Wednesday, July 22, 2026

TRẢ LẠI THỜI GIAN



Xin trả lại những kỷ niệm buồn vui
Ngày xanh đã theo thời gian qua mất rồi...

(Trả Lại Thời Gian / NS Thanh Sơn)



BẠN MẾN,


THỜI GIAN VẪN LẠNH LÙNG TRÔI chẳng đợi chờ một ai dù bạn và tôi hằng mong muốn xin nó hãy qua thật chậm. Thế giới nhân sinh trong thời kỳ kỹ thuật mạng và số nên vì đó tin buồn càng đến nhanh hơn, nhiều hơn là tin vui. Thế hệ chúng ta, cứ sớm mai thức dậy ngồi trước máy tính hay nhấp điện thoại cầm tay chúng ta thường nhận nhiều tin chẳng lành, càng lúc càng có nhiều người bạn đi trước. Thế hệ chúng ta lần lượt vẫy tay chào nhau...


    Chúng ta vẫn còn may mắn do còn diễm phúc còn lại trên chuyến tàu viễn hành của nhân thế, tâm tư cùng ý thức còn minh mẫn để nghiệm ra rằng thời gian qua mau thật cùng lúc có một cảm giác cái sân ga của mình sắp xuống đang đến càng gần.


Có ai đó thường than thở, "cái vốn thời gian còn lại của chúng ta chẳng còn là bao nhiêu, nó đã vơi đi quá nhiều!"


THỜI GIAN CHẲNG CHỜ ĐỢI AI

(Time waits for no man) Ngạn Ngữ



Thế nhân thường than thở hay van xin "thời gian ơi! xin ngừng trôi hãy chậm lại với?" nhưng xưa nay có ai xin được? Ngay đức Phật hay đức Chúa cũng phải tuân theo định luật của Tạo Hóa.

Rồi Có một lúc nào đó chúng ta chợt buông tiếng thở dài. Có chút gì ray rứt buồn bã trong những ngày tháng về chiều đó chăng? Từng sân ga lấp ló xa xa ... Con tàu thời gian vẫn miệt mài chạy về hướng trước. Tàu sẽ lần lượt bỏ chúng ta lại trên những sân ga buồn tênh, hiu hắt bên đường... từng người khách bước xuống và ngoái lại vẫy tay chào trước khi đi vào bóng tối nhạt nhòa, hư ảo.


Tâm hồn hoài cố hay nhắc lại chuyện xưa. Ai đó sẽ nâng niu, trìu mến những hình ảnh, nhiều mẫu chuyện tưởng như vụn vặt xa xăm nay được ta cho chúng 'hồi sinh'. Có người sẽ cho là vô ích và hoài phí thời gian. Người hoài cổ hay nhớ nhung những gì đã mất, chuyện đã rồi âu sẽ hoài phí cái "vốn thời gian" eo hẹp còn lại chăng? Chúng ta chưa chấp nhận thế. Giá như thời gian còn lại, cái vốn eo hẹp kia còn đậm nét cho ta sưởi ấm tâm hồn héo úa, đó là thời gian ta sống lại với quá khứ mến yêu. Có ích gì chăng mỗi khi những lớp tuổi già, bỗng dưng hoang phí chặng cuối của chuyến viễn hành này với những mộng mị hảo huyền, phi thực.


Hôm nay ngó lại mình, ừ ta nay "tóc bạc da nhăn" rồi thì làm sao có một "Hằng Nga" trong mộng? Tình yêu nào tương hợp như thuở thanh xuân để còn chút gì rung động cho trái tim già cỗi?


Có ai đó sống với hoài niệm quá khứ, nay được tô bồi, vun xới để trở về sống cùng hồn người, lúc đối diện với chất thật của chính mình? Thời khắc ta đang trở về, tâm tưởng quy hồi, nâng niu kỷ niệm.


Có khoảnh khắc nào đó của thực tại, dù đôi vai gánh nặng thời gian nhưng bạn và ta sẽ sống lại với cái ta đầy hoài niệm đầy tố chất của tâm linh. Giá trị của thời gian, do những gì đã qua đi vĩnh viễn chẳng quy hồi, những tố chất của sự thật do chúng ta từng mộng mơ rất thật. Cái thuở ban đầu cho bao đứa học trò, biết bao hoài bão cho tương lai chưa tới. Thật vậy, quá khứ là dưỡng chất của ngày qua 'nuôi sống' cái ta già cỗi hôm nay.


Jules Beaulac sinh năm 1933 mất năm 2010, là nhà truyền đạo thuộc giáo hội Quebec, cũng là một nhà văn nhà thơ Gia Nã Đại. Nhà truyền giáo Jules Beaulac có viết:

Hiện tại hôm nay chẳng khác chi gốc cây tỏa bóng che chở cho ta nhưng chính gốc cây này đã bám sâu vào lớp đất quá khứ, một quá khứ của mộng mơ nhưng cũng đầy trải nghiệm để cho cây đời Hiện Tại của chúng ta vươn lên, vui sống...




Thế thì chúng ta làm sao quay lưng, chối bỏ cùng dập vùi quá khứ trong bóng tối của lãng quên?


    Con tàu thời gian tiếp tục gom góp bao nhiêu tiếc nuối quay quắt nhớ ngày tháng cũ. Những hình bóng mỹ nhân, những làn mi cong vút và những bờ môi mọng ướt đa tình và biết bao đôi mắt đắm đuối si mê ...



Nói sao hết, nhớ sao vừa? nhưng hình ảnh đó đã trôi giạt về cuối chân trời kỷ niệm, nhạt nhòa, thật xa.

Bạn và tôi hôm nay hãy cám ơn đời, cám ơn người đã cho chúng ta cơ hội ngồi đây mà trầm tư hay viết nhiều dòng suy niệm.

Dầu sao chăng nữa, bạn và tôi hãy nhớ cho rằng con tàu thời gian chẳng bao giờ chờ đợi một ai. Chúng ta sẽ lần lượt bước xuống ở mỗi sân ga, vẫy tay chào thời gian đi tới.


Chuyến tàu thời gian sẽ đi về vô tận, hướng đến tương lai chỉ có chúng ta là những người ở lại từng mỗi ga đời./.


Đinh trọng Phúc 



Tuesday, July 21, 2026

Ở NHÀ NGHỈ ĐI RỪNG MỘT NGÀY RU CON GÁI

 

MỘT VÙNG QUÊ NGHÈO

 hồi ký 

TẶNG BÀ XÃ TÚY HUỆ 

viết cho con gái đầu Đinh thị Lâm Ân


lời mở:

Con gái tôi tên là Lâm Ân? Tại sao người viết đặt cháu là Lâm Ân nhỉ?

Sau khi vợ tôi sinh con trai đầu lòng, hai vợ chồng liền bồng bế con lên xã Sơn Mỹ để tiện bề cho vợ tôi dạy học. Kiếp tù "cải tạo" về lấy vợ nhưng cũng không phải là đổi đời mà nhiệm vụ cái cuốc cái rìu còn nặng nề thêm để lo cho cuộc sống. Nhà cửa chưa có, may mắn được tá túc trong ngôi trường của xã. Ngoài ra tôi còn được trường cho phép trồng trọt đám đất pha cát quanh trường nữa. Đứa con trai đầu được gần hai tuổi thì vợ chồng có thêm đứa con gái đầu lòng nữa. Ngày sinh bé gái nhờ có bà ngoại lên chăm sóc cho hai mẹ con nên người viết mới qua ngày thứ hai ở bên vợ con đã vội vào rừng tiếp tục làm nghề thồ củi đi bán... Như bạn đọc từng hay qua các bài hồi ký khác, nghề chính của kẻ này chính là "tiều phu" kiếm tiền độ nhật giúp đỡ thêm gia đình. Vợ làm nghề giáo viên, lương tháng vài chục thêm mười ba ký gạo chẳng đắp đổi vào đâu? Đó là một ngày đáng nhớ cho kẻ làm rừng! Sáng sớm vừa ra khỏi nhà, dắt chiếc xe đạp thồ theo con đường kiệt trong thôn thì được ngay "cái búa đi rừng". Tôi khá mừng do cái búa đi rừng của mình đã hao mòn hư đến nơi!


Ôi không được tiền được bạc mà lại cái "búa" mới trớ trêu thay! 

Dù sao có còn hơn không đó cũng cái may nhỏ dù cái của trời cho đó chẳng đáng bao nhiêu?

Nghề đi củi nếu không nói là tiều phu, được cái búa đi rừng trong ngày con ra đời, đó là lý do cho tôi đặt tên cho con gái là Lâm Ân. 

Sao tôi đặt tên cho con là Lâm Ân?

Lâm Ân, có nghĩa nôm là "ơn rừng" cái búa là một phương tiện, dụng cụ để bửa củi trong rừng kiếm ra một trăm đồng bạc cho một xe thồ củi đầy thời đó. Đó là ơn rừng cho hay là cái tên cho con gái của hai vợ chồng.


VÀO BÀI 

Đường về đêm nay vắng tanh
Dạt dào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh...

(Kiếp Nghèo NS Lam Phương)

    


Phân hiệu trường xã Sơn Mỹ huyện Hàm Tân   thời gian này còn mang tên tỉnh Thuận Hải là một trong những trường quê vùng đồi dốc cao ngó ra vịnh Hàm tân biển xanh bát ngát bốn mùa gió lộng. Các thầy cô giáo ở đây có được một niềm an ủi khi phải làm việc trong chật vật khó khăn của thời bao cấp đó là những ngày hè thầy cô cùng học trò ra tận biển để tận hưởng luồng không khí mát rượi không tốn tiền mua từ biển thổi vào hay những con còng con cua núp dưới lớp cát khi sóng đánh vô. Tiếp nối xã Sơn Mỹ, xã Tân Thắng nhờ kế cận bờ biển nối dài về Bình Châu , Bưng Riềng cũng có được "kho trời đât" vô tận ngày đó.

    Những đêm mùa câu mực, một vùng biển lấp lánh muôn vàn ánh đèn thắp sáng từ hàng ngàn con thuyền và thúng. Tôi đứng trên đồi cao nhìn về biển - cả một vũ trụ của sao đèn không thể nào đếm xuể.

    Đó là ký ức của tôi về biển cùng ngư dân vùng này. Riêng trên các đồi đất cao vùng gia đình tôi sống dành cho nông dân cùng tiều phu những gia đình gắn liền mạch sống với đất rẫy cùng cây rừng . Từ hai bàn tay, cái cuốc cây rìu người dân đã tạo ra vô số luống khoai nương sắn. Rừng xanh dần dần biến mất theo miếng ăn của con người khi đất ruộng hiếm hoi. Thay vào đó các đồi trồng cây hoa màu phụ chạy dần về núi Đất hay núi Bể. Rừng còn bị bị san bằng- đốt phá cho những gánh than hay những thớ gỗ xây nhà dựng cửa. Trẻ con sau những giờ phụ mẹ cha vào rừng nhặt than, trỉa bắp các em cũng có những giờ hạnh phúc học hành với các thầy cô bên cạnh mái trường đổ nát xiêu vẹo có khi loang lỗ dấu đạn chiến tranh.

    Vợ tôi và các cô thầy giáo khác từng có cơ hội gần gũi với người dân bên nương khoai rẫy bắp, cùng đói- cùng no với trẻ con vùng kinh tế mới, dấu ấn một thời gọi là bao cấp. Tôi không quên hình ảnh các thầy cô hàng tháng phải đạp xe về tận huyên xếp hàng từ sáng đến chiều chờ "dài cổ" mới mua được tiêu chuẩn mỗi ngừoi hai lít dầu hôi cùng vài lạng (trăm gam) thịt heo. Chuyện mới kỳ vì ai cũng thích thịt heo loại "nhiều mỡ", thì ra các cô thầy ưa mỡ để rán ăn dần trọn tháng.

    Đời sống thấy cô tuy khổ nhưng dù sao cũng còn khá hơn các em vì các em có khi phải thắp đèn bằng dầu "mù - u" kiếm trong rừng vì dầu là những thứ gì thuộc loại "hiếm quý". Những đêm tôi đi rẫy về trễ nghe tiếng 'ê - a' các em học bài vọng ra từ các mái tranh làm lòng tôi xao xuyến. Ánh đèn lù mù le lói chiếu ra từ các mái tranh nghèo . Tiếng học bài của các em nhỏ tôi nghe như phần nào giảm đi nỗi hoang sơ nơi thôn dã. Ngày mai các em còn tới lớp cũng 'ê a' tiếng đọc bài theo nhịp thước của thầy- của cô tại ngôi trường mà gia đình tôi đang trú ngụ.


Hình trắng đen chụp năm 1986, học trò lớp 3 chụp chung với cô giáo tức là vợ tôi cạnh ngôi trường cũ, vách hông trường đã đổ nát trong chiến tranh, nên qua cửa sổ chúng ta thấy một khoảng sáng trắng 

 đèn dầu mù u cho người dân quê xã Sơn Mỹ Huyện Hàm Tân một thời nghèo khổ



    Nghèo là nghèo chung , khổ là khổ chung tất cả đều chia sẻ nhau những cơ cực. Ngày TẾT THẦY CÔ hàng năm học trò nghèo không có chi có khi lại xách luôn cả xâu cá mới câu được đem biếu cô. Có em lại đem những lon bắp hay nhũng gì trong vườn các em có được đem tới thầy cô lấy thảo. Giờ nhớ lại tôi không quên được nét ngây ngô chất phác của các em học trò vùng quê thuở ấy.

   Cô Pho được đổi về dạy gần nhà tại xã Sơn Mỹ Hàm tân và cùng dạy học với vợ tôi tại phân hiệu trường Sơn Mỹ này khá lâu. Thời bao cấp lưong cô thầy vài ba chục đồng, chủ yếu nhờ vào tem phiếu. Cô Ph cũng không ngoại lệ. Ngày tháng chắt chiu nưôi con heo đen, gầy dựng hạnh phúc cho cô đó là ngày cô đám cưới. Ngày cưới của cô gần kề, con heo cô nuôi cũng vừa lớn là chủ lực chính cho buổi liên hoan trong vùng thôn dã, là tất cả hi vọng cô đặt vào gần một năm trời chăm sóc cho nó miếng cám ngọn rau. Con heo đen ăn ròng cám chuối, vùng gần biển đôi khi cô cũng thêm cho nó một ít cá vụn . Xóm làng ai cũng xuýt xoa khen con heo mau lớn, thịt con heo này chắc là ngon lắm !

    Ngày hạnh phúc tức là ngày cưới của cô Pho đã đến. Giáo viên cùng trường như vợ tôi phải tới dự thôi. Vậy là tôi có được một ngày tạm dừng rìu rựa, ở nhà ru con cho vợ tôi đi dự đám cưới. Thời gian này nhà tôi đang tạm trú tại ngôi trường đổ nát mà vợ tôi vừa dạy học vừa ở với gia đình. Còn tôi dĩ nhiên là phu trường tự nguyện không có trợ cấp, dù sao gia đình tôi có một nơi che mưa đụt nắng là may mắn lắm rồi .

    Đứa con gái sinh năm 1985 của người viết đang nằm vẫy đạp trong nôi. Nhờ trời tuy khoai sắn nhiều hơn cơm nhưng con tôi lớn nhanh "như bù", trong thôn ai cũng yêu mến, các cô thầy đi ngang đều ưa nựng bé. Hai bàn tay thô ráp của một người cha hàng ngày hết cầm cuốc đến rựa rìu bỗng nhiên hôm nay có được cơ hội nhưng cũng biết ru con cho thật êm ả kẻo con khóc. Trong lòng người cha vừa sung sướng vừa hồi hộp do sợ con khóc đòi sữa mẹ?! Hình như con gái tôi biết thương cha, nên ngày đó ngoan lắm hết ngủ thì lại "múa may" hai tay trong cái nôi cùng "tri trô" gì đó với cha nó... Tôi vừa ru con vừa ngóng tai nghe tiếng pháo đám cưới của cô giáo ngay thôn kế cận nhưng hoàn toàn im lặng?! Tôi chợt hiểu ra làm gì thời đó mà có pháo? nhất là ở vùng thôn quê sống nhờ vào nương rẫy như vùng nhà tôi ở?

    Cái nôi tre méo mó chốc chốc rung rinh theo nhịp chân của con gái. Con tôi lại thức dậy chơi nữa? Hình như bé mừng do nó đang có "một dịp hiếm hoi" khi hình ảnh qua tao nôi bé nhận ra là người cha thân yêu hàng ngày vắng bóng do mịt mùng trong rừng. Tôi vừa ru con tôi vừa ngó lại vách tường vôi cũ của cái trường cũ loang lổ vết đạn. Mái trường nhà tôi được tạm trú mấy năm nay, một vách phòng cuối đã sụp đổ từ trận chiến 1975, tạm thay bằng những liếp lá buông cùng ván rừng. Qua khung cửa sổ tôi còn thấy được biển Hàm tân xanh ngắt ẩn hiện sau những hàng cây bạch đàn . Thấp thoáng vài con thuyền chài nhấp nhô trên sóng biển. Cứ mùa mực về trời càng chiều càng nhiều thuyền ra khơi . Khi màn đêm vừa buông xuống là muôn ngàn ánh đèn câu mực sẽ thi nhau lấp lánh trên vịnh Hàm tân . Mực là nguồn kinh tế là tiền là vàng cho ngư dân vùng thị xã La Gi. Người dân quê vùng cao tôi đang ở đây an phận với gánh than bó củi , hay thúng khoai " triêng" sắn , ngày ngày mịt mù trong nương rẫy cho đến lúc về nhà thì đã lên đèn , những ngọn đèn dầu mù u tỏa những làn khói xám xịt.

đèn biển mùa câu mực hàm tân 


    Hôm đó dù mất một ngày đi rẫy nhưng tôi đã sống một ngày có ý nghĩa vì vợ tôi có một ngày thoải mái cùng vui vẻ với đồng nghiệp bạn bè, bà con trong thôn xóm. Riêng người cha như tôi thì được một ngày gần con. Người viết làm sao quên hình ảnh vợ tôi phải bỏ một ngày may bằng tay mấy tấc vải thun tiêu chuẩn, nhờ khéo tay nên cuối cùng cũng có cái áo mới để đi ăn đám cưới. Hình ảnh ngày trước, những chiếc áo dài trang trọng trong ngày cưới, thực sự biến mất vào năm đó. Áo quần đi ăn cưới được thế  bằng  những chiếc áo bà ba hay sơ mi kiểu nữ...

    Lòng tôi còn ghi đậm mớ thịt heo, vợ tôi nhịn đi trong bữa tiệc cưới nhằm bới về cho chồng ở nhà. Đó là những lát thịt heo tôi ăn "ngon nhất trong đời" và sau đó cứ suýt xoa khen mãi. Con heo đen đó là cả một gia tài của một cô giáo vùng quê chắt chiu nuôi mập. Cả một ước mơ của dân áo vải quần thô, sắn khoai thay gạo. Những lát thịt heo ngày đó còn mang nặng tình nghĩa vợ chồng. Đó cũng là kỷ niệm không quên về một vùng kinh tế mới - nơi có mái trường rách nát tả tơi cùng đám học trò nghèo ngây thơ, thiếu thốn đến tội nghiệp!


    Kỷ niệm một vùng quê nghèo tính thời gian bằng tuổi con gái tôi hôm nay. Thời gian trôi mau thật thấp thoáng mà đã ba mươi mấy năm qua! Hôm nay nhìn vào tủ lạnh trong nhà tôi, nó đầy ắp thức ăn! nhưng thực lòng tôi chẳng tha thiết ăn gì? Chợt nghiệm ra rằng khi qua được xứ Mỹ tôi chưa lần nào có được cái "cảm giác ngon lành" năm xưa từ mấy lát thịt heo trong ngày cưới cô Pho năm đó? Bao nhiêu hình ảnh cũ lần lượt hiện về...

 người tiều phu có một ngày được dịp ru con bên cái nôi tre méo mó, rồi vợ tôi tất tả ra về, những miếng thịt heo đùm trong chiếc mũ vải. Ngày cưới cô giáo làng không áo dài không tiếng pháo, đám học trò lem luốc củi than nơi một vùng quê nghèo, hình ảnh nhiều gánh than cùng mấy rẫy sắn trải dài bất tận…

    Đóng lại cánh cửa tủ lạnh, không hiểu tại sao tôi lại buông tiếng thở dài?! Tôi thở dài cũng phải do tôi nghĩ giá như ngày đó nhà tôi chỉ có một phần nhỏ mạch sống như hiện nay thì đó quả thật là một "phép nhiệm mầu"!
 Hôm nay, mỗi lần mở tủ lạnh hay nấu ăn chúng tôi chẳng còn thèm muốn thứ gì? ngoại trừ nấu ăn chiếu lệ.

 Chẳng ai đi ngược được thời gian? nhưng từ hoài niệm về một vùng đất khổ, tôi lại nghĩ: biết đâu nhờ đó mà chúng tôi mới có một sức bật vươn lên từ quê hương mới cũng nên./.

Đinh trọng Phúc
edition 21/7/2026

Monday, July 20, 2026

NHỚ NGÀY 20 THÁNG 7 VÀ LỊCH SỬ CẬN ĐẠI VIỆT NAM QUA LĂNG KÍNH KHÁCH QUAN HƠN

 

 

ĐÔI BỜ HIỀN LƯƠNG VÀ KỶ NIỆM THĂM CẦU BẾN HẢI 20/7/1964

hình ảnh sưu tầm được cho thấy đồng bào QT ra thăm cầu Bến Hải (1964) đang tụ tập bên kia cầu ngó qua và đội quân nhạc miền bắc sẽ tấu lên lúc đồng bào đang làm lễ đông đúc nhìn qua phía bờ bắc . Chính tác giả bài viết năm đó tận mắt thấy đoàn quân nhạc miền bắc trong hình này nhưng nhìn theo hướng từ bờ nam . Nhờ vào hình này, tác giả biết được năm 1964 tức mình mới 11 tuổi.

                            hình báo LIFE của Hoa Kỳ 

    
    Ngày 20 tháng 7 năm 1954 đất nước VN bị chia đôi- miền bắc sống dưới chế độ Cộng Sản và miền nam xây dựng chế độ cộng hòa. Cũng từ ngày đó giòng sông Bến Hải trở thành một địa danh lịch sử, phân chia ranh giới hai miền đất nước với chế độ chính trị hoàn toàn khác nhau.


Người viết sinh ra và lớn lên tại tỉnh Địa Đầu Giới Tuyến đúng 10 năm khi chỉ là một cậu bé 10 tuổi nói khác đi ngày 20/7/1964 may mắn  có cơ hội đi theo gia đình và đồng bào Quảng Trị ra dự mít tinh kỷ niệm ngày ký kết Hiệp Định Geneva.











Quá khứ tiếp nối quá khứ như từng dãy núi  chập chùng đưa tôi về lại hinh ảnh ngày xưa, những ngày còn bé, một thuở tạm thanh bình dưới thời Đệ nhất  Cộng Hòa của Cố TT Ngô Đình Diệm. Dịp kỷ niệm 20 tháng 7, 1964 tôi là một  đứa bé được cả nhà cho theo ra quận Trung Lương cùng đồng bào Quảng Trị làm lễ Mit ting kỷ niệm ngày chia đôi đất nước.
  
  Hồi đó muốn ra tới Cầu Bến Hải xe phải qua Đèo Ba Dốc. Đèo này không cao nhưng muốn xuống đèo xe phải lái rất cẩn thận, xuống được 3 cái dốc rất ngặt nên cũng rất nguy hiểm . Hết đèo là xe có thể ‘bon bon’ chạy trên một đoạn đường thẳng trên một đồng bằng hiếm hoi của quận Trung Lương để đến chân cầu Bến Hải, nơi này có trụ sở Kiểm Soát đình Chiến kết hợp cảnh sát Trung Lương làm việc ở đây.


   Tôi nhớ rõ nhất là hai lá cờ to lớn có thể là ‘vĩ đại’ nhất trong trí nhớ. Dĩ nhiên cờ vàng ba sọc đỏ bên ‘miềng’ (tiếng gọi MÌNH của dân Quảng Trị chúng tôi) và cờ đỏ sao vàng bên “tê” (kia). Hai là cờ to lớn theo tôi nó có thể phủ kín một cái nhà một cách dễ dàng. Cái cầu cũng bị chia đôi, mỗi bên mỗi màu và sơn đúng một nửa bên mình thì màu xanh . Nhân viên 2 phía đi lui đi tới trên cầu thỉnh thoảng đi qua mặt nhau cũng đôi lúc cả 2 cùng nói gì đó và cùng ngó xuống mặt nước sông Hiền lương. Bề mặt của chiếc cầu rất hẹp và nó chẳng cần chi cho chuyện xe cộ, mà để trao đổi nhân viên 2 miền qua lại làm việc hàng ngày. Gia đình tôi kể rằng: mỗi ngày cảnh sát quận Trung Lương cũng qua làm việc bên kia, đổi lại bên kia cũng có một người qua ‘làm việc’ bên mình. Văn phòng làm việc của mỗi bên đều gần sát cầu, kế cột cờ.


   Đến giờ hành lễ, đồng bào tới sát cầu, mặt hướng về bờ sông bên kia, tai thì nghe ban tổ chức đọc diễn văn và cáo trạng Cộng Sản miền Bắc đang đày đọa đồng bào ruột thịt miền Bắc, khi họ cố tâm xây dựng cho được Chủ nghĩa Xã hội áp đặt lý thuyết Cộng sản lên đầu dân chúng miền Bắc. Xen kẽ còn có những bài hát đề cao tự do no ấm của miền Nam như "Khúc hát thanh bình - Chuyến đò vĩ tuyến - Nắng đẹp miền Nam…"


Lúc này phía bên kia đâu có chịu yên, họ đem một đội quân nhạc bận complet trắng, cùng hướng về bờ nam hợp tấu những bài gì đó nhưng phía bên mình ồn quá làm sao nghe được? hơn nữa phía miền bắc chỉ muốn phá hay quấy rồi bằng tiếng nhạc của họ để cho buổi lễ của đồng bào phía mình bị xáo trộn mà thôi.


Hôm nay, phương tiện nhờ Internet, tôi TÌM ra được đội QUÂN NHẠC miền bắc trong bài viết và ngày tháng đồng bào QT ra thăm cầu Hiền Lương là dịp 20/7/1964 
(trong hình, đồng bào phía bên tê sông chắc có tôi trong đó do trí nhớ tôi còn nhớ ttoan quân nhạc miền bắc bận toàn complet màu trắng như trong hình nhưng tôi thấy theo chiều ngược lại)
theo trang web của CSVN hiện nay tôi có được hình ảnh đội quân nhạc của miền bắc trong bài viết

*
LỘN XỘN NHƯNG MAY...
    Bỗng có tiếng la hét và một đám đông đồng bào hốt hoảng chạy ngược lùi lại phía sau, Những hoảng loạn đó lan  rất nhanh làm tôi cũng chạy mất luôn đôi dép "nhựa" (hồi đó ít ai có giày). Sau đó mới vỡ lẽ là một "ông cán bộ" đang trực trên cầu vô ý vứt tàn thuốc xuống một đám cỏ khô bên cầu, có gió nó bắt lửa lên khói làm đồng bào hoảng sợ. Những đám đông khác thấy chạy thì cứ chạy nên hoảng loạn mới lan nhanh như thế.








Tội nghiệp mấy chú cảnh sát Trung Lương vất vả giải thích một hồi lâu, thì đồng bào mình mới yên tâm. Hết lễ, bà con chia thành từng tốp nhỏ đi theo men sông để ngắm phía "bên tê".

Trí nhớ của tôi còn ghi lại một giòng sông nhỏ bé, nước lặng lờ trôi. Bên tê sông hình dáng những người dân miền Bắc kham khổ chịu đựng, những cánh áo nâu khom khom người "lùng sục" dưới đáy sông kiếm từng con cá; hay những chiếc thuyền nan bé tí teo, những chiếc nón lá chỉ biết im lăng, câm nín cúi đầu với công việc kiếm ăn. Họ im lìm tuyệt đối không có một cử chỉ tò mò gì khi bên này sông, đồng bào mình đang đi như trẩy hội. Bên kia sông chỉ một khoảng cách ngắn ngủi mà thôi, thế mà đồng bào bờ Bắc như không thấy không nghe, không dám ngẫng đầu nhìn. Một sức mạnh vô hình đang bắt họ phải điếc, phải mù?



   Men theo bờ Hiền Lương, cách chừng một cây số theo bờ đều có những hình ảnh cổ động tuyên truyền hay trụ phát thanh, mỗi trụ gắn khoảng gần 20 cái loa đều mở hết "volume" hướng về bờ kia để phát thanh cùng ca nhạc tuyên truyền. Bên nào cũng mở hết cỡ âm thanh làm huyên náo cả một vùng, khiến tôi quên cả sợ hãi phập phồng.

Qua năm sau, cũng dịp này lần này tôi có dịp đi ra phía Cửa Tùng, cửa sông Hiền Lương. Cửa Tùng dáng vẻ đìu hiu buồn bả vô cùng . Bên “tê” chỉ lác đác vài ba cái thúng của dân đánh cá miền Bắc, không có dân. Còn phía bờ Nam cửa Tùng thì tuyệt đối đồng bào không có làm ăn ở đây.

ĐỊNH CƯ CAM LỘ 


    Chiến sự leo thang, cường độ cuộc chiến càng ngày càng ác liệt. Những năm sau 1965, Trung Lương càng ngày càng hoang vắng.  1967 toàn bộ dân Gio Linh di tản hết lên Cam Lộ, vào Nam tái định cư. Tuyến MacNamara ra đời. Chiến tranh không tập miền Bắc gia tăng mức độ. Và chuyện đi chơi dự mít - ting ở cầu Bến Hải đã thực sự nằm trong dĩ vãng./.

Đinh trọng Phúc edit 

20/7?2026

Sunday, July 19, 2026

CHUYỆN CON TRĂN DƯỚI BỤI CỎ HÔI (edition)


xã Sơn Mỹ tháng  9/1988
kỷ niệm ngày đầy tháng con trai thứ hai: Đinh trọng Trữ Khang 

vùng đất Sơn Mỹ- Hàm Tân và những vồng trồng khoai bắp năm 1995 ngó vô xa là ngọn núi Mây Tào Long Khánh (hình tác giả)

BỔI CỎ HÔI CHO KHOAI NHIỀU CỦ

Vài dòng tâm sự mở bài

    Đám đất quanh vườn ngôi trường tiểu học từng dành cho nhà tôi trú ngụ càng lúc càng bạc màu do người kể chuyện chưa bao giờ nghỉ trồng trọt. Nếu có "luân canh" như thế thì phải chịu tốn tiền mua thêm phân tô bồi cho đất.  Kể ra kẻ này khá "bốc lột" nhưng tiền đâu? Nhớ làm sao cũng đám đất pha cát đó, hết vụ bắp xong lại trồng khoai. Trồng gì cũng phải đánh vồng cả thôi. Bạn đọc chưa hề làm nông chắc khó nghĩ  ra "đánh vồng" là gì nhỉ?

Bạn đọc hãy xem hình trên sẽ rõ... Đánh vồng là ta dùng cuốc un đất lại thành từng luống vồng song song để tập trung "chất bổ trong đất" còn lại, nếu có cho cây có chất mà nảy nở. Thế nhưng cách canh tác như vậy; cứ "đào lên bới xuống" -một lối chơi chữ của người viết hay dùng trong hồi ký mình- sau nhiều trận mưa thì đất đai càng trôi, càng bạc màu nhanh hơn. 

Tính từ năm 1980 tôi được "ra trại" về với gia đình, ba năm sau thì người viết lập gia đình với vợ tôi, người đồng môn cũng là đồng hương Quảng Trị. Bà xã người viết may mắn lắm mới có được nghề dạy học. Người "phó thường dân" như kẻ này lập gia đình với "hai bàn tay trắng" đúng nghĩa nhất của nó.



BỨT BỔI LÓT VỒNG TRỒNG KHOAI 

 Trồng khoai mà không lót bổi thì chỉ có cuốc ra "rễ khoai" chứ chẳng có củ nào! Bổi càng lúc càng hiếm; hết cắt xa rồi lại cắt gần.

cây bổi nàng nàng loại cỏ hôi  lót vồng trồng khoai sẽ cho nhiều củ

Cây bổi lót cho vồng khoai, người dân xã Sơn Mỹ chúng tôi gọi là cây 'nàng nàng' ; ngoài quê Quảng Trị còn gọi là cây cỏ hôi hay cây bông cợi, ở tù 'cải tạo' nhất là tại Ái Tử chúng tôi hay đi cắt loại "phân xanh" này hết núi sạch rừng. Tôi nghĩ vậy không biết có đúng chăng?

Hôm đó tôi gặp may do có đám bổi mọc gần nhà, cạnh con đường dẫn vào xóm trong. Vừa cắt bổi, tôi vừa nghĩ đến ngày đầy tháng đứa con trai thứ hai, chưa biết lấy chi làm cho nó 'vui cửa vui nhà'?

Nhà tôi lúc đó thật ra ở tạm trú dưới mái trường, nơi vợ tôi dạy cho con em trong thôn. Từ ngày có gia đình tôi trú ngụ, mái trường hết cái cảnh 'buồn hiu- buồn hắt' nhờ có tôi là người trông nom. Dù sao, nhờ vào công việc tự nguyện vừa trông nom trường, tôi vừa có đất của trường để trồng trọt kiếm thêm lợi tức[1]

Đám bổi xanh ngắt, đẫm ướt hơi sương vào sáng sớm. Tôi khom người cầm cái liềm cắt bổi tiếng nghe soàn soạt. Vừa cắt, tôi vừa nghĩ tới ngày "khảm tháng" tức là đầy tháng đứa con trai thứ hai. Có thể vợ tôi chỉ cần mua thêm ít nếp, hai cặp đường đen trên chợ. Chuyện gà vịt, thì nhà tôi đã có con gà mái tơ chưa nhảy ổ.

Những lúc cắt bổi, tôi hay sợ mấy 'chú' rắn lục. Loại rắn này hay đeo vắt vẻo trên cành lá. Thứ lá này có màu xanh lục, tiệp với màu da của rắn lục lá nên khó phân biệt. Thật vậy,  hai tay tôi vừa làm nhưng lại 'ơn ớn' trong người. Nhưng nghĩ tới hình ảnh cuối mùa thu hoạch tức ngày bới khoai-  bao nhiêu là củ khoai to căng tròn, láng bóng nhờ có thứ lá bổi đó làm phân lót vồng, thế là tôi quên cả lo sợ.

-Sợ thì lấy chi ăn?

Đúng vậy, "sợ thì lấy chi ăn" bụng bảo dạ thế; ý nghĩ kia giúp tôi càng bạo dạn hơn lên. Tay trái trần trụi vơ lấy mấy cành bổi, tay phải tôi cắt thoăn thoắt, xong gom thành từng đống...

Đám bổi mới lên sau vụ mưa đầu mùa, mới đó mà đã bị cắt sạch thành từng đống. Triền đất cạnh cái vực lở trong làng, giờ đã lộ ra nền cát trắng, lợn cơn lá khô. Những gốc bổi cây cỏ hôi vừa bị tôi cắt xong, chơ vơ như những ngọn chông nhìn thẳng lên trời.


Chợt tôi điếng người! tim như thót lại! ...một vật gì đó, dài tròn như khúc gỗ nằm yên cạnh chân tôi bao lâu mà tôi chẳng hề hay biết?!

-UI CHAO CON TRĂN!!!

Màu của nó thì tôi không lầm vào đâu được. Những bông tròn như loài trăn gấm còn sót lại ở những vực khe gần biển Hàm Tân sau thời kỳ "khai hoang phục hóa ", di dân Quảng trị vào đây hồi 1973. Tôi không ngờ con trăn nằm bất động ở miếng đất bổi gần vực lở này. Không chừng? nó có thể nuốt con gà, con chó, hay con gì đó của nhà chú Đồng, hàng xóm với tôi?

Thật ra, tôi không sợ hãi ngoại trừ lay hoay như "gà sắp nhảy ổ"!  không biết tính sao, sợ con trăn đi mất?  Nó mà bò đi xem như tôi mất tiêu "một đống tiền"! Mấy năm nay người ta đi săn lùng mua trăn nhiều lắm. Họ làm gì trên Thành Phố không biết? xem chừng phát triển ngành nghề khá nhiều. Nghe còn có hợp tác xã đâu trong kia nuôi "trại cá sấu" nữa? Xóm người viết ở, chú Thu nay làm nghề mua trăn cùng thú rừng hiếm ai cũng biết. Tính tôi khá sợ rắn rít, nhưng từ ngày tù về tôi chẳng hề sợ gì, huống chi giờ đây con trăn tôi gặp hôm đó, cả một "đống tiền" trước mắt?! 

Ngoài cái liềm đang cầm trong tay, tôi chẳng có cái gì? bao cũng không, dây cũng không? Tôi quay quắt...

Làm răng đây!?

 Con trăn giờ đó hình như hơi nhúc nhích, đang từ từ... di động?!

Bỗng có một bóng người đang tới gần...tôi mừng quá la to:

            -Chú Đồng, chú Đồng ơi! con trăn! con trăn...

Chú Đồng [*]đang dắt chiếc xe đạp thồ ra khỏi nhà ; sáng nay hình như chú ấy lên rẫy trễ hơn mọi khi.

        -Mô? ...Mô?

Chú Đồng vứt ngay chiếc xe đạp nghe cái "phịch" bên con đường mòn, chạy tới gần tôi. Thời này mà nghe chuyện được trăn là chuyện vớ được cả đống tiền chứ không phải là chuyện sợ hãi, rùng rợn nào cả. Chuyện trong thôn người ta đem bán trăn đồn "hà rầm"! ba con thú như tắc kè, trút (còn gọi là tê tê), kỳ đà, nhím...thợ rừng đem về còn bán được khá tiền huống gì trăn là món hàng thuộc dạng "cao cấp"!?

Tôi đưa tay chỉ ngay xuống con trăn đang nằm trở lại yên như khúc gỗ dài cạnh chân, khoảng xa chưa tới một mét...

        -Chú Phúc giữ chặt khúc đuôi nghe, để tui chận khúc đầu hắn cho!

Chú Đồng nói là làm ngay. Phần người kể chuyện lúc này không biết sao rất can đảm, chẳng e dè chút nào? Thật vậy, đó là lần đầu tiên trong đời, tay tôi túm vào loài rắn. Tôi mím môi dùng hai tay cầm chắc vào phần đuôi. Chú Đồng túm ở phần cổ, hai người nhấc bỗng con vật lên...

Quả nó nặng thật, may mà không vùng vằng gì? Tôi ước đoán, con trăn phải dài non hai mét, nặng chình- chịch. Lần đầu tiên trong đời, tôi túm một con rắn lớn -con trăn! Mà lạ thật? nó im lìm "ngoan ngoản" không một phản ứng chống cự gì!; Nó chẳng khác chi đang "bị bệnh', ai làm gì thì làm. Đó là cái may mắn cho hai chúng tôi. Chú Đồng vừa xách một đầu con trăn vừa tiến ra phía đường lộ vừa nói lớn cho tôi nghe:

            -Chắc con trăn ni đớp gà của tui nên hai ngày ni tui tìm không ra con gà mệ nơi chú Phúc ơi!?

            -À ra rứa!

Tôi đồng ý với chú Đồng, chắc nó ăn con gà mệ của chú chứ không ai vào đây cả. Trăn ăn rồi thì nằm yên chờ tiêu hóa...tiêu hóa ra răng tôi chẳng biết. Biết ra sao qua sách vở mà thôi; lời kể trăn chưa ăn thì hung hăng, nhưng ăn rồi thì nằm yên ai làm chi thì làm?!

Quả thế, hắn nặng thiệt. Khúc bụng của nó trĩu xuống. Hai chú cháu ráng hết bình sinh túm ở đầu và đuôi mang nó đi. Ngang nhà tôi , vợ tôi mới thức dậy, vội che mắt không dám nhìn khi thấy hai chúng tôi xách con trăn bông đi ngang. Thời kỳ này, nhà ông Thu ở xóm trên , cạnh con đường chính lên xã là nhà buôn bán trăn cung cấp cho Thành Phố ( hay Sai Gon). Cũng may nhà ông Thu không xa lắm. Chưa vào sân nhà, hai chú cháu đã kêu ông Thu ơi ới!

Trước cái sân rộng của nhà ông Thu đang phơi vài mẫu da trăn chờ ngày lên Thành Phố  bỏ mối. Hồi này người viết nghe đồn mang máng, có thể da trăn dùng làm bóp ví loại cao cấp dành cho "xuất khẩu" hay thứ gì đó? Tôi chẳng cần biết làm gì, chỉ cần biết số tiền chú Thu hôm đó mua con trăn là bao nhiêu thôi?

Ông Thu cố ra dáng "chuyên nghiệp", lấy cái thước dây ra, đo lui tới vài lần, xong ông cố làm vẻ suy nghĩ nhíu mày tính toán gì đó?!

        -Con trăn ni...thiếu một tấc!? ...Chà tiếc thiệt! nếu khôn (g) thì hắn thuộc loại 3 rồi ! giờ hắn thuộc loại 2 thôi mấy eng (anh) nờ!

Người viết cũng xin nói rõ một tí với bạn đọc:

Loại 3 thì khoảng từ 30. ngàn trở lên giờ nó loại 2 thì trong vòng hai chục ngàn trở xuống.

Hai chúng tôi nghe thì nghe và biết thì biết vậy. Nếu chúng tôi không bán con trăn này ở đây thì biết bán nó chỗ nào? Không bán thì vô lý đem về nhà cho vợ con sợ bỏ "chạy tán loạn" khỏi nhà hay sao?

Giờ ông Thu mới "tính chi ly" thêm một lần nữa, ông cho giá cuối cùng là mười tám ngàn đồng, tiền tươi "chồng" ngay không thêm không bớt!
Mấy chục năm qua người viết vẫn còn nhớ như in trong đầu con số 18,000 đồng bạc vào năm đó. Một tiều phu cực khổ ngày ngày bận bịu rẫy rừng, làm sao quên được một số tiền "nằm mơ cũng không có" thế kia?

Năm đó một ngày tôi vào rừng bửa ra cho đầy chiếc xe đạp thồ củi về chợ bán chỉ vỏn vẹn 100 đồng bạc "cụ Hồ" thôi. Nói thế để bạn đọc hình dung dễ dàng ra giá trị mười tám ngàn đồng ngang đâu? Và cũng nhân tiện đó bạn đọc có thể người viết nghèo đến cỡ nào, một ngày một xe củi vỏn vẹn "100" đồng bạc?!

hình tác giả 1988 anh nông dân và tiều phu nghèo, thời gian câu chuyện, và con trăn trong chuyện thuộc vùng đất của ngôi trường đó nơi gia đình tác giả tạm trú qua ngày


Chú Đồng và tôi không nói ra, nhưng chắc rằng đều cùng một ý tưởng đó là: tiếc hùi hụi ! do con trăn 'trời cho' kia chỉ thiếu có MỘT TẤC!?

Chỉ một tấc mà mất đi MƯỜI NGÀN bạc, lớn quá đi thôi?! bao nhiêu gánh khoai mới được một ngàn?

Mấy đứa con nít lúc đó nghe chúng tôi bắt được trăn, bắt đầu bu tới sân nhà ông Thu càng lúc càng đông. Mấy o đang nách rổ đi chợ Tân Sơn, chỉ dám liếc sơ vô sân nhà ông Thu, đàn bà thì sợ rắn. Con trăn bông vẫn nằm yên không chống cự, chẳng vùng vẫy gì?! tuy thế, tay chúng tôi nào đâu dám buông, cả một đống tiền!?

TIỀN TRAO NGAY GIỮA SÂN NHÀ ÔNG THU: MƯỜI TÁM NGÀN!

Chủ nhà giờ bỏ con trăn vào cái bao, chuẩn bị chiều nay giao lên Ba Tô, có mối của ông trên đó.


Hai chú cháu cầm tiền xong liền rủ nhau ra quán chú Hoàng trước chợ "liên hoan "một bữa cho 'sướng cuộc đời'. Cả hai đồng ý cùng tiêu chung một ngàn, còn lại mỗi người chia nhau tám ngàn rưỡi.

Chú Đồng bỏ ngày rẫy , tôi mất một ngày bứt bổi trồng khoai. Tiếc gì hai ngày lao động, khi không, của đâu trên trời rơi xuống?!



Chú Hoàng chủ quán, giờ đó đem hai chai bia Sài Gòn "xanh" ra kèm theo một ít lòng heo bóp rau răm làm món nhậu. Hình ảnh dân làm rẫy cực nhọc như chúng tôi đang ngồi uống bia Sài Gòn, ăn thức nhậu hôm đó kể cũng lạ!? nhưng rồi chẳng lạ gì do chuyện bán con trăn một chút chi trong làng ai cũng nghe tin.

tác giả và chú Hoàng chủ quán gần chợ Sơn Mỹ 7/1995

Quán chú Hoàng vừa là quán ăn, chú còn sửa xe đạp. Thời này xe đạp là phương tiện chính cho người dân di chuyển. Vào rừng cũng nó- đó là xe đạp "thồ". Đi buôn xa cũng nó- tức là xe đạp thồ heo con hay chuyên chở hàng hóa. Hình ảnh con đường đất liên tỉnh 23 lở lói hư hao và phương tiện chỉ là những chiếc xe đạp là số một mà thôi. Nếu không có xe đạp thì chỉ có hai bàn chân con người tháng ngày nhịp bước chai lì  cũng như bao bàn tay thô ráp của giới nông dân năm tháng làm bạn với rẫy nương.
Tôi khó quên trước mặt quán chú Hoàng còn có hai cái quán chuyên sửa xe đạp khác của anh Oai và anh Lợi nữa. Một thời thợ sửa xe đạp làm không hết việc...

Chú Đồng và tôi vừa uống bia vừa nói chuyện "trên trời dưới đất", không đâu vào đâu. Chuyện rẫy bị đốt luộc [**] khổ như thế nào? chuyện con heo rừng phá sắn, chuyện thằng Thanh bẫy được con heo rừng thật to, tiếc thiệt đến khi vào thăm lại bẫy, con heo rừng chết ngắt ba ngày, thịt có mùi thối!?


Nói gì thì nói, hai chú cháu không dám quá chén , nghĩa là "liên hoan" trong 'một ngàn thôi' , không quá hạn. Vừa nhấp nháp miếng bia Sài Gòn thơm thơm vị bia la de ngày xưa , tôi vừa lấy tay sờ ngoài túi quần xem tám ngàn rưỡi phần tôi còn không? cùng lúc cảm giác ngụm bia mát lạnh đang trôi dần, sâu vào cổ.

Chú Đồng hôm đó vui vẻ cười nói , nhưng chú không biết rằng tôi, người cùng liên hoan với chú còn mừng vui hơn chú nữa do cái hôm may mắn đó chính là ngày đầy tháng con trai, khi không cha nó "trúng số trời cho"!



HAI MƯƠI TÁM NĂM SAU
 (1988-2016)


LOGO Đại Học Y Khoa Harvard

ngày 26.5.2016



Đinh trữ Khang tốt nghiệp TS Y Khoa Harvard 26.5.2016 (ưu hạng Cum Laude) đang chụp hình chung với thân mẫu
 người viết và con trai Đinh trọng Trữ Khang 

====================

ngày 27.5.2016


LOGO LIÊN TRƯỜNG Y KHOA HARVARD & MIT 



Ngày hôm sau 27.5.2016, Trữ Khang tiếp tục nhận thêm một bằng
TS Y Khoa thứ 2  tại Liên Trường  Harvard & MIT 



Từ ngày 2.8.1995 tới nay hơn ba mươi năm vợ chồng người viết cùng năm đứa đã thực sự xa lìa miền đất khổ. Nước Mỹ bao dung từng dang tay đón những người cùng hoàn cảnh như kẻ tiều phu này. Quê hương mới, một đất nước cơ hội cùng tiến thân, đứa con trai trong câu chuyện kể này cùng bốn các anh chị em lần lượt thành công nơi đất Mỹ. Tuổi về chiều, khi vợ chồng chúng tôi tạm coi là xong nhiệm vụ, chợt một chút chạnh lòng nhung nhớ nào đó dâng lên trong lòng  chúng tôi...biết bao hình ảnh ngày xưa ngập tràn kỷ niệm gian lao, khổ cực! chắc hẳn giờ đây con cái tôi, lớn lên nơi quê hương mới, khó lòng tưởng tượng ra hết dù có đọc, có nghe kể lại?! Hình ảnh ngày xưa... một đám đất bạc màu nơi nguồn sống dường như cạn kiệt, sự mừng vui của một người cha cùng hình ảnh con trăn nằm dài thườn thượt trong đám bổi hoang nơi vùng thôn dã.  Những ngày đi củi một mình cùng chiếc xe nặng nề chỉ còn là công kêu vượn hú trong rừng sâu. Đó là hình ảnh một quê hương mà ba mẹ các con phải từ giã ra đi sau những lúc chống cuốc thở dài hướng về một tương lai cạn khô mạch sống do thân phận đã bị chối bỏ sau một lần thua cuộc đắng cay./.


CHI Memorial Hospital Chattanooga

 2525 de Sales Avenue Chattanooga, TN 37404



Tennessee Hoa Kỳ, năm 2023

TRÁI QUA: 

BS xạ trị  ĐINH trọng TRỮ-KHANG VN, BS Justin Wilkes, BS Rishabh Shah đang đứng trước Trung Tâm Ung Bướu xạ trị  CHI Memorial's Rees 

Staff Photo by Olivia Ross / Doctors Tru-Khang Dinh, Justin Wilkes, and Rishabh Shah stand in front of CHI Memorial's Rees Skillern Cancer Institute on Friday.


tác giả Đinh trọng Phúc đã edit lại phần cuối cùng thêm hình ảnh vào ngày 19/7/2026

phụ ghi


 nhà văn Huy Phuong có viết ve tác giả bài này nhu sau... "Ông thuộc lớp trẻ vào trận khi mới hai mươi tuổi, phục vụ cho đất nước chưa tới hai năm thì bị bắt làm tù binh, đã qua 5 năm tù khổ sai và 15 năm sống cuộc đời một người dân bị bỏ quên trong vùng “kinh tế mới”..."


dù ngay cả bạn bè họ cũng không hình dung ra 'cái cực' ở cái vùng kinh tế mới xã Sơn Mỹ ra sao ?
Họ nói cực là do thiếu tiền bạc mới là một cách nghĩ thôi.
Sơn Mỹ hồi đó cực từ ngọn gió , cục đất , cho đến miếng nước :
-Gió thổi thì đạp xe không nỗi, có lúc xe đạp như ngừng hẳn khi phải ráng đạp ngược gió ..
-đất cát lún bánh xe thồ đẩy củi về nhà , đoạn trường thật sự
-nước phải đi múc ...từng ly , cái gàu nước phải nghiêng lóng cát ra mới có đúng 1 ly nước đó . Bạn hãy xem đáy giếng nước mạch ra chỉ vỏn vẹn bằng mặt cái thau trên thành giếng cả chục người gánh thùng ra ...đợi
Thôi chờ 1 giờ sáng 2, giờ sáng gánh thùng ra , té 'tư tưởng lớn gặp nhau" vài người đã có mặt bên thành giếng rồi .
Làm ra củ khoai, củ sắn thì cái nạn sùng ăn , sùng khới , hay hạt điều thì sâu đục đọt
Muốn mang nông phẩm về tới Lagi thì phải đạp xe chở về 10 cây số

 20/12/2014


-BỔI: phân xanh , lá cây non để lót trong vồng khoai khi mục nát rất tốt cho cây có năng suất . Bổi người làm nông còn dùng để trộn với phân heo bò để một thời gian làm phân hữu cơ 
[1] hồi này tôi xin làm phu trường để có thêm 'tiêu chuẩn' vài ký gạo nhưng không được vì 'lý lịch'
[*]:chú đây là cách gọi thân mật bà con lối xóm
[**] :rẫy luộc : rẫy chặt hạ xong , chưa khô hoàn toàn bị cháy dang dở nên dọn dẹp rất tốn công 

TRẢ LẠI THỜI GIAN

Xin trả lại những kỷ niệm buồn vui Ngày xanh đã theo thời gian qua mất rồi... (Trả Lại Thời Gian / NS Thanh Sơn) BẠN MẾN, THỜI GIAN VẪN LẠNH...