(Trở Về Mái Nhà Xưa lời Việt Phạm Duy)
Trại Bình Điền, Huế 12-6-1980
Làm sạch lại cái ba lô bạc phếch, tôi lật đật bỏ vào vài thứ phải mang theo hôm nay. Chỉ vài ba thứ gồm- bộ áo quần tù mới trại phát, tôi chưa bận lần nào, tất cả thư từ gia đình gửi, vài sợi dây dép lốp. Chừng ấy thôi tôi chẳng có gì để mang về. Tai như ù, miệng khản đặc, tôi lắp bắp nói với mấy anh bạn tù vừa được trại kêu tên ở lại.
-Anh cũng có tên, anh Quyết! anh Chuân nữa anh cũng có tên nữa!
....
-Những anh có tên sau đây ...đứng qua một bên
-Nguyễn văn A
-Trần văn B
-Ngô văn Chuân
-Nguyễn văn Quyết
-Đinh trọng Phúc
...
-Có phải tên em khôn anh Quyết?
-Đúng rồi, tên em đó mà, cả tên anh nữa!
Anh Quyết đội trưởng, mấy người khác và tôi nhanh chóng đứng qua một bên. Những khuôn mặt nét căng thẳng. những người được gọi tên cố làm ra vẻ "nghiêm trang" nhưng thật ra ai cũng sướng "muốn điên"! Bao lần rồi, mỗi lần cán bộ trực đứng trên cái cổng kia đọc tên là có một đợt Trại cho tù về. Giờ tuy không nói ra nhưng ai cũng biết.
Các khối kia cũng vậy; mỗi khối có vài người bước ra khỏi hàng... Sáng nay không còn tiếng nói chuyện râm ran như mọi khi. Ngoại trừ những người có tên đứng lại, còn tất cả lần lượt bước ra cổng tiếp tục đi làm. Những khối tù lần lượt bước xuống những bậc tầng cấp có chắn ngang bằng gỗ rừng, nét mặt họ đăm chiêu, tư lự...
-Ê nhớ để cái... lại cho tau nghe Q.!
-Ê mi bỏ cái ...cho tau nghe!
...
lon gô vật nấu giá trị và tiện dụng nhất trong đời tù "cải tạo"
Bỏ vội cái gô và cái mũ vào cái ba lô của Thu phía trên sạp nằm, tôi "chia gia tài" là giây phút này, tình bạn cũng thể hiện giây phút này. Kẻ về người ở, những cục đường, những lát khoai luộc, mấy thứ linh tinh tôi đều bỏ lại cho Thu. Tình cảm chân thành hay an ủi nhau ở phút này. Về và ở hay đồn đoán lao xao trong trại, không ai biết ai đi, ai ở, để nói chuyện, để nhắn trước. Cuộc chia tay không bao giờ được trại cho biết trước do an ninh hay này nọ?
Tầng cấp bước lên những căn nhà cán bộ trước trại sao hôm nay tôi bước nhẹ hều. Bước chân lâng lâng sung sướng, cảm giác hơn năm năm tôi mới có. Trong phòng cán bộ đi ra, tôi là người được trại cho số tiền “lớn nhất”- ba mươi hai đồng bạc do gia đình tôi ở tận Bình Tuy cách xa đây hơn một ngàn cây số! ($0.032 x 1000)
Tôi không nhớ có ngoái lại nhìn cái cổng, cái chòi gác cao của trại một lần cuối cùng hay không, ngoại trừ một hình ảnh tôi nhớ rõ, đó là anh 'tăng gia sản xuất' đứng tần ngần bên mấy luống rau xanh nhìn theo chúng tôi. Khỏi đoán, tôi biết anh đang nghĩ gì?
Thôi, xin giã từ mấy công việc lấy 'phân tù' trộn băm với lá rừng làm nguồn bón cây. Anh' tăng gia' kia còn mãi công việc 'chẳng đặng đừng'! hòa tưới 'phân người' lên mấy luống cải xanh đang mọc nhanh 'phơi phới'. Cũng giống toán thợ rèn làm ra cuốc rựa, ba 'lạng mỳ tươi 'bồi dưỡng ', đó là 'phần thưởng' của Trại tăng thêm cho họ trong ngày.
Giờ toán chúng tôi cất bước ra về. Tự do thoải mái-khó diễn tả nỗi háo hức bên trong mỗi người, nhưng tất cả đều chung một ý nôn nóng về nhà thật mau.
MẤY ENG VỀ CHỊ CÓ ĐEN THÌ ĐỪNG CHÊ NGHE MẤY ENG!?
Mấy trảng đồi đang phủ màu xanh của sắn Bình Điền. Bao công sức của người tù tạo dựng nay xin bỏ lại phía sau. Tước mắt chúng tôi hiện lên hình ảnh xóm làng kinh tế mới của dân mới lên vùng này. Người Huế lên đây không biết lúc nào? Họ lên lập nghiệp hay sao? cảm giác chúng tôi thật lạ! Ngày đó đây là rừng, nơi của chiến tranh, mịt mùng khói súng, "Mặt Trận Tây Nam Huế" hàng ngày tin chiến sự in đậm trên mặt báo Chính Luận, Sóng Thần, hay nghe qua đài BBC, VOA,. Chỉ sáu năm thôi tất cả đều đổi thay, như một giấc mơ, thật sự là mơ!
Những trảng đồi khai hoang bị đốt cháy nham nhở. Hai bên con đường đất đỏ vài cái quán tranh sơ sài. Phía sau lưng chúng tôi, trong xa kia là mấy trại tù. Những năm xa cách, không ngờ người dân cũng 'đổi đời' như chúng tôi cùng đáo sơn tầm thực. Tù thì trồng sắn, khoai, dân cũng chẳng khác gì, tất cả đều lên đây phá rừng trồng cây lương thực thay cho lúa gạo.
Chúng tôi không ai bảo ai, đều sà vào cái quán cơm bình dân bên đường trong lúc chờ xe đò từ Huế lên.
O bán cơm đon đả mời chào:
-Rứa (thế) là sướng quá rồi mấy eng ơi , dưới nhà chắc mừng lắm hỉ!
Mấy anh và tôi dạ, dạ luôn miệng, thật lòng cảm tạ lời chúc mừng của o. Lạ gì! thấy chúng tôi, người dân biết ngay tù mới được tha. Nhiều lần như vậy rồi. O nhìn những chiếc áo vằn vện, sọc ngang, dọc ai mà chẳng đoán ra. Phải kể mấy cái ba- lô nữa, đủ hình dạng, nhưng tất cả đều nhẹ hều. "Gia tài" của tù đều bỏ lại cho bạn. Có gì quý đâu! ngoại trừ mang được tấm thân gầy gò, bệnh hoạn về với gia đình thôi.
- Mấy eng ăn cơm cá dưa kho hỉ?
-Mấy đồng rứa o?
Tôi chỉ hỏi giá, còn chọn lựa thì không. Giây phút đó, cơm là nhất trên đời và cũng là thứ hàng "độc nhất vô nhị" trong cái quán tranh ngày đó.
-Hai đồng eng nờ !
"Thế là miềng (mình) còn 30 đồng còn đón xe hàng về Huế nữa," tôi thầm nghĩ.
Gần sáu năm trời, hôm nay tôi mới ăn tô cơm ngon nhất trên đời. Cơm trắng, o đơm khá đầy, cộng thêm hai con cá nục cùng mấy lát dưa hường, o kho thấm tháp làm sao! Vị giác của tôi lúc này đang "liên hoan" qua tài kho nấu của o bán hàng người Huế. Bao tử người tù vừa ra trại sẵn sàng tiếp nhận những gì từ miệng, sau khi "thường thức", đưa xuống. Tất cả cử động của tôi đều thoải mái, không còn những lúc chần chừ lưỡng lự ...hình ảnh mới hôm qua- mấy củ khoai, khúc sắn phần ăn tối từng người tù phải cùng chia đều. Củ sắn chia xong, ăn nhanh thì sợ hết, tôi để dành một ít về đêm, đợi tiếng kẻng trại tù xong, tôi sẽ ăn dằn bụng trước khi đi ngủ.
Hầu như mọi người đều có lộ phí và ăn tô cơm cá dưa kho của o bán hàng. Những cái đầu gật gù, những lời nói chuyện râm ran, những hẹn hò gặp nhau sau ngày về với gia đình. Chúng tôi không quên nhau- Ái Tử -Thanh Hóa cho tận Bình Điền, biết bao kỷ niệm buồn vui.
O bán cơm bận áo Bà Ba trắng nhưng đã ố vàng do bụi đỏ Bình Điền và dãi dầu ngày tháng trên đó. Tuy nước da sạm đi do nắng nóng và đất khai hoang nhưng không che hết cái "chất Huế" của o từ dưới thành phố lên. Dáng nhanh nhẹn, giọng mời ngọt ngào bao lâu nay O quen mua bán dưới Huế. Giờ lên đây, cũng bán mua, nhưng là hàng cơm và thức ăn bình dân hạp với dân nghèo, lam lủ với rẫy rừng, cuốc rựa...
-Mấy eng về chị có đen thì đừng có chê nghe mấy eng!
Câu nói bất ngờ của o bán hàng làm chúng tôi, không ai bảo ai, đều ngước lên nhìn.
Có thể mấy năm trước O từng chứng kiến cảnh túng bấn của bao người vợ tù gian nan, tất tả ngược xuôi. Những người vợ, người mẹ hay con dâu này bán hết những cái gì bán được trong buổi giao thời. Từ vòng vàng, nhẫn cưới kỷ niệm, cái máy hát, rồi tủ bàn và áo quần nào còn đẹp, tất cả lần lượt “ra đi” do từ thiếu đói của bầy con, sau ngày ba chúng đi tù.
Trong nhóm, tôi là đứa em cấp bậc nhỏ nhất, lại độc thân. Tôi chưa hiểu "thấm thía" những cảm xúc bằng các anh, những người bao đêm quay quắt nhớ vợ thương con.
Mấy tô cơm hôm đó, O xúc đầy hơn, không tính toán. Mừng cho chúng tôi, o nói thật lòng. Năm tháng chịu đựng gian truân, thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần, những người vợ tù đáng quý biết bao! Sao mà chê "đen" được các chị ở nhà? Ngày tháng "thân cò lặn lội" gần xa, bao dặm đường gian nan tìm ra hạt gạo nuôi mẹ chồng nuôi con, phần lo bới xách cho chồng trên trại. Tôi không quên hình ảnh đoàn người thăm tù mỗi hai tháng, những người đàn bà nay quần thô áo vải, theo bước đi vội vàng, hai cái túi xách đu đưa hai đầu đòn gánh...
Chiếc xe hàng từ Huế lên rồi. Từ xa đám bụi vàng bốc cao. Chúng tôi trả tiền cho o bán cơm vừa khen, vừa cám ơn o về đọi cơm sao ngon quá. Ánh mắt o long lanh, những niềm vui hôm nay cùng nhau chan hòa. Vội vàng ra khỏi cái cái quán tranh, chúng tôi chạy vội tới chiếc xe đang dừng tại cái bãi đất trống dưới chân đồi. Vừa chạy, nhưng tai tôi tưởng chừng câu dặn dò của o bán cơm còn văng vẳng sau lưng...
Mấy eng về chị có đen thì đừng có chê nghe mấy eng!
VỀ LẠI HUẾ XƯA
Khi tôi về, nhìn quê hương điêu tàn
Nhìn tuổi thơ nghèo nàn, nuôi đời trong dối gian! (Con Đường Tôi về / Lê Tín Hương)
Tôi ngơ ngác ngó quanh. Mấy năm xa vắng cố đô giờ tôi nhìn lại, Huế có vẻ gì xác xơ và xa lạ! Cũng như các bạn khác từ rừng xanh về lại chốn thị thành, mới biết quê hưong chỉ vài năm mà tiều tụy đến não nề! Ga Huế im lìm trong cơn nắng tháng Sáu. Cửa cái bể, cái vá. Quanh nơi tôi đứng, vài ba cái quán đìu hiu trong gió, vài thẩu kẹo, năm ba nải chuối đu đưa.
- Đi xe khôn eng...? !
-chú... chú ...đi xe cháu nì chú?!
Nhìn quanh toàn là xe đạp, người viết không ngờ ngày về lại Huế nay trước mắt toàn là những chiếc xe méo mó, sét rỉ, không vẻ gì chắc chắn để làm chuyện chở người. Đến nỗi này sao? Người Huế giờ lại "sáng tạo" ra một cách làm ăn mà tôi chưa bao giờ thấy trước đây? Họ phải tận dụng hết sức lực "cơ bắp" của mình kiếm đồng tiền, bát gạo trong một xã hội ít ai còn tiền để đi? Họ phải "bấm bụng" giành giật miếng ăn từ mấy người xích- lô đạp bao năm nay, những chiếc xe lambretta, những chiếc xe đò hai màu xanh trắng!? Ngày xưa người ta cũng đi “xe ôm, xe thồ” nhưng tệ lắm là chiếc honda, nhấn ga là chạy “vù vù”, thế mà đã than khổ rồi?
Tôi không biết từ chối hay nhận lời ai đây? Tôi ái ngại nhìn những ánh mắt cầu khẩn của mấy người đạp xe đạp ôm bằng tuổi em tôi. Những nét mắt chưa xóa đi nét vô tư và hồn nhiên của những ngày chỉ biết cắp sách đến trường, áo cơm thì có ba mạ lo, giờ thì chẳng còn chi!? Cũng may có thêm khách và tôi khỏi từ chối ai. Tôi chọn cuốc xe của một em đạp xe đạp ôm bằng tuổi em mình:
Nhớ về quá khứ, đây đâu phải là lần đầu tôi được chở đi bằng xe đạp. Nhưng hồi đó là đi chơi,đi dạo mát vui thú cái tuổi thiếu niên sau những ngày học hành mệt nhọc. Giờ đây tôi là một gánh nặng cho một em mới lớn; em phải đổi sức lực của mình để kiếm vài lon gạo cho mẹ già và mấy em đang đợi ở nhà. Cái điệp khúc mệt mõi này lại kéo dài trong cái não nùng, buồn tủi, đợi mong.
Lá thư nhà do thân phụ từ Bình Tuy gửi cho tôi ra tới trại tù Bình Điền nhận ngày 6/1/1980...một thời ngay cái phong bì gửi thư cũng hiếm nên ba tôi phải xếp tờ giấy làm phong bì con tem thì 12 hào
-Quân chi ác ôn rứa?!...con người ta mới ra trường chuẩn úy mà giam chi giam ác tới 5-6 năm dữ rứa?!
Anh em bây giờ tản mác vào tận miền Nam, chỉ còn đứa em gái ở lại với mẹ tôi vừa làm HTX thêu ren 'bữa đực bữa cái' vùa phụ nấu nồi cháo gà cho mẹ tôi lúc này. Tôi chỉ ở với mẹ tôi được một, hai đêm. Sau khi ăn uống no nê mẹ tôi moi hầu bao được mấy chục bạc cho tôi ra QT tìm bạn bè. Nhìn những đồng bạc một đồng hai đồng cũ nát cuốn tròn mẹ tôi lần ra từ cái 'ruột tượng' tôi như muốn khóc. Một ngày mẹ tôi buôn gánh bán bưng chỉ được năm mười đồng, nhưng giờ tôi thật sự cần tiền?
Trước khi ra khỏi Bình Điền, 'Trại' cho tôi 32$ bạc. Trại tính theo giá nhà nước mỗi cây số '3,2 xu' [2] hay 0$032 nhân lên 1000 cây số ;than ôi, sự thật ngoài trại tù lại khác. Mọi thứ đều thiếu từ vải vóc, gạo dầu, cho đến cái vé xe chỉ ưu tiên cho cán bộ và “tiêu chuẩn hoá” nên tất cả đều chỉ có sẵn tại 'chợ đen" mà thôi. Còn hai muơi mấy đồng có gắng lắm đến Đà Nẵng là cùng. Đây là lý do tôi phải 'bấm bụng' lấy mấy chục bạc lao khó từ tay mẹ già, từ công lao em Hoà, phải thức sớm làm gà phụ nồi cháo cho mẹ, vừa thêu ren mỗi tháng ròng rã chỉ vài chục bạc.
Chiếc xe hàng thả tôi giữa đường quốc lộ gần Cầu Ga. Tôi theo con đường Hồ đắc Hanh cũ về lại xã Hải Trí. Nguyễn văn Bốn, thiếu uý BĐQ 'học tập' trong Đà Nẵng, ra tù sau 15 tháng. Bạn tôi giờ chạy xe hàng với ba hắn, nhưng hắn gọi ba là chú do kiêng khi ba của Bốn tên là BA!
Hình ảnh bà con trong xóm ngày nào giờ đang trở lại...Nào hai gia đình dì của Bốn: dì Nậy, dì Giỏ đều là chủ xe đò nhưng nay đã vào hợp tác xã. Nhà Trần Tài (em út của cac anh Tước , Xê -Tước- Tiết, và O Bê) và nhiều người nữa. Gặp tôi về ai cũng thuơng, ai cũng mừng. Bạn đọc tha lỗi cho cái tội nói về mình; xưa, trong xóm Cửa Hậu ai cũng thuơng tôi.
Nhắc lại bà con tản mạn ra đây, Đông Hà, ai cũng bảo tôi ở lại nhưng lòng tôi như 'lửa đốt'. Tôi nôn nóng về nam. Gia đình trong Bình Tuy đang ngóng tin tôi từng giờ. Tình cảm mẹ tôi tại Tây Lộc, từ bạn bè, bà con lối xóm giúp tôi gần ba trăm đồng bạc bắc cho tôi làm lộ phí vào nam. Số tiến này lúc này không phải là ít.










No comments:
Post a Comment