Thursday, July 16, 2026

HỒI KÝ H.O: RA TRẠI (phần cuối và HẾT)

Con đường tôi về, rực nắng ban mai,
Còn hàng hoa đỏ, mùa hè thắm tươi
Còn em ngày nào, áo trắng thẹn cười
Nay đã vào đời, nụ hồng lả lơi
Phong sương dạn dầy, tuổi xuân đọa đầy...(Lê tín Hương)



TÀU QUA HẦM RÙ RÌ 



    Thế là tôi đã mất một ngày và một đêm trên chuyến tàu chợ vào Nha Trang. Người soát vé báo trước con tàu chợ tôi đi chỉ ghé ga chót là Ga Nha Trang. Chỉ có Tàu Thống Nhất từ ngoài bắc mới đi thẳng vào Sài Gòn. Thời gian ở tù tại Trại 4 Ái Tử, Quảng Trị tôi từng nghe có tàu Thống Nhất. Những bài đăng trên tờ báo Nhân Dân trong cái "căn- tin" tôi có dịp đọc vào cuối tuần, ngày nghỉ lao động. Hai chữ "căn tin" người viết không đặt ra mà trại từng gọi cho cái phòng đọc báo. Những tờ báo Nhân Dân được đóng nẹp cẩn thận, móc trên vách đất của "thư viện tù" trong trại. Có cơ hội, chúng tôi hay đánh cắp vài tờ, giấu vào bụng, về lại lán xé nhỏ để vấn thuốc. Thèm đọc tin, chúng tôi chẳng có chọn lựa nào ngoài những tờ báo Nhân Dân hay Quân Đội Nhân Dân. Tôi nhớ có dịp đọc tập tự truyện nhỏ có cái tên "Cây Đa Bến Cũ" của hàng binh "Phạm văn Đính" hay trung tá Đính trong QLVNCH từng được cho tù đọc tại đây. Tôi nhớ mang máng ông này có thăm trại Một, Ái Tử sau tháng 5. 1975 lúc chúng tôi vừa từ Ba Lòng được chuyển về lập Trại Ái Tử.

    Biết bao nhiêu là chuyện...

    Gần hai ngày, chiếc tàu chở tôi không có 'dịp may' nào dừng lại chờ tàu Thống Nhất qua mặt nên tôi không hình dung tàu đó nó đẹp, sang, to lớn, màu mè ...ra sao? Khoảng sáu giờ sáng tàu sắp qua hầm đèo "Rù Rì'. Người ta cho biết, và tôi cũng biết khi tàu vừa qua Ninh Hoà, đi vào thêm vài chục cây số nữa thôi.


Tôi đã về lại Nha Trang!

                Bãi Tiên Quân Trường Đống Đế
               bãi tập chiến thuật núi rù rì


    Tính từ ngày tôi ra trường, cuối tháng 11 năm 1973 đến tháng Sáu 1980, gần bảy năm giã từ Quân Trường Đống Đế, xa đèo Rù Rì cùng những bãi tập chiến thuật mệt nhoài trong mấy tháng huấn luyện. Mau quá, non bảy năm biết bao biến đổi cho miền nam và cuộc đời những người lính, những đứa tù binh?


                tôi ra trường vừa đúng 20 tuổi đời (24/11/1973)

 Bao đồng đội nằm xuống thì an phận rồi. Họ đã đền xong nợ nước, nợ áo cơm, kể cả nợ đời.

Nhiều người còn lại, chật vật, khốn khổ với hai chữ "ĐỔI ĐỜI” như những mớ rác rưới hỗn độn, đủ màu sắc bị quăng vào và lắc đều trong cái thùng lớn, từng ngày từng giờ. Hình ảnh trước mắt tôi hai ngày nay, kể cả bản thân, bị lắc đều dồn nén trong những toa tàu chợ hôi hám, nóng nực, chật chội.

đèo Rù Rì hình xưa 1960

C:\Users\typei\Desktop\Trung doi 4 Dd 776 Td 15 Khoa 5 B-73 DD..jpg

  




 Tàu đã vào khoảng tối cái hầm. Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh mấy tháng thụ huấn tại Quân Trường Đống Đế, đó là thời gian huấn luyện giai đoạn 2 tại núi Rù Rì, đại đội khóa sinh chúng tôi từng qua lại hầm tàu này. Lúc xuyên hầm, chúng tôi đi sát vào thành hầm để giữ an toàn. Chúng tôi qua hầm xong, chẳng có chiếc tàu nào tới nên chẳng hề có cảm giác ra sao nếu có tàu qua vào giờ đó? Đại đội khóa sinh qua hầm Rù Rì, đi một hàng dài men theo QL 1 qua Đống Đế trước khi về lại Quân Trường. Người viết chẳng quên bao thanh âm cùng hình ảnh người dân sống theo hai bên đường ngó theo, đùa vui cười cợt với lính, những người trẻ đang làm phận sự người trai trong thời binh lửa...


cho đến năm 2020, mấy chục năm sau hầm đèo Rù Rỳ lại còn rệu rã không được tu bổ gì (hình báo Khánh Hòa )

    Hầm Rù Rì không dài hơn hầm tàu Hải Vân. Tàu qua hầm, đó là lúc tôi tưởng tượng trên đầu tôi, sườn núi Rù Rì- Đống Đế những buổi tập "Trung Đội Phòng Thủ' hay "Trung Đội Di Tản Chiến Thuật'"... đó là những buồi huấn luyện trên núi Rù Rì. Có những buổi huấn luyện khác, tập sát Bãi Tiên có sóng biển bạc đầu, rì rào gió mát. Nào là Đỉnh "Thằng Cù Lần" tức là cái tượng lính sơn trắng trong tư thế “cầm súng thao diễn nghỉ". Nào đỉnh Hòn Khô phải chinh phục nó trước đêm gắn alpha cũng vào tháng Tám năm 1973.

                            đêm gắn Alpha 

    Giờ tôi về đây, cũng vào tháng Sáu trong thân thể gầy còm, áo quần tả tơi bạc phếch'? "chiến bại binh' trở về làm sao mà 'oanh liệt, oai hùng' cho được?

                                       TƯỢNG THẰNG 'CÙ LẦN' nay không còn 

Tôi nhớ hai câu truyền miệng trong Quân Trường Đống Đế:
"Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ
Em nằm xoả tóc đợi chờ ai?"


viền núi Hòn Khô đêm về giống người con gái nằm xỏa tóc...

    Tôi chẳng biết tác giả là ai? khóa đàn anh nào trong quân trường? Nhưng chúng tôi cứ truyền miệng cho nhau, dễ quá sao mà không thuộc.
    Đêm về, từ "chambre" đại đội 771 ngó lên Hòn Khô, viền núi đen sẫm in hình lên nền trời sáng mờ.  Tôi gật gù tán thưởng, “công nhận trông giống hình 'người con gái nằm xỏa tóc' hết sức!”


    Những cuối tuần đi phép, chỉ 12 tiếng đồng hồ trong ngày. Chúng tôi từ Đống Đế có thể về 'bát' phố Nha Trang. Nhưng Nha Trang, một thành phố dành cho "người yêu Hải Quân, Không Quân" thôi. Đây là tôi viết thật cho cái tâm lý "tự ti mặc cảm" ngày đó, bởi thế tôi chẳng về Nha Trang. Riêng tôi chỉ du ngoạn ngang Cầu Xóm Bống hay Tháp Bà rồi trở lui. Uổng công đánh giày xi- ra láng bóng, ủi áo quần phép phẳng phiu...

    Buồn làm sao cho những kỷ niệm lính qua nhanh với nhiều cảm xúc cùng bao nỗi nhớ nhung mang máng cũng lắm, sâu đậm cũng nhiều. Nhưng kết cục, tất cả đều buồn, đều tủi, cho bao nghiệp lính 'đứt gánh giữa đàng'.

    Con tàu chui ra hầm một đoạn, tôi thấy Núi Hòn Dung còn đó. Những ngày lính quân trường di hành qua đây, mấy xóm phong cùi, giờ còn tại đó không? tội nghiệp cho “làng cùi”. Chúng tôi lúc đó vẫn mua thức ăn tại bãi tập gần núi Dung, gần họ chẳng e ngại hay lo sợ gì.


BẾN XE NGUYỄN HOÀNG

một quán nước TP Nha Trang 1988 (ảnh khách ngoại quốc)

    Anh xe ôm rồ xe chở tôi tới bến xe Nguyễn Hoàng lúc giờ bán vé gần hết. Hình ảnh những chiếc xe dài liên tỉnh thời trước vẫn còn đó, cũ hơn. Những chữ Hợp Tác Xã Xe Đò ...giờ được thế vào những cái tên tư nhân ngày trước. Nha Trang ồn ào, náo nhiệt hơn Huế. Vẫn có những đứa trẻ bán mỳ và hàng rong đeo theo nài nỉ với chiếc xe sắp chạy. 

Tôi chạy nhanh vào phòng vé ...người ta lắc đầu làm gì có vé giờ này ?
Một anh nói lớn với cụ già:
        -Ra đầu đường đón mới có về Sài Gòn mau lên!
Tôi nghe vậy liền chạy theo họ.
Quả đúng! người ta rành chuyện này. Phải “linh động” tránh bến xe một quảng xa, mấy chiếc rời bến sẽ tấp vào đón khách thêm, ngoài số khách tiêu chuẩn mà vé đã bán. Hợp tác xã xe khách là vậy. Sau này tôi mới hiểu có vậy mới sống còn, nghĩa là biết “linh động” với nhau. Người ta bán vé tiêu chuẩn chỉ ít thôi, theo giá "nhà nước' thì làm sao sống được?

Chiếc xe dài vàng nhạt sà vào.
        -Sài gòn, Sài Gòn phải không- 

' Lơ' xe một tay bám vào thành cửa, đầu nghiêng ra ngoài, hỏi lớn.
    Tôi bám theo ba người đi Sài Gòn, khỏi cần hỏi khi nghe họ đi Sài Gòn. Xe đón 'gió' kiểu này không có thì giờ cho hai bên 'kỳ kèo' giá cả. Lơ xe vừa nói vừa kéo, vừa đẩy mấy người khách như 'tống' mạnh vào trong cho người tài xế rồ ga chạy mất như bị 'ma đuổi"?
            -Anh kia dzô đâu?
    Thấy bộ dạng tôi, anh chàng 'lơ xe' có thể đoán là người 'ngoài kia' vào. Tôi quên mất là cái mũ cối bằng rơm ép, màu vàng của tôi đang dội trên đầu  nên làm họ lầm là người "ngoài bắc" vào? (sau này tôi tiếc hùi hụi sao không đưa giấy 'ra trại' cho lơ xe? người trong này biết 'tù về' thì không ai ép giá cao bao giờ)
                -100 đồng ‘dz
ô’ Bình Tuy!?

    Tôi không nhớ có kỳ kèo với người lơ xe đó không? Tôi chỉ nhớ là đưa ngay 100 đồng cho anh ta, lại còn mừng do anh ta kéo ra cái ghế phụ bằng gỗ nhỏ xong bảo tôi ra lui ngồi tít đằng sau.
    Có được chuyến xe vô nam, có được cái ghế nhỏ khỏi phải đứng thế là tôi mừng lắm rồi. Dầu biết rằng 100 đồng lớn lắm, nhưng tôi còn đủ tiền. Cám ơn tình cảm từ mẹ đích tôi, bạn bè, bà con  ngoài Huế, Quảng Trị, Đông Hà, giờ tôi mới có cơ hội ngồi trên chuyến xe khởi hành từ Nha Trang đó.
  Tuy ngồi sau phần cuối xe lắc nhồi nhiều nhất, nhưng thật tình lúc đó tôi vẫn thích thú khác xa với hai ngày trên chuyến tàu chợ.
Chiếc xe qua ngã ba Diên Khánh bắt đầu quẹo trái vào hướng nam.
            "Ba Mạ ơi! cả nhà ơi! con gần đến nhà rồi!"
    Lòng tôi lâng lâng sung sướng. Ước gì cả nhà tôi biết được giờ này tôi đang có mặt trong chuyến xe Nha Trang -Sài Gòn đó!


VỀ NHÀ


 

    Chiếc xe chạy khá nhanh, nó kiếm thêm một số khách 'khá bộn' trên đường vào. Hành lang giữa chật cứng. Người ngồi ép vào nhau, cổ nghểnh cao tìm khoảng trống để. Tôi 'an phận', thoải mái hơn chút đỉnh nhờ lên xe trước. 'Lơ' xe lấy 'ngon ơ' của tôi đúng một trăm đồng bỏ vào túi. Chuyện tiền nong của anh ta với tài xế không liên quan gì tôi. Thế tôi lại âm thầm 'cám ơn' cái ghế 'súp' hiếm hoi do anh ta dành cho tôi lúc xe vừa rời bến.


      xe đò xưa cùng hai người "lơ" xe 

 
    Chiếc xe chạy nắp theo bờ biển. Hình như ngang bờ biển Ninh Chữ? Hoang sơ với làn nước xanh mấp mé theo quốc lộ. Bao hòn đá chập chùng, những vũng nước biển trong leo lẻo. Xa xa sóng đánh vào đá nước tung lên trắng xoá. Ngoài khơi hoang vu không thấy bóng thuyền.




   
 Người viết nhớ lại, cuối năm 1974 lấy phép từ TKQT, tôi đi phép từ Đà Nẵng vào Sài Gòn bằng xe đò.  Tôi dám liều mình đi xe đò chẳng qua không biết cách gì tìm một phương tiện khác? Nếu lính thành phố như Đà Nẵng Huế thì ai đó có thể quen biết Quân Vận có thể đi vô nam bằng phương tiện máy bay quân đội nhưng đối với tôi một người ngoài vùng "hỏa tuyến" tỉnh Địa Đầu có thể xem như thiếu thốn mọi bề. Dù biết thiếu an ninh khi đi xe đò tôi vẫn liều bận đồ lính đi trên xe đò thôi.  thiếu tiền thiếu phương tiện thì đành phải liều vậy. Ngày đi phép đó, ngang bờ biển Ninh Chữ này, cảnh biển quá đẹp nên tôi nhớ mãi. Nếu vậy, thì chiếc xe đang  gần Phan Thiết, "quê hương nước mắm" rồi. Tôi mừng thầm...từ Phan thiết vào đến Bình Tuy không còn bao xa nữa!


    Qua khỏi cầu Phan Thiết, chiếc xe đang vào Thành Phố. Trong xe tôi vẫn ngửi được mùi nước mắm từ mấy hãng chế biến gần múi cầu. Vẫn còn nhiều đống hũ nhỏ, sơn trắng la liệt dưới kia. Người ta vẫn còn làm nước mắm đựng trong hũ (còn gọi là trĩn )đất như xưa. Chiếc xe dài đang chạy xuyên qua Thành Phố. Phố Phan vắng vẻ, buồn hiu. Những cửa tiệm thưa thớt, vài chiếc xe honda 67 màu đen còn sót lại chạy vù qua mặt chiếc xe hàng. Bạn cùng lớp với tôi, Nguyễn Cường Nam, ra trường sau tôi, hồi đó nghe tin Nam 'trấn nhậm' cây cầu nào ngoài Phan Rang? Giờ tôi không còn biết tin gì về Nam? Phan Rang xe đã qua rồi, đây là Phan Thiết; có thể Phan Rang, thị trấn nhỏ quá, nên tôi không để ý.



Rừng Lá !


    Xe gần tới ngang Rừng Lá. Người ta đặt tên là Rừng Lá không biết do sao? Trước đây mỗi lần xe chạy ngang đây ai nấy cũng lo, cũng hồi hộp. Nỗi ám ảnh bị 'du kích' ra chận đường, một ‘rừng lá của mật khu’ của 'người bên kia'. Vào đây "rừng lá' tôi cũng thoát do gặp may không có 'du  kích' nào ra đón. Chuyến đi phép 1974 tôi vừa kể đoạn trên, tôi "bận đồ lính" tôi thoát được một mối nguy hiểm tại Bồng Sơn, quận Hoài Nhơn, Bình Định. Có chiếc cầu bị du kích đánh sập, và 'du kích' cũng giả dạng người đưa đò ‘transport’ khách qua sông, có xe bên kia đón.


    Khách qua sông cùng tôi ai cũng bận đồ dân sự, họ ép tôi vào giữa nếu có "du kích" thì họ khỏi thấy. Do tôi 'điếc không sợ súng' chứ người dân họ biết hết, nơi nào có du kích họ đều ranh. Tôi lúc này đúng 21 tuổi, trẻ măng, bận bộ đồ xanh ô liu, trên ve áo còn mang hai 'quai chão" đen sì, may liền vào cổ áo, không gở ra được. Một anh trung niên, bận bộ vét trắng, mang kính cận ra dáng trí thức. Tôi nhớ anh nói giọng Quảng Nam cứ đi 'kè kè' bên tôi để che giúp bộ đồ lính của tôi. Giờ mấy mươi năm qua, thêu dệt chuyện này hay hư cấu làm chi nữa. Tôi chỉ có lời CÁM ƠN MUỘN MÀNG đến tình dân trên chuyến xe đò 1974 mà tôi đi phép từ miền trung vào nam thăm gia đình. Năm đó trong nhà ai cũng mừng cho tôi 'thoát nạn'. Nhưng về lại đơn vị TKQT tức trả phép, ba mẹ tôi phải 'rán sức' mua vé máy bay cho tôi ra lại Huế, chiếc DC 4 bốn cánh quạt bay vù vù gần 3 tiếng mới tới Phú Bài. Đó là chuyện 1974 chuyến phép cuối cùng của tôi và cả những ai phục vụ trong QLVNCH cũng nên.


 lá buông  là thổ sản của Rừng Lá Bình Tuy
        

 Giờ đây là Rừng Lá của năm 1980, hết chiến tranh rồi, chỉ còn niềm vui ra tù, không lo sợ hồi hộp gì nữa... Dòng suy nghĩ của tôi đột ngột ngưng hẳn do anh chàng lơ báo cho tôi biết sắp đến Ngã Ba 46, họ sẽ cho tôi xuống đó.


Tới rồi! về nhà rồi ! một cảm giác hân hoan, hồi hộp khó tả trong lòng tôi.



NGÃ BA BỐN SÁU




    Xe thả tôi xuống liền rồ máy chạy ngay. Tôi đứng bên đường nhìn theo chiếc xe dài, màu vàng nhạt khuất hẳn dưới con dốc xa xa.


Trời thật sự chiều. Con lộ chính đất nước giờ này thật vắng. Tôi băng qua đường. Ngã ba này giờ chỉ vài cái quán lèo tèo, vắng khách. Giờ này tôi không còn tìm ra một phuơng tiện nào để về La Gi cả.


 Trong chuyến phép tôi vừa kể đoạn trên, tôi theo mẹ từ Mỹ Tho về La Gi. Những chuyến xe lam đông khách từ ngã ba Bốn Sáu này đây. Hồi đó nhộn nhịp làm sao. Về La Gi một chặng đường 18 cây số. Hai bên đường đa số là người dân Quảng Trị theo chuơng trình Di Dân LẬp Ấp 1973 của Quốc Vụ Khanh Phan Quan Đán thời VNCH.


Giờ tất cả đều vắng, ngã ba này không có ai ngoại trừ tấm bảng xi măng rất lớn đề dòng chữ lớn:


RỪNG LÀ VÀNG ĐỐT RỪNG NHƯ THỂ ĐỐT DA THỊT MÌNH

 

    Tấm bảng kia dĩ nhiên đối với tôi lần đầu tiên trông thật lạ kèm theo sự vắng vẻ một 'NGÃ BA 46' hiện tại. Tôi nhớ ngày trước, một thời xe lam, xe ôm rộn ràng lên về La Gi, trong đó có khá đông lưu dân QT.


    Chuyện đi bộ theo con đường này về nhà dù trên hai mươi cây số giờ đó đối với tôi là chuyện bình thường. Những ngày trong Trại Ái Tử, những đoạn đường vác gỗ nặng từ rừng về trại cũng non hai mươi cây số; huống gì bây giờ, tôi bước thênh thang. vai lại 'nhẹ hều' cộng thêm niềm vui quá lớn, đó là được về đoàn tụ với gia đình.


    Mặt trời chưa lặn hẳn. Tôi còn thấy được những xóm nhà hai bên con đường nhựa không rộng mà không quá hẹp. Vài đám ruộng cỏn con, xen vài luống mía. Những túp lều tranh còn vuơng khói, xen kẻ vài mái nhà tôn xi măng xam xám. Bên trái tôi một bóng núi nhòn nhọn. Rừng chiều dần dần đen sậm lại. Cảnh vật im lìm trong bóng hoàng hôn. Tôi cúi đầu bước nhanh trên con đường vắng ngắt không còn xe hay người đi. Hình như tôi muốn đuổi theo ánh sáng còn sót lại của một buổi chiều sắp hết.


Ngang cầu Suối Đó thì trời đã tối hẳn. Nhờ ánh trăng thượng tuần nên con đường không tối lắm. Con sông chảy qua cầu vào mùa này đã cạn nên tôi dễ dàng lội qua. Cái cầu đã sụp đổ. Ban ngày, có lẽ xe đò chạy vòng đường khác. Lội qua con sông cạn, leo lên lại con đường, tôi dựa lưng lên cái ba lô tạm nghỉ mệt trên con đường nhựa.


người Quảng Trị Di Dân Lập Ấp vào Bình Tuy năm từ năm 1973 tại Động Đền Hàm Tân

    Động Đền trong kia, nơi bà con tôi ở rất đông. Ngày đó tôi thăm vùng này được hai ngày trước khi ra lại QT. Sau 1975 nhà ba mẹ tôi từ Mỹ Tho mới về tập trung tại đây. Động Đền, nơi người QT ở gần bên nhau. Rẫy rừng than củi, buôn bán nông phẩm là chính. Những cái quán cà phê tranh nho nhỏ, những cái chợ cũng nho nhỏ, những mái trường cho con em QT và những chuyện gì nữa sinh ra từ vùng đất mới này, tôi không tường tận gì lắm. Sau năm 1972, gia đình tôi 'chạy' thẳng đến Mỹ Tho, chỉ về tập trung ở đây sau năm 1975; và đây cũng là lý do tôi khai địa chỉ trong giấy Ra Trại là vùng này.


Mặt trăng thượng tuần gần lặn, tôi vội vả bật dậy tiếp tục bước nhanh.


Ngã Tư Quân Cảnh đây rồi!


Tôi rẽ phải vào con đường đất, nó không còn trải nhựa đường nữa. Chỉ hai ba cây số nữa là đến Động Đền thôi. Nhưng nhà tôi ở xóm nào? tôi hoàn toàn mù tịt, trong Giấy Ra Trại đề là Xã Tân Mỹ thôi.


    Con đường đất lồi lõm, khó đi trong bóng đêm. Tôi cứ men theo vậy đi mãi. Ánh đêm và thôn xóm tối đen hai bên đường. Trời về khuya, tôi càng lúc càng bước nhanh; hình như tôi đang mò lên một con dốc. Còn ánh đèn nào leo lét tôi đánh bạo bước vào hỏi nhà.


Một giọng nói Gio Linh của một chú trung niên trả lời:


- Ôi  phải o  Dỏ ...thôn Cam Bình phải khôn? chú đi lui xuống lại đi, ngay dưới dốc có chợ Cam Bình là đến ngay thôi ...


Hú vía! 


Tôi nghe vậy mừng quá ríu rít cám ơn chú kia và trụt xuống dốc lại ngay. Thì ra tôi đã lạc đường không theo con đường chính lên dốc mà lại theo con đường mòn lên đến trên xóm trên cao đó. Người khách trong đêm như tôi, nghe mới ra tù chắc là một chuyện cho gia đình kia bàn tán "đỡ buồn" chăng? Hình như nhà họ mới đi làm rẫy về, mới ăn xong chưa ngủ?

 Tôi quay bước trở lui, mò mẫm trụt xuống con dốc, con đường mòn đầy cát mà tôi vừa leo lên. May quá! vẫn còn ánh đèn nào leo lét vừa thắp lên trong mái nhà tranh bên phải tôi. Tôi nhớ lúc qua đây, tôi không thấy có ánh đèn này, có thể họ vừa làm gì đó, mới thắp lên lại? Mừng rỡ, tôi gõ cửa...


    Dưới mái nhà tranh lụp xụp, ám khói. Ngay ở căn giữa có kê sẵn một cái bàn gỗ thấp lè tè, ọp ẹp. Một ngọn đèn dầu hỏa thắp vội tỏa ánh sáng lù mù. Thì ra đây là cái quán nhỏ: vài cái tô không, còn phảng phất đâu đây mùi thơm bún xáo do khách vừa ăn xong. Nếu thế, đây đúng là Chợ Cam Bình rồi. Ngoài kia chắc là cái đình chợ? bóng nó cao hơn những mái nhà đang im lìm 'ngủ' trong đêm. Thật lạ! không có tiếng con chó nào sủa khi nghe tiếng người. Bác chủ quán bằng tuổi mẹ tôi [2]người ôm ốm, cái áo cụt trắng bạc nhạt nhoà trong ánh đèn vàng vọt.Tôi vừa kịp nói xong, bác vội nói lớn lên giọng mừng rỡ với cái giọng Bắc 'di cư’:


            -Ôi ! cậu là Phúc con o Nhỏ phải không? theo tôi, theo tôi, o Nhỏ ở ngay sau này rồi.


     Bà vội cầm cây đèn dầu dẫn tôi đi ngay.
Con đường vào trong xóm tối om, nhưng chỉ một đoạn thôi. Một mái tranh lụp xụp, lờ mờ dưới nền trời khi ánh trăng thượng tuần vừa khuất.
Cầm cây đèn dầu trong tay, bác kêu lớn:


            -O Nhỏ ơi, o Nhỏ! thằng Phúc về rồi o Nhỏ ơi!


(đoạn cuối này được tác giả tu bút lại sau cùng, không có trong audio đọc truyện của Hồi Ký Miền Nam)

    Nói xong bác vội ra lại nhà ngay. Hình như người hàng xóm muốn giây phút trùng phùng đoàn viên được tự nhiên hơn, hơn nữa trời quá khuya rồi bác phải ra lại coi nhà.


    Cái cửa lá gài xọc xạch vội hé ra ngay. Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu thắp ban đêm tôi thấy hai đứa em trai đang ngồi dậy mặt ngơ ngác do bị đánh thức trong cơn ngủ say, hai đứa em đang ngủ nhưng lại ở trần không bận áo. Ba mạ tôi lay hoay do quá mừng chẳng biết làm gì trước tiên. Mạ tôi nghẹn lời do sự mừng vui quá bất ngờ trong lúc bắt đầu say ngủ. Cả hai người cầm vai người lắc lắc hai cánh tay thằng con trai mới ra tù cơ hồ sợ vuột mất hay có phải “nằm mơ” chăng?


    Một mái tranh ẩm thấp xiêu vẹo dưới ánh đèn lù mù. Những cái đòn tay bằng tre lâu ngày màu ám khói dù ban đêm tôi vẫn nhìn thấy rõ.  Tôi xúc đông, miệng lắp bắp chẳng biết trả lời câu hỏi nào trước cho ba mạ tôi. Ba tôi chẳng đợi nghe tôi trả lời vội kéo hơi thuốc lào, tiếng nghe “lụp bụp". Vừa phà làn khói, ba tôi vừa nghe tôi giải thích ...Ba tôi lại hút nữa hình như người muốn giải tỏa một nỗi vui mừng to lớn trong đêm.  Mạ tôi tiếp tục hỏi, những câu hỏi trùng nhau. Mạ tôi lay hoay  như muốn kiếm cái gì cho tôi ăn trong đêm? Tôi còn nhớ rất in là chẳng có gì tạm gọi là ăn liền được như thời này. Muốn nấu lon gạo thì phải đi tìm củi lửa, rồi phải nhen nhúm…khoai khô sắn khô có thể có nhưng ngoài ra chẳng có chi tôi đưa vào miệng ngay lúc đó…một mái tranh nghèo đúng nghĩa. Hai đứa em gái thì đã lấy chồng nên không ở trong nhà, chỉ còn hai đứa em trai, cứ nhìn chằm chặp vào người anh bao lâu nay mới gặp. Hai đứa em, chúng chẳng biết nói chi ngoài cái nhìn trân trân, có phần nào e thẹn trong niềm vui bất ngờ trong đêm.

    

     Thú thật, tôi không ăn gì nhưng cũng chẳng muốn ăn do quá no từ niềm vui đoàn tụ. Ba tôi tự cho phép mình hút liên tiếp và nhả khói thuốc lào trong đêm. Mùi thuốc lào của ba tôi hút không gì lạ, chúng tôi vẫn chia nhau từng bụm khói thuốc lào do trại phát trong tù. Cũng là thuốc lào nhưng mùi thuốc hôm nay tôi có cái cảm nhận rất khác, nó êm đềm và sảng khoái trong niềm vui quá lớn, Đoàn viên và tự do rồi trong vòng tay thương mến của gia đình ba mạ và các em tôi.




    Bên vách lá, có gánh hàng mạ tôi vừa bán bữa chợ hôm đặt sát vách. Mạ tôi cứ mãi lay hoay không biết lấy thứ gì cho đứa con trai ăn được? Thuốc rê tiêu hành, đồ vặt ...những thứ con trai mạ không thể đưa ngay vô miệng.

Nhưng mạ ơi xin mạ dừng tay. Con không đói mà rất no trong niềm vui VỀ MÁI NHÀ XƯA ./.


Đinh trọng Phúc

edition 16/ 7/ 2026



No comments:

Post a Comment

TRẢ LẠI THỜI GIAN

Xin trả lại những kỷ niệm buồn vui Ngày xanh đã theo thời gian qua mất rồi... (Trả Lại Thời Gian / NS Thanh Sơn) BẠN MẾN, THỜI GIAN VẪN LẠNH...