MỘT VÙNG QUÊ NGHÈO
hồi ký
TẶNG BÀ XÃ TÚY HUỆ
viết cho con gái đầu Đinh thị Lâm Ân
lời mở:
Con gái tôi tên là Lâm Ân? Tại sao người viết đặt cháu là Lâm Ân nhỉ?
Sau khi vợ tôi sinh con trai đầu lòng, hai vợ chồng liền bồng bế con lên xã Sơn Mỹ để tiện bề cho vợ tôi dạy học. Kiếp tù "cải tạo" về lấy vợ nhưng cũng không phải là đổi đời mà nhiệm vụ cái cuốc cái rìu còn nặng nề thêm để lo cho cuộc sống. Nhà cửa chưa có, may mắn được tá túc trong ngôi trường của xã. Ngoài ra tôi còn được trường cho phép trồng trọt đám đất pha cát quanh trường nữa. Đứa con trai đầu được gần hai tuổi thì vợ chồng có thêm đứa con gái đầu lòng nữa. Ngày sinh bé gái nhờ có bà ngoại lên chăm sóc cho hai mẹ con nên người viết mới qua ngày thứ hai ở bên vợ con đã vội vào rừng tiếp tục làm nghề thồ củi đi bán... Như bạn đọc từng hay qua các bài hồi ký khác, nghề chính của kẻ này chính là "tiều phu" kiếm tiền độ nhật giúp đỡ thêm gia đình. Vợ làm nghề giáo viên, lương tháng vài chục thêm mười ba ký gạo chẳng đắp đổi vào đâu? Đó là một ngày đáng nhớ cho kẻ làm rừng! Sáng sớm vừa ra khỏi nhà, dắt chiếc xe đạp thồ theo con đường kiệt trong thôn thì được ngay "cái búa đi rừng". Tôi khá mừng do cái búa đi rừng của mình đã hao mòn hư đến nơi!
Ôi không được tiền được bạc mà lại cái "búa" mới trớ trêu thay!
Dù sao có còn hơn không đó cũng cái may nhỏ dù cái của trời cho đó chẳng đáng bao nhiêu?
Nghề đi củi nếu không nói là tiều phu, được cái búa đi rừng trong ngày con ra đời, đó là lý do cho tôi đặt tên cho con gái là Lâm Ân.
Sao tôi đặt tên cho con là Lâm Ân?
Lâm Ân, có nghĩa nôm là "ơn rừng" cái búa là một phương tiện, dụng cụ để bửa củi trong rừng kiếm ra một trăm đồng bạc cho một xe thồ củi đầy thời đó. Đó là ơn rừng cho hay là cái tên cho con gái của hai vợ chồng.
VÀO BÀI
Dạt dào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh...
Phân hiệu trường xã Sơn Mỹ huyện Hàm Tân thời gian này còn mang tên tỉnh Thuận Hải là một trong những trường quê vùng đồi dốc cao ngó ra vịnh Hàm tân biển xanh bát ngát bốn mùa gió lộng. Các thầy cô giáo ở đây có được một niềm an ủi khi phải làm việc trong chật vật khó khăn của thời bao cấp đó là những ngày hè thầy cô cùng học trò ra tận biển để tận hưởng luồng không khí mát rượi không tốn tiền mua từ biển thổi vào hay những con còng con cua núp dưới lớp cát khi sóng đánh vô. Tiếp nối xã Sơn Mỹ, xã Tân Thắng nhờ kế cận bờ biển nối dài về Bình Châu , Bưng Riềng cũng có được "kho trời đât" vô tận ngày đó.
Những đêm mùa câu mực, một vùng biển lấp lánh muôn vàn ánh đèn thắp sáng từ hàng ngàn con thuyền và thúng. Tôi đứng trên đồi cao nhìn về biển - cả một vũ trụ của sao đèn không thể nào đếm xuể.
Đó là ký ức của tôi về biển cùng ngư dân vùng này. Riêng trên các đồi đất cao vùng gia đình tôi sống dành cho nông dân cùng tiều phu những gia đình gắn liền mạch sống với đất rẫy cùng cây rừng . Từ hai bàn tay, cái cuốc cây rìu người dân đã tạo ra vô số luống khoai nương sắn. Rừng xanh dần dần biến mất theo miếng ăn của con người khi đất ruộng hiếm hoi. Thay vào đó các đồi trồng cây hoa màu phụ chạy dần về núi Đất hay núi Bể. Rừng còn bị bị san bằng- đốt phá cho những gánh than hay những thớ gỗ xây nhà dựng cửa. Trẻ con sau những giờ phụ mẹ cha vào rừng nhặt than, trỉa bắp các em cũng có những giờ hạnh phúc học hành với các thầy cô bên cạnh mái trường đổ nát xiêu vẹo có khi loang lỗ dấu đạn chiến tranh.
Vợ tôi và các cô thầy giáo khác từng có cơ hội gần gũi với người dân bên nương khoai rẫy bắp, cùng đói- cùng no với trẻ con vùng kinh tế mới, dấu ấn một thời gọi là bao cấp. Tôi không quên hình ảnh các thầy cô hàng tháng phải đạp xe về tận huyên xếp hàng từ sáng đến chiều chờ "dài cổ" mới mua được tiêu chuẩn mỗi ngừoi hai lít dầu hôi cùng vài lạng (trăm gam) thịt heo. Chuyện mới kỳ vì ai cũng thích thịt heo loại "nhiều mỡ", thì ra các cô thầy ưa mỡ để rán ăn dần trọn tháng.
Đời sống thấy cô tuy khổ nhưng dù sao cũng còn khá hơn các em vì các em có khi phải thắp đèn bằng dầu "mù - u" kiếm trong rừng vì dầu là những thứ gì thuộc loại "hiếm quý". Những đêm tôi đi rẫy về trễ nghe tiếng 'ê - a' các em học bài vọng ra từ các mái tranh làm lòng tôi xao xuyến. Ánh đèn lù mù le lói chiếu ra từ các mái tranh nghèo . Tiếng học bài của các em nhỏ tôi nghe như phần nào giảm đi nỗi hoang sơ nơi thôn dã. Ngày mai các em còn tới lớp cũng 'ê a' tiếng đọc bài theo nhịp thước của thầy- của cô tại ngôi trường mà gia đình tôi đang trú ngụ.
Hình trắng đen chụp năm 1986, học trò lớp 3 chụp chung với cô giáo tức là vợ tôi cạnh ngôi trường cũ, vách hông trường đã đổ nát trong chiến tranh, nên qua cửa sổ chúng ta thấy một khoảng sáng trắng
Nghèo là nghèo chung , khổ là khổ chung tất cả đều chia sẻ nhau những cơ cực. Ngày TẾT THẦY CÔ hàng năm học trò nghèo không có chi có khi lại xách luôn cả xâu cá mới câu được đem biếu cô. Có em lại đem những lon bắp hay nhũng gì trong vườn các em có được đem tới thầy cô lấy thảo. Giờ nhớ lại tôi không quên được nét ngây ngô chất phác của các em học trò vùng quê thuở ấy.
Cô Pho được đổi về dạy gần nhà tại xã Sơn Mỹ Hàm tân và cùng dạy học với vợ tôi tại phân hiệu trường Sơn Mỹ này khá lâu. Thời bao cấp lưong cô thầy vài ba chục đồng, chủ yếu nhờ vào tem phiếu. Cô Ph cũng không ngoại lệ. Ngày tháng chắt chiu nưôi con heo đen, gầy dựng hạnh phúc cho cô đó là ngày cô đám cưới. Ngày cưới của cô gần kề, con heo cô nuôi cũng vừa lớn là chủ lực chính cho buổi liên hoan trong vùng thôn dã, là tất cả hi vọng cô đặt vào gần một năm trời chăm sóc cho nó miếng cám ngọn rau. Con heo đen ăn ròng cám chuối, vùng gần biển đôi khi cô cũng thêm cho nó một ít cá vụn . Xóm làng ai cũng xuýt xoa khen con heo mau lớn, thịt con heo này chắc là ngon lắm !
Ngày hạnh phúc tức là ngày cưới của cô Pho đã đến. Giáo viên cùng trường như vợ tôi phải tới dự thôi. Vậy là tôi có được một ngày tạm dừng rìu rựa, ở nhà ru con cho vợ tôi đi dự đám cưới. Thời gian này nhà tôi đang tạm trú tại ngôi trường đổ nát mà vợ tôi vừa dạy học vừa ở với gia đình. Còn tôi dĩ nhiên là phu trường tự nguyện không có trợ cấp, dù sao gia đình tôi có một nơi che mưa đụt nắng là may mắn lắm rồi .
Đứa con gái sinh năm 1985 của người viết đang nằm vẫy đạp trong nôi. Nhờ trời tuy khoai sắn nhiều hơn cơm nhưng con tôi lớn nhanh "như bù", trong thôn ai cũng yêu mến, các cô thầy đi ngang đều ưa nựng bé. Hai bàn tay thô ráp của một người cha hàng ngày hết cầm cuốc đến rựa rìu bỗng nhiên hôm nay có được cơ hội nhưng cũng biết ru con cho thật êm ả kẻo con khóc. Trong lòng người cha vừa sung sướng vừa hồi hộp do sợ con khóc đòi sữa mẹ?! Hình như con gái tôi biết thương cha, nên ngày đó ngoan lắm hết ngủ thì lại "múa may" hai tay trong cái nôi cùng "tri trô" gì đó với cha nó... Tôi vừa ru con vừa ngóng tai nghe tiếng pháo đám cưới của cô giáo ngay thôn kế cận nhưng hoàn toàn im lặng?! Tôi chợt hiểu ra làm gì thời đó mà có pháo? nhất là ở vùng thôn quê sống nhờ vào nương rẫy như vùng nhà tôi ở?
Cái nôi tre méo mó chốc chốc rung rinh theo nhịp chân của con gái. Con tôi lại thức dậy chơi nữa? Hình như bé mừng do nó đang có "một dịp hiếm hoi" khi hình ảnh qua tao nôi bé nhận ra là người cha thân yêu hàng ngày vắng bóng do mịt mùng trong rừng. Tôi vừa ru con tôi vừa ngó lại vách tường vôi cũ của cái trường cũ loang lổ vết đạn. Mái trường nhà tôi được tạm trú mấy năm nay, một vách phòng cuối đã sụp đổ từ trận chiến 1975, tạm thay bằng những liếp lá buông cùng ván rừng. Qua khung cửa sổ tôi còn thấy được biển Hàm tân xanh ngắt ẩn hiện sau những hàng cây bạch đàn . Thấp thoáng vài con thuyền chài nhấp nhô trên sóng biển. Cứ mùa mực về trời càng chiều càng nhiều thuyền ra khơi . Khi màn đêm vừa buông xuống là muôn ngàn ánh đèn câu mực sẽ thi nhau lấp lánh trên vịnh Hàm tân . Mực là nguồn kinh tế là tiền là vàng cho ngư dân vùng thị xã La Gi. Người dân quê vùng cao tôi đang ở đây an phận với gánh than bó củi , hay thúng khoai " triêng" sắn , ngày ngày mịt mù trong nương rẫy cho đến lúc về nhà thì đã lên đèn , những ngọn đèn dầu mù u tỏa những làn khói xám xịt.
đèn biển mùa câu mực hàm tân Hôm đó dù mất một ngày đi rẫy nhưng tôi đã sống một ngày có ý nghĩa vì vợ tôi có một ngày thoải mái cùng vui vẻ với đồng nghiệp bạn bè, bà con trong thôn xóm. Riêng người cha như tôi thì được một ngày gần con. Người viết làm sao quên hình ảnh vợ tôi phải bỏ một ngày may bằng tay mấy tấc vải thun tiêu chuẩn, nhờ khéo tay nên cuối cùng cũng có cái áo mới để đi ăn đám cưới. Hình ảnh ngày trước, những chiếc áo dài trang trọng trong ngày cưới, thực sự biến mất vào năm đó. Áo quần đi ăn cưới được thế bằng những chiếc áo bà ba hay sơ mi kiểu nữ...
Lòng tôi còn ghi đậm mớ thịt heo, vợ tôi nhịn đi trong bữa tiệc cưới nhằm bới về cho chồng ở nhà. Đó là những lát thịt heo tôi ăn "ngon nhất trong đời" và sau đó cứ suýt xoa khen mãi. Con heo đen đó là cả một gia tài của một cô giáo vùng quê chắt chiu nuôi mập. Cả một ước mơ của dân áo vải quần thô, sắn khoai thay gạo. Những lát thịt heo ngày đó còn mang nặng tình nghĩa vợ chồng. Đó cũng là kỷ niệm không quên về một vùng kinh tế mới - nơi có mái trường rách nát tả tơi cùng đám học trò nghèo ngây thơ, thiếu thốn đến tội nghiệp!
Kỷ niệm một vùng quê nghèo tính thời gian bằng tuổi con gái tôi hôm nay. Thời gian trôi mau thật thấp thoáng mà đã ba mươi mấy năm qua! Hôm nay nhìn vào tủ lạnh trong nhà tôi, nó đầy ắp thức ăn! nhưng thực lòng tôi chẳng tha thiết ăn gì? Chợt nghiệm ra rằng khi qua được xứ Mỹ tôi chưa lần nào có được cái "cảm giác ngon lành" năm xưa từ mấy lát thịt heo trong ngày cưới cô Pho năm đó? Bao nhiêu hình ảnh cũ lần lượt hiện về...
Đóng lại cánh cửa tủ lạnh, không hiểu tại sao tôi lại buông tiếng thở dài?! Tôi thở dài cũng phải do tôi nghĩ giá như ngày đó nhà tôi chỉ có một phần nhỏ mạch sống như hiện nay thì đó quả thật là một "phép nhiệm mầu"!




No comments:
Post a Comment