Friday, August 22, 2025

NỬA ĐÊM BIÊN GIỚI (bài tái đăng)







     Không có người sĩ quan nào gần lính bằng người trung đội trưởng. Những thân phận cùng chung,  những chịu đựng cùng chung và cùng chung bao thiếu thốn từ quân số, quân nhu cho đến ngày cuối cùng giã từ đời lính ...

  nhớ về những người lính trung đội tôi đã nằm xuống năm mươi năm về trước .

ĐHL

***
Mẹ ơi, biên cương giờ đây
Trời không mưa nhưng nhiều mây
Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
Nghe gió rung cây đổ lá vàng
Sương xuống mênh mang ...(Anh Bằng)


    Mẹ ơi, biên cương giờ đây trời vắng quá. Con giờ đây đang ngồi dưới chiến hào. Con yên lặng nhìn bầu trời khuya vắng lặng, sương khuya ướt cả hai vai. Đêm đêm con nhìn những đóm sao khuya, ánh sao lấp lánh, từng là bạn. Có những khi con định huớng  phương nam xa vời nơi đó có gia đình mình đang nổi trôi vào và giờ không biết kiếm sống ra sao?

     Mẹ ơi, trời đêm miệt núi quê nhà sao lạnh lắm? Trong màn đen của đêm khuya nhưng thật ra là hồi hộp, căng thẳng. Từng phút giây qua đi trong canh khuya thanh vắng, con cố thức tỉnh, trấn áp cơn buồn ngủ trong người lắng nghe thật kỹ lưỡng từng tiếng động nhỏ trong đêm . Linh giác chực chờ hay phán đoán từng âm thanh rình rập đâu đó dưới chân chốt, trong lùm cây bụi rậm, những đe dọa lởn vởn đâu đây ? Mẹ ơi, có thể đó là những tiếng động của chiến tranh, của giành giựt,  cướp nhau từng mạng sống. Hàng đêm, chúng con trên chốt này là những người lính trận tiền đồn, mắt căng ra như muốn 'xé toang ' đêm đen dày đặc, rình rập, chết chóc.    

  Chúng con phải tính toán, gìn giữ từng vùng đất, lùm cây hay đỉnh đồi hoa lá. Trời khuya rồi, chúng con phải đổi gác cho nhau, chia sẻ nhau từng phút giây được ngủ, được quên đi những tháng ngày quạnh hiu trên Trường sơn biên giới mẹ ạ. Thỉnh thoảng con cố lắng nghe vài tiếng con tắc kè gõ nhịp trong những hóc cây hay đôi ba tiếng con mang nào đó rời rạc kêu lên trong đêm trường. Rồi nữa, con còn nghe tiếng chim  từ quy kêu mãi đêm trường.  Tiếng chim nghe "Bóp Bì Bóp" lạ làm sao?  Trong đêm dài tiếng chim kêu mãi cho đến khi ánh dương hé dạng mới thôi Ánh dương lên là điều con thường chờ đợi. Những người lính sẽ thở phào do  bớt được phần nào căng thẳng trong một đêm dài. Mặt trời lên cao, sẽ tỏa sáng khắp những đỉnh núi hiu quạnh, chơ vơ cùng trời mây im vắng. Quanh chúng con những đồi tranh kéo dài bất tận, những con suối dưới chân đồi im lìm, quanh co uốn lượn về tận vùng thấp dưới xa.

                        ĐÊM TRƯỜNG SƠN

 Đêm nay kỷ niệm chập chùng xa vời đang sống lại trong tim con, trong màn đêm biên giới. Giờ đây sau lưng con, khoảng xa vời kia giờ chỉ là một thành phố đổ nát hoang tàn còn ba mẹ và mấy em thì đang ở tận phương xa, đường dài hun hút. Con không biết giờ này trong nhà có ai đang nhớ đến con không? riêng con, đêm nay ngồi đây con nhớ nhà lắm mẹ ạ. Nhưng nhà còn đâu nữa để nhớ! ngày tháng ly hương bà con lôi xóm mỗi người mỗi ngả. Thế là từ ngày đó, người dân Quảng trị trở thành  biệt xứ.

            Quảng Trị Mùa Hè Đỏ Lửa 1972

   Xếp áo thư sinh bao nhiêu mộng ước con đành bỏ lại. Ôi Quảng trị, thành phố thân yêu ngày hai buổi đến trường. Bạn, thầy yêu dấu giờ chẳng còn ai trong những ngày ly loạn, Con quên sao được từng khuôn mặt thất thần, hốt hoảng của người dân mình ngày phải bỏ xứ mà đi, tứ tán khắp nơi!

  Mẹ ơi, mấy tuần nay trên vùng biên giới này con vẫn sốt trong người nhưng  con chưa về được.  Tóc con rụng nhiều. Mẹ ơi !  lúc này con biết đã mang chứng sốt rét trong người.  Người con gầy rọc đi, nhưng con chưa về được mẹ ơi ! chứng sốt vẫn hoành hành trong đơn vị.  Mà về đâu hởi mẹ? trong nam cả nhà mình đang trôi nổi lưu linh. Mẹ ơi, con từng gắng nấu sôi nước khe pha miếng sữa lấy sức trong người nhưng con vẫn luôn có cảm giác buồn nôn, trong mình lúc nào cũng hâm hẩm sốt!
 

   Đêm nay, từng phút giây con cố căng mắt nhìn vào màn đêm sâu thẳm phía trước.  Có tiếng côn trùng nào nỉ non rền rỉ, điệu nhạc buồn giữa chốn rừng khuya. Mẹ ơi, ngày kia con đã  phơi khô một đống cây rừng, rễ giống nhân sâm phơi khô để dành trên chốt tự bảo rằng cây 'thuốc bổ' (2)


             hình  bắc quân đang chiếm đỉnh Động Ô  Do đầu năm 1972

Thời gian không phai lòng son
Trường Sơn không ngăn tình con
Ngày nao con ra đi nhớ câu mẹ khuyên
Yêu nước như yêu mẹ hãy còn
Giữ trong linh hồn (nhạc)

Mẹ ơi! chúng con nơi này sống bên nhau, khổ bên nhau,  không than vản không phiền hà ai,  cuộc sống đơn giản đến mức cùng của đơn giản.  Chúng con từng sẻ chia nhau từng miếng ăn, từng điếu thuốc. Lam sơn chướng khí,  da mặt chúng con tuy đã đổi màu nhưng tình huynh đệ luôn nồng thắm. Mẹ ơi! nhìn anh em còn lại, nhớ những khi hẩm hút bên nhau  chan chứa tình  đồng  đội. Lính xa nhà , xa quê,  thì làm sao con chia tay mà về lại phía sau cho được?   Tình mẹ ngóng tin con ngày tháng phương xa con rất hiểu, nhưng nợ nước phận trai giờ đây giữa chốn biên thùy nên xin mẹ con chưa về được mẹ ơi./.


đinh hoa lư



(*)Lính sốt rét nhiều về bệnh xá diên sanh, thiếu lính nên phải gác 2 lần một đêm do thiếu quân số, tất cả trung đội trưởng trở xuống đều phải gác một đêm 2 lần, thiếu ngủ trầm trọng


              chim Từ Quy  
(1) Tiếng chim từ quy : thời gian này chính tai của dhl khi đứng canh ban đêm nghe tiếng chim từ quy gọi nhau rừng , nó kêu như vầy...bóp , bóp , bóp bì bóp , rồi lập lại như vậy mãi từ chập tối cho đến khi trời rạng là ngưng. Chim này sống từng cặp, kêu cho đến khi gặp nhau là trời sáng

(2) một giống cây có rể giống từng củ cà rốt,  chúng tôi gọi là 'SÂM RỪNG' , đem rễ cắt nhỏ phơi khô và nấu uống

QUA ĐÈO HẢI VÂN XƯA

 

hình ành xe leo đèo Hải Vân đang nghỉ do có thể Nóng Máy. Nhưng dù sao nếu ta nhìn kỹ, con đường đã có hai làn đường xe chạy khác với thời trước 1960 chỉ có MỘT LÀN ĐƯỜNG 


 KHI chiếc xe ì ạch leo đèo Hải Vân mà chạnh lòng thương cho người xưa, phương tiện giao thông khó khăn, nhất là hoàn cảnh bao sĩ tử ra kinh đô Huế ứng thí. Mới có câu:

Học trò trong Quảng ra thi
thấy cô gái Huế chân đi không rời ..(ca dao)

muốn thấy được cô gái Huế kiêu sa , đài các,  người học trò xứ Quảng phải 'vượt suối băng... đèo' nhất là ngọn núi Hải Vân quá ư gian nan hiểm trở, mới hay:

Chiều chiều mây phủ Ải Vân
Chim kêu ghềnh đá ngẫm thân lại buồn..
.''


             


  Sao lại buồn? chắc người sĩ tử xưa,  vừa đau lòng khi thi hỏng vừa 'nát dạ' khi người con gái Huế chẳng 'đoái hoài ' !?
Ngoài chuyện thuờng tình ra, lục lọi thi phú xưa , chúng ta thấy tấm lòng kẻ sĩ yêu thuơng giang sơn gấm vóc VN, đươc thể hiện qua bài thơ "Vãn quá Hải Vân quan” của chí sĩ Trần Quý Cáp (1870-1908) sau:


Hùng quan chất ngất đỉnh non xây,
Bước đã quen nơi cúi ngửa này.
Sầu ngập mắt trông ngàn dặm biển,
Giận tung quyền phá bốn bề mây.
Chiều quang mái trú đìu hiu bến,
Mỏi đáp rừng chim lạnh lẽo cây.
Bảy dặm quanh co đèo vượt khói,
Non Hành giai khí ngút trời bay.

---------------------- 
theo trang của tác giả Đỗ Chiêu Đức
thì nguyên thủy bài thơ trên như sau:

  晚過海雲關           VÃN QÚA HẢI VÂN QUAN

崔嵬萬仞古雄關,   Thôi ngôi vạn nhận cổ hùng quan,
幾度登臨俯仰間。   Kỷ độ đăng lâm phủ ngưỡng gian.
愁眼望窮滄海外,   Sầu nhỡn vọng cùng thương hải ngoại,
怒拳揮破白雲端。   Nộ quyền huy phá bạch vân đoan.
孤舟分掉荒村暮,   Cô chu phân trạo hoang thôn mộ,
倦鳥投林古木寒。   Quyện điểu đầu lâm cổ mộc hàn.
七里縈迴穿過後,   Thất lý oanh hồi xuyên qúa hậu,
鬱蔥佳氣五行山。   Uất thông giai khí Ngũ Hành San.

============= 

                đường đèo Hải Vân ngày xưa thời Pháp đang xây và sau này nơi đây là điểm dừng xe của 2 phía để CHỜ ĐỔ ĐÈO 






Chuyện xưa là chuyện ra ứng thí Kinh Đô để xây dựng con đường "hoạn lộ" cho bao kẻ sĩ. 

Chuyện hôm nay, người viết chỉ mong viết ra từ bao xao xuyến nhớ lại hình ảnh thuở ấu thời  cũng là  "Vãn Quá Hải Vân Quan" đó nhưng chỉ mong chiếc xe chở khách đang đợi đổ đèo của lớp dân hậu thế đó thôi.

 Nhớ làm sao một thời còn thô sơ trong xây dựng đường sá. Con đường đèo Hải Vân có thể thời Đệ Nhất Cộng Hóa chỉ độc nhất một làn đường xe chạy.

TỪ bên này hay mỗi bên kia đèo tất cả hai hướng phải cho  xe lên hết sẽ dừng lại tập trung tại Đỉnh Đèo. Khách có một hai tiếng chờ đợi HIỆU LỆNH. Theo người viết Hiệu Lệnh này một là phương tiện telephone hữu tuyến của các đơn vị Bảo An gác hai múi đầu chân đèo. Phía bên này là Lăng Cô phía chân đèo bên kia là Nam Ô.  Cứ vậy có thể chiếc xe cuối của bên chân đèo mang hiệu lệnh của bót gác chân đèo mỗi bên. Dĩ nhiên khi chiếc xe chót một bên leo lên tới đỉnh đèo thì sẽ cho bót gát trên đỉnh đèo biết để cho hai bên XUỐNG ĐÈO.

Sự suy diễn đúng sai không biết ra sao nhưng sự thật là đèo HẢI VÂN CHỈ MỘT LÀN XE CHẬY. 
May thay, hôm nay nhờ vào Internet qua đó cám ơn ký ức của một nhà thơ viết lại trên báo Tuổi Trẻ cái thời ấy như sau...




Nhiều người trong số đó là học sinh, sinh viên Đà Nẵng ra Huế học từ trước 1975. Sau đó là sinh viên Huế vô Đà Nẵng học đại học bách khoa, kinh tế.

Ai đã từng là sinh viên thuở ấy, chắc hẳn không thể quên chuyến xe ám ảnh qua đèo Hải Vân. Mỗi lần lên xe như thể bước vào một trận đánh. Xuống đến chân đèo mới thở phào biết mình còn sống.




Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ, tức là nhà giáo Nguyễn Văn Bổn, là một trong những "học trò trong Quảng ra thi" ở xứ Huế và đậu vào Trường Quốc Học năm 1963. Lần đầu tiên từ Đà Nẵng ra Huế để thi, ông đi chuyến xe của Hãng Phi Long.

Đó là một hãng xe đò nổi tiếng bấy giờ với đoàn xe rờ-nôn (Renault) màu sơn nửa đỏ nửa vàng.

Lúc đó, do đường đèo còn nhỏ hẹp nên xe chỉ chạy một chiều từ chân đèo lên đỉnh. Người ta bố trí ba trạm kiểm soát ở hai đầu đèo và trên đỉnh đèo, để điều hành đoàn xe đi qua Hải Vân.

Lăng Cô trước 1975


Xe từ phía Huế đi vô tập trung dưới chân đèo phía bắc, chỗ thị trấn Lăng Cô bây giờ. Xe từ Đà Nẵng ra thì tập trung ở chân đèo nam. Khi được lệnh của trạm kiểm soát, hai đoàn xe từ hai phía sẽ cùng bò lên.

Đến đỉnh đèo, có một bãi rộng, để xe hai phía tránh nhau. Khi chiếc barie của trạm đỉnh đèo nhấc lên, thì đoàn xe sẽ cùng xuống đèo, để khỏi phải tránh nhau giữa đường chật hẹp nguy hiểm.

Thầy Bổn kể mỗi lần xe lên đỉnh dừng lại, khách được xuống nghỉ ngơi ăn uống và để xả bớt căng thẳng. Cái bãi đất rộng trên đỉnh đèo chính là bãi đậu xe hồi đó, giờ vẫn còn.



Năm 1965, quân đội Mỹ đổ bộ vô vũng Hàn (Đà Nẵng) thì qua năm 1966 họ bắt tay mở rộng đường đèo Hải Vân.

Từ năm đó, xe qua đèo cùng lúc hai chiều. Đường mở rộng hơn nhưng hiểm nguy thì vẫn không bớt đi mấy. Có những đoạn xe chạy sát một bên là vách đá, một bên là bờ vực, và sợ nhất là những khúc cua tay áo quá ngặt.

Thỉnh thoảng lại nghe báo đưa tin xe đứt phanh lao xuống đèo, xe tung vô vách đá rớt xuống vực. Nhưng khách qua đèo bấy giờ còn nỗi sợ nữa đó là vấp mìn, hoặc trúng đạn pháo kích.

"Một lần từ Huế về thăm nhà, ngồi trên chiếc xe đò tắc-xông của Hãng An Lợi, tôi đã chứng kiến chiếc xe jeep trước mặt mình trật bánh vì đường trơn rớt xuống hố", thầy Bổn nhớ lại. "Đi bộ thì khiếp Hải Vân/Đi thủy thì khiếp sóng thần hang Dơi", câu ca dao ra đời từ thuở ông cha đi bộ qua đèo, vẫn còn đúng cho đến thời con cháu đi xe đò.

trích nguồn:  

Những chuyến xe đò về miền kỷ niệm thương nhớ -Kỳ 4: Xe qua đèo Hải Vân rồi mới biết mình còn sống - Tuổi Trẻ Online



nguồn Internet: đường đèo Hải Vân 1961


Như thế chúng ta nhớ lại đoạn đường từ Huế vô Đà Nẵng khoảng 90 cây số nhưng vì chuyện đợi ở Đỉnh Đèo mới làm cho chuyến đi Đà Nẵng hay từ Đà Nẵng đi Huế sẽ lâu dài tới cả NGÀY trời chứ đâu phải chuyện chơi. 

Nhớ phương tiện thời xưa ì à ì ạch xe chạy cao tay là sáu hay bảy mươi cây số / giờ khác với thời nay rất xa. Lại thay chờ tại đỉnh đèo làm cho khách phải "bới cơm theo" là chuyện đương nhiên. Theo trích đoạn trên thì phải đợi đến 1966 đèo Hải Vân mới có 2 CHIỀU XE CHẠY
 

NHỚ SAO BÁNH BÈO TRÊN ĐỈNH HẢI VÂN




Trên đỉnh tập trung tại chóp đèo Hải Vân, khách có thì giờ ngắm phong cảnh hùng vĩ của biển núi miền trung. Giờ đây mới thấy cảnh trời đất quê hương sao quá đẹp. Biển xanh xa tít mênh mông dưới chân đèo có nơi sóng đánh bạc đầu...

Giờ đã đói bụng, nếu có tiền chúng ta sẽ vào ăn bánh bèo tại đỉnh. Những dĩa bánh bèo nổi tiếng ngon ai ăn cũng khen và nhớ mãi hương vị. Có thể do đói bụng cộng thêm khí trời lạnh trên cao mây sa sàn sạt khiến cái đói càng tăng thêm chăng? Mà phải kể chiếc bánh bèo ở đây làm vừa nhỏ không lớn. Những cái bánh tròn trịa có thể ăn mỗi lần vài cái; rồi nhụy tôm mịn, đậm đà nhất là hương vị nước mắm vừa ăn vừa húp khách không sợ mặn. Có cái đáng nhớ là mặt trên dĩa bánh không cầu kỳ "hoa lá cành" quá nhiều thứ phụ như thời này nên mất đi "phong vị" của bánh bèo...Ăn là nhớ, khách cứ mong có dịp dừng tai đỉnh Đèo để ghé vào ăn. Đâu phải chỉ có bánh bèo, còn vài thứ khác dĩ nhiên không thể thiếu bánh bột lọc gói xứ Huế hay vài món bánh ngọt đậu xanh, nếp da lợn từ Đà Nẵng đem lên bán tại đây. Những cái bánh vuông màu xanh lá dứa bên trong nhụy đậu xanh màu vàng, đựng trong bao ni-lon cho khách đi xe mua về Huế làm quà cho gia đình. Ngược lại khách vô lại Đà Nẵng có thể mua vài chục cái bánh bột lọc hay chai mắm sò làm từ làng Lăng Cô lên bán dạo tại đây...

bánh da lợn Đà Nẵng trước 1975










Mỹ đặt chân đến Đà Nẵng trong ngày 8-3-1965 ở bãi biển Xuân Thiều (Q.Liên Chiểu)

VÀ cũng nhờ vào thời buổi "chiến tranh" lúc Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng thì đèo Hải Vân bắt đầu khai thông làm 2 chiều. Sau này người viết cũng có đi xe vào Đà Nẵng nhưng may mà lại buồn...
Buồn là không còn dịp chiếc xe hàng dừng lại trên đỉnh đèo năm xưa cho khách vừa giải lao nghỉ mệt vừa có dịp ngắm cảnh trời mây. 

Khi chiếc xe hàng chở khách lên đến đỉnh đèo để bắt đầu đổ đèo khách còn nhận ra nhiều bãi đất trống một thời xôn xao tiếng chào đón mời mọc mua hàng như còn vẳng vẳng đâu đây...
Kỷ niệm đi xe trong lòng người khách ắt hẳn còn hương vị DĨA BÁNH BÈO ĐỈNH ĐÈO HẢI VÂN những lần ngóng đợi xe lên để tiếp tục đổ đèo vào Đà Nẵng hay ra Huế hoàn thành cuộc hành trình QUÁ HẢI VÂN SƠN 

ĐHL 
NHỚ ĐÈO HẢI VÂN 
22/8/ 2025


 

Thursday, August 21, 2025

PHỞ ÔNG NGẪU


QUÁN PHỞ ÔNG NGẪU NGÃ BA TRẦN HƯNG ĐẠO PHAN CHÂU TRINH, TP QUẢNG TRỊ CŨ

 


(cám ơn fb Hung Le đã nhắc lại quán phở Ô Ngẫu)
ĐHL

***
QUÁN PHỞ ÔNG NGẪU ĐƯỢC BIẾT ĐẾN KHOẢNG TỪ NĂM 1970

    Quán ông Ngẫu ngay ngã ba Trần hưng Đạo- Phan châu Trinh tức là lên Bệnh Viện và một ngả lên cầu Ga. Quán đông khách nhờ trước tiên là thuận đường giao thông. Từ chợ tỉnh lên cũng gần, từ hướng miệt Bệnh Viện về cũng mau mà các xóm trong Thạch Hãn qua ăn càng tiện lơi.

    Các chú Cảnh Sát chìm nổi từ Ty CSQG (trước là Ty CA) ăn phở trước khi đi làm. Nhân viên Bệnh Viện QT hay ghé vô ăn tô phở, ấm bụng, trước khi vào BV chữa bệnh hay phục vụ cho bệnh nhân. Học sinh Bồ Đề ai có tiền, thường là các cậu ấm cô chiêu đều có bạc dằn túi nên dễ sà vào quán ông Ngẫu làm một tô trước khi lên trường vào học.

QUÁN PHỞ Ô NGẪU CÓ NGÔI SAO MÀU ĐỎ

Các ông lính Trung Đoàn I, hết hành quân cũng hay ghé ăn phở trước khi lên lại Trung đoàn. Ngoài ra người quanh xóm ông Ngẫu đều là khách quen biết của ông cả.

    Phở ông Ngẫu tại sao mọi người đều biết và thịnh hành một thời? Đó là nhờ phở ông chuyên một MÓN PHỞ TÁI. Nước phở trong vừa, thịt tái ngọt vừa miệng và QUAN TRỌNG nhất là giá BÌNH DÂN.
Người viết còn nhớ, giá tô phở năm cuối cùng trước khi QT chạy giặc (1972) tức vào khoảng 25$. Vào thời gian 1972 đồng bạc VNCH lớn nhất là 500$.

hình: khách ăn ngồi trong quán Ô Ngẫu chụp hình ra sẽ thấy quán sửa xe đạp và bán hàng này còn gọi là NGÃ BA- GIẾNG NƯỚC do chúng ta thấy có cái giếng lâu năm ở đây. Theo bản đồ phần trên quán Phở có dấu Ngôi Sao Đỏ, đây là ngã ba, một nhánh phía tay trái là đ Trần hưng Đạo đi lên ty Công Chánh và Bệnh viện QT, hai phía tay phải là Phan châu Trinh đi lên cầu Ga


Trong lúc đó một tô phở heo tại tiệmThanh Thanh đường Quang Trung gân Miếu Ông Voi vào năm 1968 đã là 20$ rồi.

    Tô phở vừa bụng không quá to "vịt lội còn được" như ở Mỹ lúc này. Nói gì thì nói, ngày đó ăn một tô phở tái Ô Ngẫu vừa đậm đà hương vị chẳng khác gì phở tái gánh là bao.


So ra phở tái gánh 1 tô 5$ là thời 1963 thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Sau này phở gánh dẹp nghề chỉ còn phở xe thôi.


    Lạ một điều, người viết còn nhớ người mình hồi đó nói đến phở là nghĩ đến tô phở tái. Có thể bà con mình chỉ ưa ăn phở TÁI Hình ảnh tô phở gánh cho đến phở xe bác bán phở chỉ cắt vài lát thịt bò, rồi chan nước súp nóng hổi. Phở tái là chuyên tái thôi chứ không tái cộng thêm nhiều thứ như "nạm, gầu, gân sách..." như phở thời sau này.

    Tô phở tái QT không quá đậm màng mỡ ở trên như phở bắc chính cống nhưng nước súp phở QT không bao giờ hầm thiếu hầm xương bò. Từ nước phở ngon nóng hổi cùng sợi phở tươi dẻo dai mà chẳng nát. Khi khách nhai sợi phở quyện lẫn với miếng thịt bò tươi chín nhúng vừa bùi ngọt của con bò nuôi từ đất và cỏ QT giúp thực khách ngon miệng trong buổi sáng đói bụng.



    Có điều khá lạ, hồi đó người QT ăn phở không ăn giá như thời này. Ngày đó chúng ta ăn chỉ chuộng nước súp phở đúng gu, sợi phở tươi, cùng lát thịt bò ngon ngọt tươi và nhất là không thể thiếu lát ớt cay và cọng hành trồng từ đất QT.
Vào nam tô phở thường có dĩa giá, có khi là giá trụng. Phở QT khách chẳng bao giờ nghĩ đến giá. Có thể người ăn sợ giá làm loãng vị nước phở đi chăng?

bò ngày xưa nuôi thả rong thịt mới ngon
============
(*)cám ơn hồi âm của Độc Giả
 Chú Phúc , được bài nầy của chú , tui có ý kiến bổ túc : - Ông Dư ( không phải Dự ) chỉ là người nuôi bò chứ không phải là chủ lò giết bò  , nhà ông ở gần ngả tư THĐ và QT , cạnh nhà bác Bảo trưởng ty thanh niên và bác Hoành phó ty cảnh sát  . - ông có đàn bò khoảng 20 con , chuồng bò ông ở gần nhà tui , đầu năm 1960 lò tể sanh được xây dựng ở xóm Rào trên đường về bến đò An tiêm , nên ông Dư thuê đất của bác Nậu cạnh lò tể sanh để làm chuồng bò . Kể từ 1960 các lò giết bò và heo đều tập trung ở nhà tể sanh nầy , sở dì tui nhớ rò sự việc vì năm đó tui vào lớp đệ tam NH thì nhà tể sanh được khai trương . Vài hàng gởi chú , chúc chú và gia đình bình yên .
Được gửi từ iPad của tôi

Huong Le

1:42 AM (4 hours ago)
to me
Khi tôi cưới vợ, bên vợ tui "đặt tiệc" cho chú Ngẫu nầy

=================

    Có vài lò sát sinh hạ bò trong Thôn Thạch Hãn. Hình như lò sát sinh hạ bò của ông Dự thì phải?(*)(xin xem phụ chú ở trên) chợ QT ai cũng biết tên ông Dự. Lò ông chuyên cung cấp thịt bò cho toàn Chợ Tỉnh. Dĩ nhiên ô Ngẫu không thể nào quên đặt mối xương bò tại lò Thạch Hãn. Bò ngày xưa chỉ nuôi thả, có người chăm và thuần ăn cỏ nên thịt lúc nào cũng ngon. Miền quê phần nhiều nuôi trâu cày ruộng do trâu dai sức. Những đàn bò nuôi quanh ngoại ô, thường bán cho cho các lò sát sinh cung cấp thịt bò cho chợ Tỉnh.

    Một thời QT chẳng có tiệm phở hàng dãy phố như Sài Gòn hay các tỉnh lớn khác. Do vậy, khi ta nhắc đến quán Phở ô Ngẫu, hơn ai hết dân thành phố QT đa phần đều nhớ. Lạ một điều, trí nhớ người viết chẳng nhớ trung tâm phố thị QT hồi đó không có tiệm phở nào ngoài các tiệm ăn Tàu như Đường Ký, Nhuận ký, Thanh Thanh; tiệm VN như Lưu Khách cùng các quán nhỏ khác không bảng hiệu. Thành phố xưa chẳng có tiệm phở cùng bảng hiệu nào. Phở Ông Ngẫu do khách ăn đặt cho, không có bảng hiệu nào.


hàng gánh bán cháo cho bệnh nhân trước Bệnh Viện QT vào buổi sáng


    Đã hơn nửa thế kỷ từ giã thành phố thân yêu, người thị xã ra đi biền biệt. Cố nhân xa vời trong đó có những người xưa từng là chủ quán chủ tiệm ăn giờ chắc đa số đã ra đi.

    May thay trong hoài niệm xa vời đó, có những quán phở, gánh bún, triêng cháo gánh chè cùng nhiều thứ nữa trong đời sống ẩm thực ngày xưa như sống lại trong trí nhớ con người Quảng Trị. Một khi chúng ta trải lòng cùng kể lại cho nhau nghe, tất cả câu chuyện sẽ là cơ hội làm hậu thế nhớ về bao lớp người đi trước. Một thành phố trong dĩ vãng xa xăm hôm nay như sống lại trong tâm tình hoài niệm của lớp khách ẩm thực của một thị xã xa xưa ngày nay đã mất./.

ĐHL
edit và tái đăng 21/8/2025

CHỞ CON ĐI THI

 kỷ niệm của người cha, ngày đầu qua Mỹ Đinh trọng Phúc Chiếc xe wagon buick 'cà tàng' của tôi theo Freeway 101 đi quá phi trường Sa...