, hiền lành kia có ai ngờ  ông là một nhà võ? Thứ võ Ta này  ông truyền lại  cho hai con trai là chú Bách, chú Tùng. Chú Tùng sau này lấy biệt hiệu là Võ Sĩ Bách Tùng Lâm.  Người phường Đệ Tứ QT trước đây còn nhớ đến chú Tùng nhiều. Tôi xin viết riêng một ít để giải thích tại sao chú Tùng lại lấy biệt hiệu này?  Đó là cái tên ghép của ba người trong nhà: Bách là anh đầu. (Chú Bách là bạn của cậu Võ tự Phương tôi. Sau này cả hai đều là Thiếu Sinh Quân AET sau là TQLC). Chú Bách sau này lấy vợ người quê Bình Định. Câu "ai về Bình Định mà coi , con gái Binh Định múa roi đi quyền"  vậy mà thật a! chú Bách là con trưởng của Ông Lâm, võ Ta chân truyền đâu phải là vừa? Thế mà khi gia đình ông Lâm dời nhà ra phía ruộng, cô dâu Bình Định có chuyện xích mích với chồng trỏ ngón gia truyền "thắng luôn" chú Bách.

    Người kể chuyện cũng xin bắc cầu kể qua em trai kế chú Bách tức là chú Tùng. Chú Tùng sau này là 'sếp' của lính "Xi Ti" của Mỹ tại QT. Hồi này tuy còn nhỏ, người viết còn nhớ những buổi văn nghệ tại Ty Thanh Niên hay nhà Đại Hội (sau lưng tòa Hành Chánh QT). Làm sao quên được sự háo hức và tự hào khi nghe tiếng loa vang giới thiệu:

            - Đây!  Võ Sĩ Bách Tùng Lâm...

     Chú Tùng ra biểu diễn những đường võ ta. Bắp thịt nổi  cuồn cuộn-trông chú chẳng khác chi hai lực sĩ Nguyễn công Án hay Nguyễn  thành Nhơn vào thập niên 1950 những lực sĩ thần tượng cho cậu Võ Hoa tôi, người hay chưng hình ảnh họ trong nhà.


Lực sĩ Nguyễn Công Án 1956 VNCH
 đoạt giải Nhất Lực Sĩ Đẹp thế giới.
   

Thật là "sướng con mắt" và cũng tự hào cho người dân trong xóm Hậu cũng như chung cho toàn Thôn Đệ Tứ năm xưa biết chừng nào!


    Tôi lại miên man lạc đề mất...

     Giờ xin trở lại về chuyện cái đụn rơm  ra sao? Chuyện cái đụn rơm này còn một thứ để kể về một lần đoàn làm phim từ trung ương Sài Gòn ra đây đóng một cuốn phim trong cái thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Cái ngày đó những thanh niên trong phường đều được "trưng dụng ", không có tôi do tôi là con nít. Người viết còn nhớ -  chú Nguyễn Bích (em đại tá Nguyễn Bé Chỉ Huy về Xây Dựng Nông Thôn VNCH) rồi đến  các chú  Trương Đá, chú Liệu, Chú Thuận  (em ông Cai Hy),  thời này còn học sinh "độc thân vui tính", tất cả đều sốt sắng đóng vai Thanh Niên Chiến Đấu. Trong màn đêm tất cả đều bận đồ đen, tay cầm đuốc chạy quanh đụn rơm. Cảnh quay phim rộn ràng huyên náo...tiếng kẻng tiếng mõ  đánh nghe inh ỏi dồn dập, liên hồi...

 Tất cả hình ảnh  đều tập trung vào cái máy quay phim trắng - đen quay nghe "sè sè". Chiếc máy điện đặt chính giữa sân nhà chạy nghe  "xình xình". Bà con lối xóm phường Đệ Tứ có một đêm vui vẻ lạ và nhớ mãi trong đời. Làm gì có một đoàn làm phim từ Trung Ương Sài Gòn ra tận xứ "khỉ ho cò gáy"như hôm đó? Đoàn làm phim trú lại xóm, đèn 'măng sông' thắp lên làm việc, trông thật rộn ràng mà cũng chẳng kém phần "hệ trọng".  Người viết nay còn nhớ, nhưng các bậc đàn chú, đàn anh như các chú Trương Đá, Nguyễn Bích, Bách Tùng Lâm ...chắc gì còn nhớ  ? mà lớp tiền bối này chắc hẳn còn lại bao nhiêu người. Ngồi kể lại hôm nay (2025) thế mà giờ đây các bác các chú, các anh tất cả đã về với người muôn năm cũ...



    Trang mạng Đồng Môn Nguyễn Hoàng Quảng Trị vừa đưa tin Anh Nguyễn Bích là người ra đi cuối cùng tiếp nối sau cậu tác giả là Võ tự Bé một người anh trong thôn Đệ Tứ mà A Bích rất quý mến. Người cậu của người viết đã ra đi cách đây 2 năm. Thế là những bậc trưởng thượng những lớp đàn anh  trong thôn Đệ Tứ ngày xưa, hầu như tất cả đều nối tiếp nắm tay nhau ra đi thật xa về "trời miên viễn". Dù đó là một định luật cuộc đời không ai tránh được, nhưng hôm nay sao tôi lại xao xuyến và thật buồn...
Hôm nay chỉ còn lại lác đác những đứa em đứa cháu, thuộc thế hệ hậu bối như người viết đây, dung rủi ra sao lại có cơ hội ngồi viết lại những dòng tâm tư tình cảm, hoài mong chút gì lưu bút hay hoài bão nào đó hầu vẽ lại một bức tranh ký ức xa xưa, một trời thân ái...con đường Lê văn Duyệt, Thôn Đệ Tứ xóm đường Duy Tân cùng thôn Đệ Tam cận kề thương mến ngày nào?!



***

Sau cuộc 'đổi đời' 1975, vào năm 1997 sau khi gia đình tôi đi Mỹ 2 năm, Mẹ tôi từ Bình Tuy (Bình Thuận cũ) được một dịp về thăm làng xưa Nại Cửu. Hình ảnh đụn rơm chia theo 'công điểm' bên mái hiên nhà cậu tôi, Võ thế Hòa làng Nại Cửu vào năm 1997 khi làng ngoại tôi đã vào Hợp Tác Xã













Hình ảnh Cái đụn rơm trong hình bên cạnh, ngày đó xem bình thường nhưng giờ đây trở thành lịch sử của kỷ niệm thân thương... Đó là đụn rơm tại nhà cậu họ tôi tên là Võ thế Hòa, làng Nại Cửu. Năm này là năm 1997, ruộng đồng Làng Nại Cửu đã vào "hợp tác".  Bao ấn tượng sau cái năm 1975, cậu Võ thế Hòa làng ngoại tôi từng tỉ tê kể lại cho đứa cháu ngoại nghe rằng  ngoài cái chuyện lúa thóc chia theo "công điểm" và ngay cả  rơm sau mùa gặt hợp tác cũng chia.  Khi đã vào hợp tác thì hình ảnh đụn rơm bên mái hiên nhà cậu tôi sao nhỏ bé đến thế kia. Theo con mắt đứa cháu như tôi một lần 'trốn trại' về làng nó là hình ảnh rõ nét nhất cho đói nghèo, thiếu gạo thiếu lúa, khó lòng quên được.

    Như thế ngược về quá khứ xa hơn nữa, một quá khứ êm đềm mà người viết đang kể lại đây; chắc hẳn  đụn rơm to lớn của nhà ông Lâm kế nhà ngoại tôi là những gì ấm no, một thời bé bỏng xa xưa.

    Đụn rơm tuy cao thế, nhưng khi rút rơm thì lại rút từ dưới. Lâu ngày hỏng chân , thấy cả khoảng trống nhưng lại không bao giờ sụp đổ thế mới hay. Có đụn rơm, người nông phu thấy vững tâm, không lo thiếu củi . Mẹ già lui hui nấu bếp rơm sau vườn .  Mẹ dùng cái que nè xăm xoi cho rơm bừng cháy.  Cái nồi thật lớn thế mà vẫn sôi vẫn chín. Tro rơm để đó làm phân chẳng bỏ thứ gì. Con heo nái chuyển bụng , cái chuồng trống trải cần lót cũng cần có rơm. Cái thúng đựng máy cặp đường đen cất cho nồi chè mồng Năm Đoan Ngọ, không có rơm vình chắc là đường ướt. Con nhà nông coi đụn rơm như người bạn "chí cốt, chí tình" không thể rời xa.

                   khói lam chiều

   Có được nồi cơm, ấm nước, bới cho bác nông phu đang cày ngoai` ruộng, người ở nhà phải chắt chiu , góp nhặt từng cành tre gãy, từng cọng rơm khô. Đụn rơm kia là nguồn lửa cho chén cơm thơm, miếng canh ngọt bùi, nuôi sống cho con nhà nông những lúc làm lụng nhọc nhằn. Đụn rơm bên hông nhà là hình ảnh không thể thiếu trong con mắt nhà nông. 


Mỗi lần vác cày về nhà, người làm  ruộng ngắm đụn rơm như "núi của" đứng bên hông nhà làm bác ngó hoài không chán mắt. Đụn rơm "càng lớn- càng to" thì bác càng mừng, càng bớt lo toan về chuyện củi lửa nấu cơm. Trường Sơn phía xa, trên thuợng ngưồn Thạch Hãn. Biết rừng lắm củi, thế mà người dân miệt ruộng làm sao có những chuyến viễn hành như thế.

   "Hết gạo thì có Đồng Nai, hết củi thì có Tân Sài chở vô ", Tân Sài ở mô trên đó khi núi rừng trùng trùng điệp điệp? Người làm ruộng quần quật suốt ngày, đi sớm  về chiều chẳng có khi nào vác búa tiều phu lên được rặng núi màu xanh lam xa tận trên thượng nguồn Thạch Hãn?  Trên đó, rừng thiêng chắc chắn không biết cơ man nào là chuyện gỗ củi; nhưng làm răng mà lên tận trên ngàn để chuyển củi về chất đống được trước hiên nhà bác, thay cho được cái đụn rơm đơn sơ kia?

 đò chèo lên nguồn Thạch Hãn


    Cậu tôi còn kể cho tôi nghe rằng: năm xưa lúc còn hòa bình; lần nào Làng rủ nhau lên lấy củi Trường Sơn thì quả là một việc "trọng đại". Nào thuê đò, nào người chèo gồm thanh niên trai tráng trong làng. Chèo lên quá An Đôn, Như Lệ và xa hơn nữa tức là qua khỏi Trấm. Cơm nước mang theo ở lại trong rừng một hai ngày sau mới chèo đò về. Đò thì nhỏ vừa chở người vừa chở củi thì đặng bao nhiêu. Chia nhau củi, mỗi nhà chỉ được một mớ hỏn hon.  Nhưng đó là chuyện mấy năm trước, lúc sau này chiến tranh càng lúc càng gắt thì chuyện chèo đò lên rừng lấy củi chẳng mấy ai dám. 

*

    Đụn rơm là hình ảnh thân thiết, lấp ló sau lũy tre xanh. Rơm ấp yêu mái tranh nghèo, đơn sơ bình dị như hơi ấm mẹ hiền mãi mãi thuơng con. Người đi xa về nôn nao chân bước, khi vừa thấy đụn rơm bến mái hiên nhà. Khói lam chiều nhè nhẹ tơ vương, êm ả tiễn đưa từng buổi chiều vàng. Rơm và khói, huơng quê bất tử nao lòng người xa xứ, đụn rơm làng là những gì mãi mãi hằn ghi!
  


BÌNH THUẬN
30 năm sau (2017) 

            NHỚ MẸ NHỚ LÀN KHÓI LAM CHIỀU


Những ngày cuối cùng của cuộc đời xa xứ,  ảnh mẹ tôi tại Bình Tuy vẫn lay hoay bên nương khi vài chút khói nương nhẹ theo làn gió phất phơ bay trong những buổi chiều tà còn lại...làn khói lam chiều từ quê hương những ngày son trẻ nay như sống lại, vương vấn bên tháng ngày còm cõi của cuộc đời Mẹ. Nhớ về hình ảnh cũ, tôi nhớ thương hình ảnh  mẹ già bên làn khói tơ vương. Rồi tất cả sẽ theo nhau về vùng kỷ niệm, bao hình ảnh bay xa như những đám mây chiều lảng đảng trôi về cố lý


*

     Hôm nay (1997-2021) lúc ngắm lại hình ảnh mẹ tôi cười tươi bên đụn rơm  quê ngoại, thế mà gần hai mươi lăm năm. Mẹ tôi về lại Cam Bình, Bình Thuận, nay thân già còm cõi, lần hồi trí não lu mờ.  Cho đến hôm nay đầu năm 2021, lúc tạ từ dương thế, mẹ tôi không ngờ lần về quê năm đó là lần cuối cùng trong đời, vĩnh viễn không còn cơ hội về quê thêm lần nào nữa. 



     Dù sao, lúc ngắm lại tấm hình mẹ tôi tươi cười bên đụn rơm quê ngoại, tôi tin mẹ tôi có phần nào mãn nguyện trong một chuyến về thăm lại quê hương. Một chuyến về làng, được cười vui bên đụn rơm bà con thân thuộc,  ấm áp tình quê.

hình: đường về làng ngoại tôi, dẫn vào người cậu họ, Võ thế Hòa ( tự Dâu)


   Một lúc nào đó trong tương lai, các đạo diễn có thể sẽ khó khăn lắm mới dàn dựng được mái nhà tranh nhằm làm phim ảnh. Chắc hẳn họ phải lắm công phu nếu muốn làm thêm một đụn rơm bên cạnh mái tranh nghèo cho hợp hình ảnh ngày cũ. Riêng đối với người viết, nhớ hình ảnh đụn rơm là nhớ về thôn cũ, một trời Quảng Trị...bao ký ức hiện về tiếng mõ, tiếng kẻng, bập bùng những ngọn đuốc lập lòe trong đêm từ một buổi làm phim bên đụn rơm kế bên nhà ngoại...những khuôn mặt trai trẻ thân yêu, các chú Nguyễn Bích, Trương Đá...ngày xưa từng sống bên con đường Lê văn Duyệt, một thành phố xa xưa...

 Cảnh "cày sâu cuốc bẫm" sẽ biến mất trong cái nghề làm ra  " hột ngọc của trời".  Hình ảnh "lấy rơm đun bếp" chắc sẽ nằm trong "kho tàng" cổ tích mà thôi. Có ai trong chúng ta vẫn còn may mắn nhìn được hình ảnh đụn rơm trong một lần thăm quê. Xa xa, lấp ló sau lũy tre làng, có vài làn khói cơm chiều nhẹ tỏa. Khói bay như giục chân  lữ khách bước nhanh. Người về thăm vừa nôn nao bước mà nghe trong lòng đầy ắp tình quê ./.


ĐHL last edition 
3/9/2025





chỉnh bản lần cuối
 11/4/2022 San Jose USA
by ĐHL

CHUYỆN CHIẾC ĐỒNG HỒ TIMEX

Bạn đọc thân mến

Trước tiên mời bạn đọc xem một ký ức của người em trai người viết...


                                                    di ảnh ba tôi 1964 (Lido Ảnh Quán QT)



NGƯỜI BẠN MỸ CỦA BA 

    Những năm đầu của thập niên bảy mươi, cuộc chiến ở miền nam ngày càng trở nên khốc liệt, chiến tranh lan rộng không phải chỉ trong những cánh rừng xa mà đã về phía ngoài thành phố nơi tôi ở. Huế, những ngày này từng đoàn xe lũ lượt xuôi vào Đà Nẵng, người dân như tiên đoán được mùi vị của một cuộc chiến đẫm máu đang chực chờ bên hông nhà. Ba tôi lúc này ít khi về nhà. Ba  đang công tác ở ty cảnh sát Quảng trị, thỉnh thoảng Ba ghé tạt qua nhà rồi vội vã đi,những gia đình của các viên chức Mỹ ở cạnh nhà tôi hình như đang chuẩn bị cho một sự thay đổi mỗi khi họ tiếp xúc với mọi người,dù không nói ra nhưng thâm tâm họ đang nhìn mọi người bằng ánh mắt của một người sắp phải chia tay, sắp phải ra đi không một lời từ biệt. 







    Gia đình của James, cũng vậy, James ở cách nhà tôi mấy chục mét, vợ của James người Việt nghe nói ở đâu đó tận miền tây. Họ có một con gái khoảng một hai tuổi. James và vợ thường hay bồng con mỗi tối, khi đến nhà tôi chơi. Vợ của Jame thích đánh bài tứ sắc như mẹ tôi, nên cứ mỗi chiều khi người chồng Mỹ đang ở công sở, chị ấy bồng con qua nhà tôi, gửi con cho chị tôi để bốc bài cùng mẹ tôi và mấy bác hàng xóm. Chị tôi rất thích cô bé  lai Mỹ này. Bé rất xinh, tóc quăn, mắt to và sâu, da trắng ngần như con búp bê người ta trưng bày trong cửa hiệu. James rất thích ba tôi. Dù không biết tiếng Anh, nhưng tiếng Pháp thì ba tôi rất thạo. James lại biết nói tiếng Pháp, nên vô tình ba tôi trở thành người bạn tâm giao cho James. Có thể sự thèm thuồng giao tiếp của những con người xa xứ nên ba tôi trở nên rất thân với James.
 Có một dạo James từ công sở về, chạy vội qua nhà tôi khi hay tin ba tôi ở QT mới vào. James tặng cho ba tôi một chiếc đồng hồ đeo tay. Nhận chiếc đồng hồ trong tay James, ba tôi đeo ngay vào tay mình trong con mắt hài lòng, vui vẻ của James.

Một tháng sau, ba tôi lại về nhà. Như mọi lần, James lại sang chơi; nhưng tự nhiên khuôn mặt của James bỗng trở nên buồn bã khi không thấy chiếc đồng hồ mà James đã tặng cho Ba tôi đeo trên tay nữa? James ngồi chơi, nói chuyện với ba một hồi rồi xin phép ra về. Khuôn mặt James thoáng buồn, nhưng không hỏi gì. Trong thâm tâm, Jame nghĩ rằng ba tôi đã bán đi kỷ niệm mà ông đã tặng cho ba. Sau này một hôm mẹ tôi qua nhà chơi, James mới dọ hỏi mới biết ba tôi đã cho anh tôi chiếc đồng hồ để biết giờ giấc học hành. James không buồn nữa và mỗi lần thấy ba tôi Jame cứ nhìn Ba với đôi mắt xin Ba tha lỗi đã hiểu lầm. Ba đã không biết gìn giữ món quà thân hữu mà Jame đã tặng cho người bạn Việt.

Một hôm nọ từ công sở trở về James lại sang nhà tôi. Lúc này Ba đang nằm trên chiếc ghế bố để nghe tin tức. James đến gần ba và trao cho ba một chiếc đồng hồ khác. Trong mắt James, ba như là một ông bố thiếu thốn nhưng nhiều tình cảm đã chia sẻ cho con cái kỷ niệm mà Jame đã tặng cho ba. Với Jame, tình cảm bạn bè giữa người bạn Mỹ dù không thắng được sự sẻ chia cho con cái với tình một người cha đã biết cho đi  những gì mình đang có. Điều này cũng mang nhiều ý nghĩa cho James; để khi về nước James sẽ nhớ hoài một kỷ niệm với người bạn Việt bên kia Thái bình Dương.

Đinh trọng Thiện

================ 

       
L.19 hay đậu tại phi trường Tây Lộc trước 1975


    Sau năm 1968 chợ Tây Lộc được xây mới với cái tên là chợ Trần Quốc Toản. Từ chợ ngó ra phía sân bay Tây Lộc vẫn còn thấy mấy chiếc "đầm già"- L 19 bay lên, xuống. Thỉnh thoảng  cũng có vài chiếc Cessna, loại này trông từa tựa như L.19, chỉ khác ở màu sơn- hai màu xanh trắng rõ ràng. Vào thời đó, người ta nói, Cessna hay dành chở cố vấn Mỹ.

     Chợ mới Tây Lộc xây xong, mẹ đích tôi bắt đầu bán cháo gà tại đây. Gánh cháo mẹ tôi, nhờ nấu ngon nên khi nào cũng bán hết sớm.

     Sau năm 1969, dãy nhà cư xá công chức gần chợ Tây Lộc cũng xây xong. Gia đình mẹ đích tôi may mắn, mua trả góp được một căn. Đã hơn năm mươi năm, đến nay tôi vẫn còn nhớ số nhà 45 Trần quốc Toản -Tây Lộc. Dãy nhà công chức đó gần nhà ông cố vấn Mỹ lấy vợ Việt Nam. Mẹ tôi quen với vợ ông Mỹ đó trong những lúc đánh bài tứ sắc với bà. Quen nhau lâu ngày, bầy con mẹ tôi lại kêu bà đó là Dì Hai. Hồi này ông James lại thuê căn lầu gần cư xá công chức đó nên ba tôi mỗi dịp từ QT vào nhà lại tới thăm vợ chồng ông Mỹ đó. Ông James biết tiếng Pháp, trong lúc ba tôi khá rành Pháp ngữ nhưng không biết Anh văn, cũng là dịp cho hai người làm quen, trò chuyện. James xa Hoa Kỳ lâu ngày, về Tây lộc có bạn đàn ông chuyện trò, ông lấy làm thích. Hình như ông James muốn ba tôi làm bạn để rèn luyện Pháp ngữ còn ba tôi thì cũng khoái trong bụng do nhờ có ông James để ôn lại "vốn liếng" Pháp văn của ông đã nguội lạnh từ thời Pháp về nước.

Chuyện không ngưng  ngang đây ...



Nhờ tra cứu vào Google tôi tìm lại được hình ảnh cái đồng hồ Timex năm xưa mà ba tôi trao cho tôi vào năm lớp đệ tam 1970 giống y  hình này


    Năm tôi lên lớp đệ tam, niên khóa 1969-70, có điều làm tôi sung sướng nhất là được ba tôi tặng tôi một cái đồng hồ hiệu TIMEX. Nói sao cho hết niềm sung sướng của tôi; do đây là chiếc đồng hồ đầu tiên trong đời. Thú thật đồng hồ đeo tay thời đó học sinh làm gì sắm nổi. Ngày nào tôi cũng mân mê cái đồng hồ. Tôi không thể nào quên cái tên TIMEX cùng hình dáng của nó. Khó có ai vào thời gian này biết 'thông cảm' cho cảm giác sung sướng của một cậu học trò được mang cái đồng hồ đeo tay. Cảm giác đó rất khác với thời nay. Thời nay, đồng hồ đeo tay nhan nhản đủ loại, đủ kiểu, bày bán khắp nơi không ai thiếu; thậm chí chẳng ai cần đeo do có trong iPhone rồi.

   Người viết lại xin trở lại cái đồng hồ đầy ắp kỷ niệm nói trên. Ba tôi ân cần trao cho con, một buổi thiếu thời như ngầm khuyên khích tôi hãy cố gắng chăm học. Ba tôi có kể, do ông Mỹ nào đó trong Tây Lộc tặng cho ba tôi chiếc TIMEX kia chứ không phải ba tôi mua. Ba tôi có sao nói vậy. Còn tôi thì nhớ lại cái ngày vô Tây lộc (1970), hai cha con tới nhà thăm ông Mỹ đó. Ông về nhà là kêu vợ cái tiếng "darling" cho đến nay tôi còn nhớ. Tôi không quên kể lại cho bạn đọc nghe, tôi có 'dạy' cho ông ta trọ trẹ chỉ hai  câu:

                - Mình ơi!
 

                -Mình ơi, có chi cho anh ăn không ?
 
    Coi bộ ông Mỹ đó khó nói cho giống cái 'giọng' của tôi- nặng ơi là nặng. Cái ông Mỹ này kỳ thật. Ông ta cứ "lôi" trong tủ lạnh ra bia toàn là Budweiser lon ra uống thay nước thôi. Thật ra hồi đó tôi chẳng bao giờ thấy người Mỹ uống nước lạnh như Mỹ thời này. Tôi lại càng thấy lạ lúc nhìn tay ông ta cứ liên tục cầm lon bia này, uống xong lại sang lon khác, không ngưng... Dù sao ông Mỹ này thuơng ba tôi mới tặng cho ba tôi cái đồng hồ. 


   Có cái đồng hồ TIMEX trong tay, đêm về tôi hết ngắm ánh sáng mờ mờ từ cây kim chỉ giờ. Tôi lại ngậm vào miệng rồi dùng hai ngón tay bịt vào hai lỗ tai để nghe thử có tiếng kêu dội vào trong "bong bong" hay không? Tôi tin lời ai đó cho rằng đồng hồ mà kêu "bong bong" như tiếng chuông kêu thì là loại tốt. Thời đó, đồng hồ đeo tay phải được lên giây hàng ngày, chưa có loại tự động lên giây như sau này. Một thời, các bác các chú hay mang cái đồng hồ hiệu Wyler của Pháp, có dây nhôm cùng phải cũng lên giây như nhau cả. Thật ra, đồng hồ TIMEX vào lúc đó thuộc về đời mới do người Mỹ đem qua Việt Nam.


   Cho đến năm 1971 lúc tôi đi thi tú tài, năm đó trên thị trường bắt đầu có đồng hồ SEIKO tự động (automatic) được bán khá nhiều. Thích thì thích, nhưng  tôi vẫn mang cái đồng hồ TIMEX của ba tôi tặng thôi. Sau biến cố Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 tôi vào lính cái đồng hồ để lại cho gia đình. Đời quân ngũ, 'lăn lộn, bò lết' trên bãi tập, chẳng ai còn mang đồng hồ do quá bất tiện. Đời sống quân trường, mọi sinh họat đều theo tiếng còi. Những người lính mới, răm rắp theo lệnh nên tôi chẳng còn mang đồng hồ theo nữa.


   cái đồng hồ Timex chạy pin, tôi mua tặng con trai tôi năm lên lớp 10 tại Mỹ 

 
   Qua Mỹ một thời gian, năm con trai tôi vào lớp 10, bất chợt tôi nhớ đến ba tôi và kỷ niệm cái đồng hồ Timex, thế là tôi đi tìm tại Hiệu Target mua cho ra cái đồng hồ cùng tên Timex để tặng cho con trai. Nhưng chiếc đồng hồ thời nay không thể nào giống y cái đồng hồ năm xưa ba tôi tặng tôi được. (tôi xin mở ngoặc không có lumineur như cái ba tôi cho tôi và lên giây do hồi đó chưa có đồng hồ chạy pin). Tôi kể lại kỷ niệm với con trai út, lý do tôi tìm đồng hồ TIMEX tặng cho nó. Tôi thầm ước, có thể con trai tôi không nói nhưng nó lại 'âm thầm chăm học'  ít ham chơi, (ngoại trừ games điện tử vì nó thích đi ngành điện toán). Tôi có niềm tin, hương linh ba tôi cũng phò trợ cho cháu nội, may mắn tốt nghiệp trường trung hoc vùng tôi ở, nó được thủ khoa.

 Thế nhưng đứa con trai thứ hai vc tôi lại kín đáo đến khi dù ra trường thủ khoa cũng không khoe cho ba cháu hay. Đêm vinh danh thủ khoa tại trường, cha cháu bận làm ca đêm tại hãng, chỉ có mẹ đi theo lên trường chơi nhưng cũng không hề biết con trai mình là thủ khoa của Trường trung học Pied Mont Hills High School năm 2009. Có thể vì thế mẹ cháu lạ lắm, dù tiếng Anh không rành, nhưng tại sao đêm đó khi xướng danh VIEN DUONG DINH thì bạn bè vỗ tay, huýt gió ầm ĩ?  Giá như ba mẹ cháu biết vinh hạnh như thế thì cha cũng tìm cách nghỉ làm, rồi cả gia đình đi theo mừng và quay một khúc phim hay đem máy hình theo chụp làm kỷ niệm một niềm vui sướng cho cả gia đình.  Thật tiếc làm sao?

cùng vợ chồng ac Hồ đắc Nhơn, vc bạn Bùi Bá -Khánh Hội tới chơi tháng 9 năm 2011 (trái qua: anh Nhơn, chị Oanh (bà xã anh Nhơn), Túy Huệ (bà xã ĐHL), Tôn nữ Khánh Hội (bà xã Bùi Bá), Bùi Bá, ĐHL)


Tình cờ, có một ngày có vợ chồng bạn học tên là Bùi Bá - Khánh Hội đến chơi. Bạn tôi đọc lại cuốn danh sách tốt nghiệp trung học niên khóa của con trai tôi, chợt bạn Bá chỉ vào cuốn brochure nói lớn đầy vẻ ngạc nhiên:

    Ôi! con bạn "Thủ Khoa" răng mà không nghe nói chi hết rứa?

    Tôi  quá ngạc nhiên, vội đem tấm bằng của con ra xem lại mới biết bạn mình nói đúng. Tôi quả vô tình, tấm bằng con đem về không đọc kỹ lại lo cất đi. Cuốn Brochure cũng để yên vậy không đọc kỹ, thấy con đem bằng về là an tâm cất kỹ và đâu có nghĩ tới chuyện con mình là "thủ khoa" đâu?

hai cha con  tại Arena Theater San Jose 2009- ngày con trai mãn khóa trung học 



bằng tốt nghiệp Thủ Khoa trường Trung Học Piedmont Hills High School -San Jose 

Chuyện hai cái đồng hồ Timex, ba thế hệ: cha - con - cháu , truyền thừa cho nhau cùng một ý niệm chung là 'MONG CON CHĂM HỌC'. Đời tôi, tuy dang dở công danh nhưng ý nghĩa cái đồng hồ TIMEX đầu đời đã hằn sâu trong tâm khảm cho đến hôm nay. Đời cháu của ba tôi, tôi tin chắc rằng sẽ chẳng còn 'dang dở' vì đây là xứ sở của cơ hội. Sức bật đi lên có thể từ ước mơ thầm kín hay sự kỳ vọng từ niềm cảm xúc của con tim.

=================== ========== 


hình kỷ niệm 



dưới mái nhà tranh (xã Sơn Mỹ -Hàm Tân tết năm 1992-1993) cháu Viên 1 tuổi

***

 




 Hơn bốn mươi năm qua, chuyện ra đi từ thành phố Quảng Trị xa xưa vào năm 1972 đong đầy đau khổ. Trong khói mờ lửa đạn, có những người cố vấn Mỹ giã từ cái xứ sở khốn khổ của chiến tranh. Trong muôn triệu câu chuyện từ quê hương vươn dậy trong đau thương gian khó, có kỷ niệm cái đồng hồ TIMEX của ba tôi. Cho đến nay, khi em trai tôi viết lại bài hồi ức về câu chuyện ba tôi [* thien dinh Trong], chuyện cái đồng hồ và người bạn Mỹ của ba mẹ tôi tại Tây Lộc tên James, tôi mới có cơ hội viết lại chuyện này như để tưởng niệm về hình bóng thân yêu của cha già nay đã khuất mờ trong vùng dĩ vãng./.

kính nhớ hương linh thân phụ

edition  ĐHL  3/9/2025

TỪ IRAQ TỚI IRAN TT TRUMP VẪN MỞ CÁI HỘP PANDORA trong HUYỀN THOẠI

     CHÀO bạn đọc       Cuộc tấn công của khủng bố Hồi Giáo vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đánh vào nước Mỹ từ đó đã định hình chính sách ngoạ...