Áo em màu tím...
(Hai Chuyến Tàu Đêm -Trúc Phương và Y vân)
bài edit lại cùng tác giả
Tôi hay dùng lại tiếng tàu hỏa tiếng ngày xưa người mình hay dùng để chỉ tàu lửa. Đó là những chiếc tàu chợ phun khói phùn phụt và hú từng hồi còi dài. Hơn nửa thế kỷ qua rồi, giờ đây có thể các bạn đang ngồi trong những toa xe hạng sang xuyên Việt, có đầu máy chạy bằng diesel tối tân với tốc độ nhanh chưa từng có.
Hình ảnh chiếc tàu hoả năm xưa không lạ đối với lớp người lớn tuổi, nhưng thế hệ bây giờ có muốn đi cũng không có?
Ôi một thời tàu chạy lắc lư những cột khói đằng đầu tàu phun lên tiếng còi tàu huýt liên hồi khi gần đến ga nào đó...
Tàu đi qua những vùng hoang dại thôn dã ruộng nương mỗi lúc rời sân ga và xa thành phố.
Tàu đi, tàu về người thương kẻ nhớ...hình ảnh tàu xưa từng xúc động trái tim người nhạc sĩ để cống hiến cho đời nhiều bản tình ca từng rớm lệ bao người!
Con tàu năm cũ đối với người nhạc sĩ đó là chia phôi hay đợi chờ. Một ngày xưa đôi lứa yêu nhau với bao tình cảm mặn mà lãng mạn xúc động biết bao! Tàu xưa cũng là bao chuyến tàu năm cũ từng lần lượt tiễn đưa nhiều lứa trai miền nam lên đường tòng quân giữ nước. Nắm cơm thơm mẹ bới, đôi tay gầy rờ lại bờ vai đứa con thân yêu trước khi con bước lên tàu. Bầy em nhỏ mắt rưng ngấn lệ, ngẩn ngơ nhìn theo người anh mất hút theo con tàu đi xa xa cho đến lúc tàu chỉ còn phất phơ đôi làn khói xám...nói mấy cho vừa chuyện con tàu năm cũ cùng cảnh biệt ly?
Người viết khơi lại hình ảnh chiếc tàu hỏa xa xưa, có nghĩa là khoảng thời gian cuối từ 1960 trở về trước khi con đường sắt cận sơn tỉnh Quảng trị còn đi qua những vùng hẻo lánh - hoang vu. Lúc này đường xe hỏa trong Nam vẫn còn xuyên suốt từ Sài Gòn ra đến Đông hà. Thế hệ sinh sau 1970 có thể nhìn thấy những đầu máy xe lửa cổ xưa, đen sì chạy bằng than đá và củi trong sách vở. Riêng thế hệ chúng tôi còn có cơ hội đi trên những chuyến tàu chợ ngày xưa, trước khi chúng bị bỏ hoang phế ở những góc vắng tại các nhà ga lớn nào đó.
Ngày đó, nhà ga xe lửa Quảng Trị cách cầu Thạch hãn không xa. Bởi thế ngày xưa dân mình hay gọi cầu này là Cầu Ga. Tàu từ Đông Hà vô, dừng Ga Quảng Trị. Ngược lại muốn ra Đông Hà, bạn có thể tới Ga Quảng Trị đáp chuyến tàu ra. Chiếc cầu dành cho cả tàu hỏa và xe hơi, nên mỗi khi có tàu qua xe và người đi bộ đành phải chờ. Thời này tôi hay đi tàu hỏa dù chỉ một đoạn ngắn từ Quảng trị vào Mỹ chánh hay từ Quảng trị ra Đông hà.Nhà mẹ đích tôi kế chợ Mỹ chánh, mỗi lần tôi từ Quảng trị vào thăm xong tôi đi lên ga xép Mỹ chánh đón cho được chuyến tàu chợ cuối ngày để ra Quảng trị.
Tôi mường tượng hình ảnh cũ. Thời con nít, cái gì cũng vĩ đại. Đi được với người thân trên tàu đối với tôi chẳng khác gì là một chuyến viễn hành. Trí nhớ tôi, mang máng hình ảnh nhà ga Mỹ chánh nằm trên một khoảng dốc khá cao. Một thời bé bỏng, một đứa bé trai ngồi đợi tàu với ba mình, lòng thấp thỏm ngóng mong. Có tiếng còi tàu rúc lên từ phía Huế đi ra. Âm vang lanh lảnh của tiếng còi tàu rúc lên từng chập từ xa. Những hồi còi, nghe như thân quen và đầy thương mến, lúc đầu con nghe văng vẳng nhưng càng lúc càng to hơn. Từ xa, một cái chấm đen tròn, cột khói đen ngòm bốc lên. Cái đầu tàu đằng trước, khói bốc "phì phò"càng lúc càng rõ. Rồi tiếng rầm rập trên con đường sắt. Hồi hộp làm sao khi cái khối sắt kia từ từ chậm lại rồi dừng hẳn trước cái sân ga nhỏ bé, đìu hiu.
Tàu chợ tạm dừng ít phút, lấy thêm khách hay cho một vài người xuống. Cột khói từ trên cái đầu tròn dài đen nhẵn của đầu máy còn "gầm gừ" như 'doạ nạt' thằng bé như tôi. Trong trí tưởng tượng của tôi lúc đó, những bánh xe sắt khổng lồ của đầu tàu cùng lửa, khói, hợp lại trông chẳng khác gì một con “quái vật” đen đúa đến ghê sợ. Đó là bao dấu ấn hằn ghi trong trí óc trẻ thơ.
Lại hồi còi khác lanh lảnh rúc lên, đằng trước nhà ga người phu trạm phất lá cờ đỏ báo hiệu cho con tàu lăn bánh. Tiếng “sình sịch, sình sịch", lúc đầu còn chậm sau nhanh dần. Tàu từ từ rời ga Mỹ chánh, người phu trạm đứng ngó theo. Bóng ông cùng cái nhà ga khuất dần.
Đã là tàu chợ thì nó phải chạy chậm. Tàu vừa chạy vừa lắc lư. Tôi được dịp ngắm say sưa những triền cát, nhiều vạt rú càn cùng nhiều mảng đồi hoang sơ hoang vắng. Nhìn lên xa, bên trái là dãy núi Trường Sơn, trùng trùng điệp điệp. Tất cả gom lại tạo cho tôi thứ cảm giác “phiêu lưu, mạo hiểm” cho một đứa nhỏ đi xa. Con tàu vẫn nhịp nhàng lắc đều. Thỉnh thoảng tàu kéo lên một hồi còi, phá tan không gian tĩnh lặng. Gần đến ga Quảng Trị, tàu kéo còi liên tục. Tôi sắp về đến nhà cùng với niềm vui của một đứa bé đi chơi xa về lại thành phố.
Lớn thêm một ít, tôi có dịp vào Huế về thăm quê nội tôi tức là Truồi và tôi cũng có dịp đi tàu hỏa nữa. Rồi tôi còn được theo người lớn cùng lấy vé tàu tại ga Truồi mà vào đến Đà Nẵng. Nói sao hết nỗi vui mừng của tôi với cái thú "phiêu lưu " xa xôi như lúc này. Làm sao quên được hình ảnh sóng nước rì rào khi con tàu chạy men theo bên đầm Cầu Hai, Đá Bạc, giã từ cái đầm Lăng cô, tiến sâu vào chân núi Hải vân.
Nếu chúng ta hiện nay có những phương tiện dồi dào - hiện đại thì mới thấu được nỗi “gian nan" của chiếc tàu chợ đen đúa năm nào. Chiếc đầu máy chạy bằng than phải ì-ạch kéo cả đoàn tàu qua núi Hải vân nơi có những độ dốc khiến nó phải "phì phò" phun khói dày đặc tưởng chừng muốn "ngất lịm " đến nơi .
Hầm tàu Hải Vân
Cảm giác rờn rợn của tôi tăng lên khi con tàu phải chui qua mấy cái hầm dài xuyên qua núi Hải vân. Những toa xe không có điện, tối om như cảnh “âm ti địa ngục”. Mỗi lúc qua một hầm, mấy kẻ thích đùa cứ la hét vang lên như dọa nạt những ai yếu bóng vía. Khói tàu trong hầm chui vào hết trong các toa, mùi hắc ín mùi khói than khét lẹt. Con tàu trước khi vào hay ra khỏi một hầm, thường hú lên một hồi báo hiệu. Cứ mãi vậy cho đến cái hầm thứ thứ 6 - cái hầm dài nhất thì mới qua ranh giới Đà Nẵng. Toa xe sáng lần lên cho đến khi tất cả đều lọt vào khoảng trời quảng khoát bên ngoài. Ai nấy đều hít thở sảng khoái, nhìn lại nhau thì ôi thôi mặt ai cũng có một lớp mỏng muội khói.
Một thuở thanh bình người dân tự thoả mãn với những gì hiện có trong tay. Người ta đi tàu chợ, Nhiều khúc củi to tướng đốt lẫn với than. Hình ảnh những cột khói hình nấm, phùn phụt bay lên trời cao cùng tiếng còi tàu hú dài lê thê nhưng đem niềm vui cho khách đi tàu.
Làm sao tôi quên được những lúc đợi con tàu về ga cũ. Tôi đã áp tai vào đường tàu cố lắng nghe chấn động con tàu lan truyền từ những dặm xa. Có tiếng còi tàu xa xa âm thanh mơ hồ -phảng phất. Niềm vui của tôi tăng dần khi nhìn thấy làn khói đen từ phía chân trời cùng lúc tiếng còi tàu to dần liên hồi như tiếng reo vui của người con đi xa nay về lại cố hương. Đoàn tàu thân quen đã về bến cũ để đón thêm người đi, lưu luyến chia tay cho ai ở lại. Từng cụm khói tàu bốc cao lên trời, tàu vẫn tiếp tục chuyến viễn hành, vẫn tiếp tục chia phôi, để lại phía sau một sân ga bé nhỏ cùng số phận đợi chờ.
Con tàu năm cũ sẽ đưa chúng ta về với thời hoang dại. Những chuyến tàu hoàng hôn ra đi về bóng tối của thời gian; nơi đó đã chôn kín bao kỷ niệm vơi đầy, một thời tuổi nhỏ.
Cuộc chiến 1972 cũng là dấu "chấm hết" xóa đi một thành phố thân yêu cùng một sân ga chứa chan kỷ niệm. Người Quảng Trị người thành phố chia xa từ dạo đó. Người kể chuyện rời xa thành phố khi đang dang dở "nợ bút nghiên đèn sách" kể cả tình yêu vừa chớm nở. Cũng như các thế hệ đàn anh từng khoác áo chiến y khi rời xa một thành phố từng mang nhiều kỷ niệm chia tay với người yêu từ sân ga bé nhỏ ngày xưa. Từng hồi còi lịm tắt, người đi kẻ đợi đoàn tàu khuất dần theo bóng tà dương.
Thời gian trôi mau, phôi pha hình ảnh con tàu ga cũ trong hoài niệm của người xa xứ. Mùa Hè Đỏ Lửa ập tới, biết bao nghiệt ngã oan khiên đẩy đưa người dân Quảng Trị vào vùng khổ ải do đâu? Bao nhân ảnh cuộc đời cũng lần hồi nhạt nhòa, bao lứa trai ra đi chẳng hẹn ngày trở lại. Nơi chân trời góc bể nếu có ai ngồi nhớ lại ga xưa chợt nghe đâu đó thoảng đưa thanh âm giục giã của chuyến tàu năm cũ từng đưa bao người xưa về lại ga buồn Quảng Trị./.
Đinh trọng Phúc
bài tái đăng


No comments:
Post a Comment