Tuesday, July 14, 2026

HỒI KÝ H.O: RA TRẠI (phần 1)

 

 


Tác giả- Đinh trọng Phúc


Về đây khi mái tóc còn xanh xanh.
Về đây với mầu gió ngày lang thang
Về đây xác hiu hắt lạnh lùng.
Ôi lãng du quay về điêu tàn...

 (Trở Về Mái Nhà Xưa lời Việt Phạm Duy)


            Trại Bình Điền, Huế 12-6-1980

        Làm sạch lại cái ba lô bạc phếch, tôi lật đật bỏ vào vài thứ phải mang theo hôm nay. Chỉ vài ba thứ gồm- bộ áo quần tù mới trại phát, tôi chưa bận lần nào, tất cả thư từ gia đình gửi, vài sợi dây dép lốp. Chừng ấy thôi tôi chẳng có gì để mang về. Tai như ù, miệng khản đặc, tôi lắp bắp nói với mấy anh bạn tù vừa được trại kêu tên ở lại.
-Anh cũng có tên, anh Quyết! anh Chuân nữa anh cũng có tên nữa!
....

bản đồ quân sự VNCH và Hoa Kỳ thời VN War -Căn Cứ Bastogne / Tây Nam Huế

    Làn sương mờ mịt trên đỉnh Bastogne ẩn hiện phía ngoài trại tù. Xung quanh còn dày đặc sương vào sáng sớm, giờ đi lao động. Trại gồm mười dãy nhà tranh song song. Những liếp nhà giữa hai lớp hàng rào cao bằng thép gai, phía trong còn đặt bùng nhùng 'concertina' của Mỹ. Cái chòi trước cổng cao nhất, trên đó có một công an áo vàng cầm sổ điểm danh. Từng đội tù lần lượt ra cổng ...

-Những anh có tên sau đây ...đứng qua một bên
-Nguyễn văn A
-Trần văn B
-Ngô văn Chuân
-Nguyễn văn Quyết
-Đinh trọng Phúc

...


Lỗ tai tôi như lùng bùng , tôi cố tin là mình nghe không lầm ?

-Có phải tên em khôn anh Quyết?
-Đúng rồi, tên em đó mà, cả tên anh nữa!

Anh Quyết đội trưởng, mấy người khác và tôi nhanh chóng đứng qua một bên. Những khuôn mặt nét căng thẳng. những người được gọi tên cố làm ra vẻ "nghiêm trang" nhưng thật ra ai cũng sướng "muốn điên"! Bao lần rồi, mỗi lần cán bộ trực đứng trên cái cổng kia đọc tên là có một đợt Trại cho tù về. Giờ tuy không nói ra nhưng ai cũng biết.

Các khối kia cũng vậy; mỗi khối có vài người bước ra khỏi hàng... Sáng nay không còn tiếng nói chuyện râm ran như mọi khi.
Ngoại trừ những người có tên đứng lại, còn tất cả lần lượt bước ra cổng tiếp tục đi làm. Những khối tù lần lượt bước xuống những bậc tầng cấp có chắn ngang bằng gỗ rừng, nét mặt họ đăm chiêu, tư lự...

-Ê nhớ để cái... lại cho tau nghe Q.!
-Ê mi bỏ cái ...cho tau nghe!

...

lon gô vật nấu giá trị và tiện dụng nhất trong đời tù "cải tạo"



Những người thiếu may mắn trong đợt này cố ngoái đầu dặn dò người về sáng nay những lời dặn dò như thế. Đó là những thứ cần dùng trong tù. Chiều nay khi họ về thì chúng tôi, những người được gọi tên sáng nay, đã rời Trại rồi.

 Cái kim may, đoạn chỉ, cái lon gô (sữa bột guigoz xưa), cái chén cơm, cái bi-đông nước, thậm chí cái bào sắn ra sợi ...mọi thứ đều là "bảo bối" trong tù.

Tôi sẽ để cái mũ đi rừng, cái gô đen lại cho thằng Thu nằm cạnh. Hắn dặn tôi thật kỹ trước khi bước ra cổng. Đầu hắn cứ ngoái nhìn lại, ánh mắt khẩn cầu. Nhà Thu ở Huế, tôi thì ở tận Bình Tuy nên hắn chẳng ai cần dặn nhau trước gì, lý do nếu ai về trước thì chẳng có cơ hội ghé được nhà của ai. Những người ra tù hôm nay đa số gốc Huế. Mấy đứa bạn mà tôi có thể nhắn nhe được về cho gia đình như Côn như Huấn, thì ra tù trước tại Ái Tử,Quảng Trị, sớm hơn mấy năm.


Bỏ vội cái gô và cái mũ vào cái ba lô của Thu phía trên sạp nằm, tôi  "chia gia tài" là giây phút này, tình bạn cũng thể hiện giây phút này. Kẻ về người ở, những cục đường, những lát khoai luộc, mấy thứ linh tinh tôi đều bỏ lại cho Thu. Tình cảm chân thành hay an ủi nhau ở phút này. Về và ở hay đồn đoán lao xao trong trại, không ai biết ai đi, ai ở, để nói chuyện, để nhắn trước. Cuộc chia tay không bao giờ được trại cho biết trước do an ninh hay này nọ?


 Tầng cấp bước lên những căn nhà cán bộ trước trại sao hôm nay tôi bước nhẹ hều. Bước chân lâng lâng sung sướng, cảm giác hơn năm năm tôi mới có. Trong phòng cán bộ đi ra, tôi là người được trại cho số tiền “lớn nhất”- ba mươi hai đồng bạc  do gia đình tôi ở tận Bình Tuy cách xa đây hơn một ngàn cây số! ($0.032 x 1000)


Tôi không nhớ có ngoái lại nhìn cái cổng, cái chòi gác cao của trại một lần cuối cùng hay không, ngoại trừ một hình ảnh tôi nhớ rõ, đó là anh 'tăng gia sản xuất' đứng tần ngần bên mấy luống rau xanh nhìn theo chúng tôi. Khỏi đoán, tôi biết anh đang nghĩ gì?


Thôi, xin giã từ mấy công việc lấy 'phân tù' trộn băm với lá rừng làm nguồn bón cây. Anh' tăng gia' kia còn mãi công việc 'chẳng đặng đừng'! hòa tưới 'phân người' lên mấy luống cải xanh đang mọc nhanh 'phơi phới'. Cũng giống toán thợ rèn làm ra cuốc rựa, ba 'lạng mỳ tươi 'bồi dưỡng ', đó là 'phần thưởng' của Trại tăng thêm cho họ trong ngày.


Giờ toán chúng tôi cất bước ra về. Tự do thoải mái-khó diễn tả nỗi háo hức bên trong mỗi người, nhưng tất cả đều chung một ý nôn nóng về nhà thật mau.


tờ giấy phép CA Hàm Tân tỉnh Thuận Hải cấp cho mẹ tôi nhưng may thay ngày đó tôi đã ra trại


MẤY ENG VỀ CHỊ CÓ ĐEN THÌ ĐỪNG CHÊ NGHE MẤY ENG!?


    Mấy trảng đồi đang phủ màu xanh của sắn Bình Điền. Bao công sức của người tù tạo dựng nay xin bỏ lại phía sau. Tước mắt chúng tôi hiện lên hình ảnh xóm làng kinh tế mới của dân mới lên vùng này. Người Huế lên đây không biết lúc nào? Họ lên lập nghiệp hay sao? cảm giác chúng tôi thật lạ! Ngày đó đây là rừng, nơi của chiến tranh, mịt mùng khói súng, "Mặt Trận Tây Nam Huế" hàng ngày tin chiến sự in đậm trên mặt báo Chính Luận, Sóng Thần, hay nghe qua đài BBC, VOA,. Chỉ sáu năm thôi tất cả đều đổi thay, như một giấc mơ, thật sự là mơ!

dân bị đẩy lên vùng "kinh tế mới" sau 1975

Những trảng đồi khai hoang bị đốt cháy nham nhở. Hai bên con đường đất đỏ vài cái quán tranh sơ sài. Phía sau lưng chúng tôi, trong xa kia là mấy trại tù. Những năm xa cách, không ngờ người dân cũng 'đổi đời' như chúng tôi cùng đáo sơn tầm thực. Tù thì trồng sắn, khoai, dân cũng chẳng khác gì, tất cả đều lên đây phá rừng trồng cây lương thực thay cho lúa gạo.


Chúng tôi không ai bảo ai, đều sà vào cái quán cơm bình dân bên đường trong lúc chờ xe đò từ Huế lên.


O bán cơm đon đả mời chào:


        -Rứa (thế) là sướng quá rồi mấy eng ơi , dưới nhà chắc mừng lắm hỉ!


Mấy anh và tôi dạ, dạ luôn miệng, thật lòng cảm tạ lời chúc mừng của o. Lạ gì! thấy chúng tôi, người dân biết ngay tù mới được tha. Nhiều lần như vậy rồi. O nhìn những chiếc áo vằn vện, sọc ngang, dọc ai mà chẳng đoán ra. Phải kể mấy cái ba- lô nữa, đủ hình dạng, nhưng tất cả đều nhẹ hều. "Gia tài" của tù đều bỏ lại cho bạn. Có gì quý đâu! ngoại trừ mang được tấm thân gầy gò, bệnh hoạn về với gia đình thôi.


            - Mấy eng ăn cơm cá dưa kho hỉ?


            -Mấy đồng rứa o?


Tôi chỉ hỏi giá, còn chọn lựa thì không. Giây phút đó, cơm là nhất trên đời và cũng là thứ hàng "độc nhất vô nhị" trong cái quán tranh ngày đó.


        -Hai đồng eng nờ !


"Thế là miềng (mình) còn 30 đồng còn đón xe hàng về Huế nữa," tôi thầm nghĩ.


Gần sáu năm trời, hôm nay tôi mới ăn tô cơm ngon nhất trên đời. Cơm trắng, o đơm khá đầy, cộng thêm hai con cá nục cùng mấy lát dưa hường, o kho thấm tháp làm sao! Vị giác của tôi lúc này đang "liên hoan" qua tài kho nấu của o bán hàng người Huế.  Bao tử người tù vừa ra trại sẵn sàng tiếp nhận những gì từ miệng, sau khi "thường thức", đưa xuống. Tất cả cử động của tôi đều thoải mái, không còn những lúc chần chừ lưỡng lự ...hình ảnh mới hôm qua- mấy củ khoai, khúc sắn phần ăn tối từng người tù phải cùng chia đều. Củ sắn chia xong, ăn nhanh thì sợ hết, tôi để dành một ít về đêm, đợi tiếng kẻng trại tù xong, tôi sẽ ăn dằn bụng trước khi đi ngủ.


 Hầu như mọi người đều có lộ phí và ăn tô cơm cá dưa kho của o bán hàng. Những cái đầu gật gù, những lời nói chuyện râm ran, những hẹn hò gặp nhau sau ngày về với gia đình. Chúng tôi không quên nhau- Ái Tử -Thanh Hóa cho tận Bình Điền, biết bao kỷ niệm buồn vui.


O bán cơm bận áo Bà Ba trắng
nhưng đã ố vàng do bụi đỏ Bình Điền và dãi dầu ngày tháng trên đó.  Tuy nước da sạm đi do nắng nóng và đất khai hoang nhưng không che hết cái "chất Huế" của o từ dưới thành phố lên. Dáng nhanh nhẹn, giọng mời ngọt ngào bao lâu nay O quen mua bán dưới Huế. Giờ lên đây, cũng bán mua, nhưng là hàng cơm và thức ăn bình dân hạp với dân nghèo, lam lủ với rẫy rừng, cuốc rựa...


            -Mấy eng về chị có đen thì đừng có chê nghe mấy eng!


Câu nói bất ngờ của o bán hàng làm chúng tôi, không ai bảo ai, đều ngước lên nhìn.


Có thể mấy năm trước O từng chứng kiến cảnh túng bấn của bao người vợ tù gian nan, tất tả ngược xuôi. Những người vợ, người mẹ hay con dâu này bán hết những cái gì bán được trong buổi giao thời. Từ vòng vàng, nhẫn cưới kỷ niệm, cái máy hát, rồi tủ bàn và áo quần nào còn đẹp, tất cả lần lượt “ra đi” do từ thiếu đói của bầy con, sau ngày ba chúng đi tù.


Trong nhóm, tôi là đứa em cấp bậc nhỏ nhất, lại độc thân. Tôi chưa hiểu "thấm thía" những cảm xúc bằng các anh, những người bao đêm quay quắt nhớ vợ thương con.


Mấy tô cơm hôm đó, O xúc đầy hơn, không tính toán. Mừng cho chúng tôi, o nói thật lòng. Năm tháng chịu đựng gian truân, thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần, những người vợ tù đáng quý biết bao! Sao mà chê "đen" được các chị ở nhà? Ngày tháng "thân cò lặn lội" gần xa, bao dặm đường gian nan tìm ra hạt gạo nuôi mẹ chồng nuôi con, phần lo bới xách cho chồng trên trại. Tôi không quên hình ảnh đoàn người thăm tù mỗi hai tháng, những người đàn bà nay quần thô áo vải, theo bước đi vội vàng, hai cái túi xách đu đưa hai đầu đòn gánh...


Chiếc xe hàng từ Huế lên rồi. Từ xa đám bụi vàng bốc cao. Chúng tôi trả tiền cho o bán cơm vừa khen, vừa cám ơn o về đọi cơm sao ngon quá. Ánh mắt o long lanh, những niềm vui hôm nay cùng nhau chan hòa. Vội vàng ra khỏi cái cái quán tranh, chúng tôi chạy vội tới chiếc xe đang dừng tại cái bãi đất trống dưới chân đồi. Vừa chạy, nhưng tai tôi tưởng chừng câu dặn dò của o bán cơm còn văng vẳng sau lưng...

    Mấy eng về chị có đen thì đừng có chê nghe mấy eng!

 

VỀ LẠI HUẾ XƯA





Khi tôi về, nhìn dân tôi ngỡ ngàng
Khi tôi về, nhìn quê hương điêu tàn
Nhìn tuổi thơ nghèo nàn, nuôi đời trong dối gian! (Con Đường Tôi về / Lê Tín Hương)


    Chiếc xe Bình Điền thả chúng tôi xuống gần Ga Huế thì trời chưa chiều lắm. Mấy anh em hối hả chia tay, xong tìm cách nhanh nhất về nhà.

    Tôi ngơ ngác ngó quanh. Mấy năm xa vắng cố đô giờ tôi nhìn lại, Huế có vẻ gì xác xơ và xa lạ! Cũng như các bạn khác từ rừng xanh về lại chốn thị thành, mới biết quê hưong chỉ vài năm mà tiều tụy đến não nề! Ga Huế im lìm trong cơn nắng tháng Sáu. Cửa cái bể, cái vá. Quanh nơi tôi đứng, vài ba cái quán đìu hiu trong gió, vài thẩu kẹo, năm ba nải chuối đu đưa.



Tiếng nài nỉ đi xe của mấy người xe đạp ôm đưa tôi về thực tại:

    - Đi xe khôn eng...? !
   -chú... chú ...đi xe cháu nì chú?!

    Nhìn quanh toàn là xe đạp, người viết không ngờ ngày về lại Huế nay trước mắt toàn là những chiếc xe méo mó, sét rỉ, không vẻ gì chắc chắn để làm chuyện chở người. Đến nỗi này sao? Người Huế giờ lại "sáng tạo" ra một cách làm ăn mà tôi chưa bao giờ thấy trước đây? Họ phải tận dụng hết sức lực "cơ bắp" của mình kiếm đồng tiền, bát gạo trong một xã hội ít ai còn tiền để đi? Họ phải "bấm bụng" giành giật miếng ăn từ mấy người xích- lô đạp bao năm nay, những chiếc xe lambretta, những chiếc xe đò hai màu xanh trắng!? Ngày xưa người ta cũng đi “xe ôm, xe thồ” nhưng tệ lắm là chiếc honda, nhấn ga là chạy “vù vù”, thế mà đã than khổ rồi?

    Tôi không biết từ chối hay nhận lời ai đây? Tôi ái ngại nhìn những ánh mắt cầu khẩn của mấy người đạp xe đạp ôm bằng tuổi em tôi. Những nét mắt chưa xóa đi nét vô tư và hồn nhiên của những ngày chỉ biết cắp sách đến trường, áo cơm thì có ba mạ lo, giờ thì chẳng còn chi!? Cũng may có thêm khách và tôi khỏi từ chối ai. Tôi chọn cuốc xe của một em đạp xe đạp ôm bằng tuổi em mình:

-Về Tây lộc mấy rứa?
-Chú cho 3 đồng à chú!

     Nhìn tôi, em đó cũng chẳng "nói thách" làm chi, chúng tôi là ... cải tạo mà! Xa Tây Lộc không biết mấy năm rồi.  Tôi vẫn nhớ nồi cháo gà thơm phức của mạ đích tôi,(ba và mẹ đẻ người viết ở Bình Tuy địa chỉ về nhà của tác giả) hồi đó nổi tiếng trong cái chợ mới xây, đặt tên là chợ Tây Lộc, kế đường Trần quốc Toản.

    Người thiếu niên gò lưng cố đạp qua cầu Sông Hương. Chiếc cầu mới xây sau này, giờ đó cũng nét “rêu phong, rệu rả”. Huế giờ này sao nhiều xe đạp quá đi thôi!? Tôi hơi lấn người tới trước như muốn mình được nhẹ bớt đi phần nào. Hỏi chuyện, tôi biết em đạp xe còn đi học nhưng phải kiếm thêm tiền về cho mạ. Em không biết cách gì để giúp gia đình nữa, phương tiện là chiếc xe đạp nhưng lại bon chen lắm mới kiếm ra người khách. Có khi cả ngày em mới được một "cuốc" xe chỉ đủ mua ba lon gạo!

    Xe đã vô cửa Thượng Tứ. Nó cứ rập rành qua mấy đoạn có ổ gà, ổ vịt. Tôi lại rướn người lên cho nhẹ bớt khi nghĩ đến cảnh cái ruột xe của em bị dằn qua mấy chỗ đá nhăm. Từ sau, tôi thấy áo trắng bạc màu của em đã lấm mồ hôi, hơi thở của em dồn dập, em ráng cho xong một đoạn đường nữa để có mấy đồng bạc Bắc mà tôi đã để sẵn mà trả cho em.

    Nhớ về quá khứ, đây đâu phải là lần đầu tôi được chở đi bằng xe đạp. Nhưng hồi đó là đi chơi,đi dạo mát vui thú cái tuổi thiếu niên sau những ngày học hành mệt nhọc. Giờ đây tôi là một gánh nặng cho một em mới lớn; em phải đổi sức lực của mình để kiếm vài lon gạo cho mẹ già và mấy em đang đợi ở nhà. Cái điệp khúc mệt mõi này lại kéo dài trong cái não nùng, buồn tủi, đợi mong.


NHỮNG ĐỒNG BẠC NGHĨA TÌNH


cho đến cuối thập niên 1980 xe đạp ôm vẫn phổ biến ở thành phố Huế (Đà nẵng cũng vậy)

    Khi em nhỏ đạp xe ôm tới ngang cống Tây Lộc, tôi vội nhảy xuống do Cống hơi dốc. Tôi trả ngay cho em 3 đồng bạc bắc tôi đã bỏ sẵn trong túi từ lâu. Nhìn theo dáng đạp xe vội vàng của em, lưng hơi cong, cái áo trắng nhàu nát, đẫm mổ hôi, tự nhiên tôi chạnh lòng thuơng cảm cho một thiếu niên người Huế, tuổi mới lớn lại gặp gian nan quá sớm. Tôi không biết em dùng 3 đồng đó làm gì? Kiếm khách thêm thì trời đã chiều. Ai đi đâu lúc này? thời buổi ngoài đường người đi bộ “đông hơn xe đạp”.

        -Ba lon gạo là cùng!

Tôi vừa đi vừa nghĩ thầm.

    Ngày đó “củi quế gạo châu”- vào năm 1980, người lớn tuổi chắc không ai quên. Vào cuối năm 1975 thời gian tôi đang ở tù tại Trại Ái Tử, mang một đồng “bạc bác” lén về được Chợ Hôm -cái chợ chiều 'chồm hổm' nhà quê gần sông Thạch Hãn xã Triệu Long, tôi mua được đúng "một lon" khoai khô. Tiền thời này, cao nhất là tờ bạc mười đồng màu đỏ trong khi gạo là 'thuốc bổ -sâm nhung '?


Lá thư nhà do thân phụ từ Bình Tuy gửi cho tôi ra tới trại tù Bình Điền nhận ngày 6/1/1980...một thời ngay cái phong bì gửi thư cũng hiếm nên ba tôi phải xếp tờ giấy làm phong bì con tem thì 12 hào

    Tôi thở dài quay bước tìm nhà mẹ đích tôi.(ba với mẹ đẻ tôi ở Bình Tuy nơi tôi sẽ về đó) Trước 1975, mẹ đích tôi được một căn trong Cư Xá Công Chức sát chợ Tây Lộc, nay đã bị Nhà Nước đuổi hết. Trong chợ ai mà không biết mẹ tôi - "Bà Cuơng nấu cháo gà ngon có tiếng"!

    Con đường nhỏ về phía phi trường Tây Lộc cũ dẫn tôi vào dãy nhà lụp xụp. Vừa thấy tôi vào nhà mẹ tôi quá mừng và bất ngờ nhưng không quên buông những câu nguyền rủa ai đã giam tôi quá lâu:

        -Quân chi ác ôn rứa?!...con người ta mới ra trường chuẩn úy mà giam chi giam ác tới 5-6 năm dữ rứa?!

    Anh em bây giờ tản mác vào tận miền Nam, chỉ còn đứa em gái ở lại với mẹ tôi vừa làm HTX thêu ren 'bữa đực bữa cái' vùa phụ nấu nồi cháo gà cho mẹ tôi lúc này. Tôi chỉ ở với mẹ tôi được một, hai đêm. Sau khi ăn uống no nê mẹ tôi moi hầu bao được mấy chục bạc cho tôi ra QT tìm bạn bè. Nhìn những đồng bạc một đồng hai đồng cũ nát cuốn tròn mẹ tôi lần ra từ cái 'ruột tượng' tôi như muốn khóc. Một ngày mẹ tôi buôn gánh bán bưng chỉ được năm mười đồng, nhưng giờ tôi thật sự cần tiền?

    Trước khi ra khỏi Bình Điền, 'Trại' cho tôi 32$ bạc. Trại tính theo giá nhà nước mỗi cây số '3,2 xu' [2] hay 0$032 nhân lên 1000 cây số ;than ôi, sự thật ngoài trại tù lại khác. Mọi thứ đều thiếu từ vải vóc, gạo dầu, cho đến cái vé xe chỉ ưu tiên cho cán bộ và “tiêu chuẩn hoá” nên tất cả đều chỉ có sẵn tại 'chợ đen" mà thôi. Còn hai muơi mấy đồng có gắng lắm đến Đà Nẵng là cùng. Đây là lý do tôi phải 'bấm bụng' lấy mấy chục bạc lao khó từ tay mẹ già, từ công lao em Hoà, phải thức sớm làm gà phụ nồi cháo cho mẹ, vừa thêu ren mỗi tháng ròng rã chỉ vài chục bạc.

VỀ LẠI QUẢNG TRỊ

    Chiếc xe hàng thả tôi giữa đường quốc lộ gần Cầu Ga. Tôi theo con đường Hồ đắc Hanh cũ về lại xã Hải Trí. Nguyễn văn Bốn, thiếu uý BĐQ 'học tập' trong Đà Nẵng, ra tù sau 15 tháng. Bạn tôi giờ chạy xe hàng với ba hắn, nhưng hắn gọi ba là chú do kiêng khi ba của Bốn tên là BA!

    Thành Cổ tan tành nên nhà Bốn về "định cư" gần ngã tư Quang Trung -Hồ đắc Hanh. Vùng này bà con còn gọi là Hải Trí. Gia đình bạn tôi chạy xe nên thuộc tầng lớp khá giả hơn, dù xe đò bị vào "hợp tác xã xe khách" từ lâu.

    Bốn ra tù sớm hơn nên đã lấy vợ. Gia đình Mai, vợ Bốn trước đó cùng ở đường Duy Tân. Mẹ Mai là một đạo hữu rất siêng năng công quả nhất với chùa Tỉnh Hội năm xưa thời Thầy Thích Chánh Trực trụ trì. Tôi và Bốn là hai đứa bạn thân trong xóm Cửa Hậu (Cửa Hậu là một cửa của Thành Cổ: Tiền-Hậu-Tả-Hữu). Tội nghiệp, cái xóm đó giờ người ngoài kia vào ...bắt đầu xây dựng lấy hết đất. Bà con về lại như nhà Bốn biết ở với ai, nên đành bỏ cuộc. Hơn nữa, biết ai giúp đòi lại? Bà con thôn xóm ngày xưa sống dọc theo con đường Lê văn Duyệt, tản mác tứ phuơng. Kẻ ở trong nam, người tận khu thị tứ Đông Hà. Sau 1975, khu Thị Tứ Hải Lăng xem như 'xoá sổ', bà con xóm Cửa Hậu, đường Lê v Duyệt - Duy Tân thêm một lần nữa tản mạn vô nam hay 'hồi cư'  ra lại vùng này hay về làng.

    Chuyện hồi cư lần một, nói cho dễ hiểu là hồi cư sau 1973. Năm này bà con ra ở quanh cồn cát Diên Sanh dối diện TKQT- tạm gọi là "Khu Thị Tứ". Đợt hồi cư thứ hai (1975) là cuộc “đổi đời” sâu đậm nhất: ngoài trừ người 'ra đi miên viễn'; còn lại thì vượt biên, vào nam, ra tận Đông Hà buôn bán làm ăn. Còn một số như gia đình của Bốn không về lại cái xóm Cửa Hậu thân yêu đó mà trú ngụ bên đường Hồ đắc Hanh hay Hải Trí.

    Cho đến hôm nay tôi mới có dịp viết lên đôi dòng cảm tác về tình bằng hữu giữa hai đứa bạn thân nhau từ thuở mới 'sinh ra đời'.

Sau khi ăn uống no nê, gặp gỡ chú thím Ba- ba mẹ Bốn- hôm sau Bốn dắt tôi ra tận Đông Hà; Một lần nữa, hai chúng tôi xăm xoi trong khu thị tứ mới của Đông Hà sau 1975 để tìm bà con xóm Cửa Hậu.

năm 2022 người bạn thân Nguyễn văn Bốn từ Sài Gòn về lại thăm xóm xưa đang ngồi trước di tích điêu tàn Cửa Hậu Thành Cổ

    Hình ảnh bà con trong xóm ngày nào giờ đang trở lại...Nào hai gia đình dì của Bốn: dì Nậy, dì Giỏ đều là chủ xe đò nhưng nay đã vào hợp tác xã. Nhà Trần Tài (em út của cac anh Tước , Xê -Tước- Tiết,  và O Bê) và nhiều người nữa. Gặp tôi về ai cũng thuơng, ai cũng mừng. Bạn đọc tha lỗi cho cái tội nói về mình; xưa, trong xóm Cửa Hậu ai cũng thuơng tôi.
                       Đông Hà 1975-1980

    Nhắc lại bà con tản mạn ra đây, Đông Hà, ai cũng bảo tôi ở lại nhưng lòng tôi như 'lửa đốt'. Tôi nôn nóng về nam. Gia đình trong Bình Tuy đang ngóng tin tôi từng giờ. Tình cảm mẹ tôi tại Tây Lộc, từ bạn bè, bà con lối xóm giúp tôi gần ba trăm đồng bạc bắc cho tôi làm lộ phí vào nam. Số tiến này lúc này không phải là ít. 

    Đón chiếc xe hàng vào Huế, giã từ Đông Hà mắt tôi còn ghi lại hình ảnh cái quán ăn lụp xụp mang tên Đường Ký, một thời là một tiệm ăn Tàu lớn bên Phố QT. Lọt đuợc vào lòng chiếc xe 'gió', lòng tôi chua xót cho thời thế 'vật đổi sao dời”...

còn tiếp 



No comments:

Post a Comment

TRẢ LẠI THỜI GIAN

Xin trả lại những kỷ niệm buồn vui Ngày xanh đã theo thời gian qua mất rồi... (Trả Lại Thời Gian / NS Thanh Sơn) BẠN MẾN, THỜI GIAN VẪN LẠNH...