Thursday, April 20, 2023

NỬA ĐÊM BIÊN GIỚI


TRƯỜNG SƠN -Quảng Trị 8/1974



     Không có người sĩ quan nào gần lính bằng người trung đội trưởng. Những thân phận cùng chung,  những chịu đựng cùng chung và cùng chung bao thiếu thốn từ quân số, quân nhu cho đến ngày cuối cùng giã từ đời lính ...

  nhớ về những người lính trung đội tôi đã nằm xuống 48 năm về trước 

ĐHL

***
Mẹ ơi, biên cương giờ đây
Trời không mưa nhưng nhiều mây
Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
Nghe gió rung cây đổ lá vàng
Sương xuống mênh mang ...(Anh Bằng)


    Mẹ ơi, biên cương giờ đây trời vắng quá. Con giờ đây đang ngồi dưới chiến hào. Con yên lặng nhìn bầu trời khuya vắng lặng, sương khuya ướt cả hai vai. Đêm đêm con nhìn những đóm sao khuya, ánh sao lấp lánh, từng là bạn. Có những khi con định huớng  phương nam xa vời nơi đó có gia đình mình đang nổi trôi vào và giờ không biết kiếm sống ra sao?

     Mẹ ơi, trời đêm miệt núi quê nhà sao lạnh lắm? Trong màn đen của đêm khuya nhưng thật ra là hồi hộp, căng thẳng. Từng phút giây qua đi trong canh khuya thanh vắng, con cố thức tỉnh, trấn áp cơn buồn ngủ trong người lắng nghe thật kỹ lưỡng từng tiếng động nhỏ trong đêm . Linh giác chực chờ hay phán đoán từng âm thanh rình rập đâu đó dưới chân chốt, trong lùm cây bụi rậm, những đe dọa lởn vởn đâu đây ? Mẹ ơi, có thể đó là những tiếng động của chiến tranh, của giành giựt,  cướp nhau từng mạng sống. Hàng đêm, chúng con trên chốt này là những người lính trận tiền đồn, mắt căng ra như muốn 'xé toang ' đêm đen dày đặc, rình rập, chết chóc.    

  Chúng con phải tính toán, gìn giữ từng vùng đất, lùm cây hay đỉnh đồi hoa lá. Trời khuya rồi, chúng con phải đổi gác cho nhau, chia sẻ nhau từng phút giây được ngủ, được quên đi những tháng ngày quạnh hiu trên Trường sơn biên giới mẹ ạ. Thỉnh thoảng con cố lắng nghe vài tiếng con tắc kè gõ nhịp trong những hóc cây hay đôi ba tiếng con mang nào đó rời rạc kêu lên trong đêm trường. Rồi nữa, con còn nghe tiếng chim  từ quy kêu mãi đêm trường.  Tiếng chim nghe "Bóp Bì Bóp" lạ làm sao?  Trong đêm dài tiếng chim kêu mãi cho đến khi ánh dương hé dạng mới thôi Ánh dương lên là điều con thường chờ đợi. Những người lính sẽ thở phào do  bớt được phần nào căng thẳng trong một đêm dài. Mặt trời lên cao, sẽ tỏa sáng khắp những đỉnh núi hiu quạnh, chơ vơ cùng trời mây im vắng. Quanh chúng con những đồi tranh kéo dài bất tận, những con suối dưới chân đồi im lìm, quanh co uốn lượn về tận vùng thấp dưới xa.

                        ĐÊM TRƯỜNG SƠN

 Đêm nay kỷ niệm chập chùng xa vời đang sống lại trong tim con, trong màn đêm biên giới. Giờ đây sau lưng con, khoảng xa vời kia giờ chỉ là một thành phố đổ nát hoang tàn còn ba mẹ và mấy em thì đang ở tận phương xa, đường dài hun hút. Con không biết giờ này trong nhà có ai đang nhớ đến con không? riêng con, đêm nay ngồi đây con nhớ nhà lắm mẹ ạ. Nhưng nhà còn đâu nữa để nhớ! ngày tháng ly hương bà con lôi xóm mỗi người mỗi ngả. Thế là từ ngày đó, người dân Quảng trị trở thành  biệt xứ.

   Xếp áo thư sinh bao nhiêu mộng ước con đành bỏ lại. Ôi Quảng trị, thành phố thân yêu ngày hai buổi đến trường. Bạn, thầy yêu dấu giờ chẳng còn ai trong những ngày ly loạn, Con quên sao được từng khuôn mặt thất thần, hốt hoảng của người dân mình ngày phải bỏ xứ mà đi, tứ tán khắp nơi!

  Mẹ ơi, mấy tuần nay trên vùng biên giới này con vẫn sốt trong người nhưng  con chưa về được.  Tóc con rụng nhiều. Mẹ ơi !  lúc này con biết đã mang chứng sốt rét trong người.  Người con gầy rọc đi, nhưng con chưa về được mẹ ơi ! chứng sốt vẫn hoành hành trong đơn vị.  Mà về đâu hởi mẹ? trong nam cả nhà mình đang trôi nổi lưu linh. Mẹ ơi, con từng gắng nấu sôi nước khe pha miếng sữa lấy sức trong người nhưng con vẫn luôn có cảm giác buồn nôn, trong mình lúc nào cũng hâm hẩm sốt!
 

   Đêm nay, từng phút giây con cố căng mắt nhìn vào màn đêm sâu thẳm phía trước.  Có tiếng côn trùng nào nỉ non rền rỉ, điệu nhạc buồn giữa chốn rừng khuya. Mẹ ơi, ngày kia con đã  phơi khô một đống cây rừng, rễ giống nhân sâm phơi khô để dành trên chốt tự bảo rằng cây 'thuốc bổ' (2)


             hình  bắc quân đang chiếm đỉnh Động Ô  Do đầu năm 1972

 
    Mẹ ơi! chúng con nơi này sống bên nhau, khổ bên nhau,  không than vản không phiền hà ai,  cuộc sống đơn giản đến mức cùng của đơn giản.  Chúng con từng sẻ chia nhau từng miếng ăn, từng điếu thuốc. Lam sơn chướng khí,  da mặt chúng con tuy đã đổi màu nhưng tình 
huynh đệ luôn nồng thắm. Mẹ ơi! nhìn anh em còn lại, nhớ những khi hẩm hút bên nhau  chan chứa tình  đồng  đội. Lính xa nhà , xa quê,  thì làm sao con chia tay mà về lại phía sau cho được?   Tình mẹ ngóng tin con ngày tháng phương xa con rất hiểu, nhưng nợ nước phận trai giờ đây giữa chốn biên thùy nên xin mẹ con chưa về được mẹ ơi./.


đinh hoa lư



(*)Lính sốt rét nhiều về bệnh xá diên sanh, thiếu lính nên phải gác 2 lần một đêm do thiếu quân số, tất cả trung đội trưởng trở xuống đều phải gác một đêm 2 lần, thiếu ngủ trầm trọng


              chim Từ Quy  
(1) Tiếng chim từ quy : thời gian này chính tai của dhl khi đứng canh ban đêm nghe tiếng chim từ quy gọi nhau rừng , nó kêu như vầy...bóp , bóp , bóp bì bóp , rồi lập lại như vậy mãi từ chập tối cho đến khi trời rạng là ngưng. Chim này sống từng cặp, kêu cho đến khi gặp nhau là trời sáng

(2) một giống cây có rể giống từng củ cà rốt,  chúng tôi gọi là 'SÂM RỪNG' , đem rễ cắt nhỏ phơi khô và nấu uống

MỘT KHOẢNG TRỜI XANH CHO TÔI NGỒI NHỚ THÁNG TƯ





   Lặng  ngồi vườn sau, tôi chăm chú cố tình ngước nhìn lên bầu trời xanh cao chợt thấy tâm hồn lâng lâng thật lạ?


Vẫn biết đây là bầu trời xứ Mỹ, nhưng nếu tôi không nói thì khó ai biết được? Trời là trời, nơi nào mà chẳng giống nhau. Tôi cứ thả hồn bay bỗng, cứ cho trên kia là bầu trời quê hương. Ngẩng đầu lên để ngắm một màu thanh thiên bất tử.  Trong khoảnh khắc, tôi đưa trí tưởng tượng về phương trời xa xưa nào đó...


MỘT KHOẢNG TRỜI XANH TRÊN CAO 


Ngày đó khi hạ về, có những ngày trời trong xanh, không một dáng mây. Mấy mươi năm sau, nửa đời người sau bầu trời này chẳng gì khác biệt. Hay trời hôm nay không một cánh chim hay một cụm mây la đà bay về tận chân trời góc biển nào đó.


Bầu trời trong xanh là cả một không gian vô tận, không còn biên giới cho tầm mắt. Từ ngày  bé dại cho đến khi tuổi xế chiều hay  mãi mãi sau này tôi tin nó là màu xanh bất diệt. Nắng tháng Tư về, dưới khoảng trời trong vắt, tôi tưởng tượng như có phép mầu thu mọi sự kiện từ khoảng cách tới thời gian về một điểm chung không còn ranh giới giữa xa-gần, xưa-nay, già-trẻ. Bầu trời xanh bất tận kia  bao hàm sự tự do tuyệt đối. Làn sóng phóng đãng của tư duy cùng trí tưởng tượng sẽ thắng được mọi cánh chim trời. Do loài chim dù tự do bay nhưng vẫn có ngày rã cánh. Đám mây trời nào mà tránh được tan loãng sau một hành trình la đà thênh thang?


Trí tưởng tượng của tôi chợt lan man, đầu tiên có một đoạn của bài thơ CHIỀU của thi sĩ Hồ Dzếnh:


Trên đường về nhớ đầy

Chiều chậm đưa chân ngày

Tiếng buồn vang trong mây

Chim rừng quên cất cánh

Gió say tình ngây ngây...


Tôi nhớ lõm bõm chỉ ngần ấy thôi trong bài CHIỀU của người thi sĩ. Chỉ vài câu nhưng lại có những cái đích của sự vật như con đường, cánh rừng, hay cánh chim và đám mây để người thi sĩ năm xưa đặt nỗi nhớ vào đó. Đúng thật, những sự vật gần gũi cho ta đặt niềm nhớ nhưng vào đó thật dễ dàng và rất nhạy cảm cho những tâm hồn hữu tình cùng thi vị. Ngày xưa người thi sĩ đã buồn nhờ vào một cảnh chiều trước mắt người lãng tử và bước chân phiêu du. Có thể cảnh chiều buồn đã giục chân viễn khách bước nhanh trên đường về cố quận.  Riêng mình tôi hôm nay chỉ được cái tự do là ngắm lên một bầu trời xanh để cố tìm, lục lọi trong quá khứ xa xưa có những khoảng trời xanh bao la bất tận của ngày xưa? Một ngày xưa tôi chỉ có vài lúc ở chốn núi rừng làm bạn với chim muông cây cỏ và có một bầu trời trong xanh những lúc trời quang mây tạnh.  Chỉ có cái khác với bài thơ  CHIỀU do hiện tại có nhiều lớp người cùng hoàn cảnh giống tôi, đường về cố quận chắc sẽ gập ghềnh vách núi, nói trắng ra là không còn nữa.


*

Qua đám lá mới thay mang màu huyết dụ, đỏ bầm của cây plum, một khoảng trời cao cho tôi ngồi đây để có vài ấn tượng hay suy nghĩ bâng quơ. Nếu trong khoảng trời xanh hôm nay, có đám mây nào đó đang thênh thang bay,  tôi có thể định nghĩa cho một tự do nào đó.


Bầu trời hôm nay rất quen, quen từ thuở nào ... có thể là thời lính chiến khi nhiều lứa trai như tôi cùng khoác màu áo trận. Lúc đó nói đúng ra là đúng nửa thế kỷ trước chúng tôi những người lính hay nghêu ngao hát.

 chỉ có đất là lạ, là điểm cho tôi biết sự khác nhau về nơi chốn xa và gần, quê mình và quê người. Tôi nhớ lời bài hát năm xưa- thời thanh niên, đúng ra là đời lính chiến...


Tôi ở miền xa,
Trời quen đất lạ
Nhiều đông lắm hạ,
Nối tiếp đi qua
Thiếu bóng đàn bà, ..(KẺ Ở MIỀN XA/ TRÚC PHƯƠNG)




Ngày đó, chuyện xa...dù sao cũng là tương đối. "Trời Quen Đất Lạ" cũng tương đối. Đó là khoảng cách giữa Tiền tuyến-Hậu Phương. Chỉ xa nhau ngần ấy thôi trong vài mươi cây số nhưng người lính chiến đã cảm nhận quay quắt sự trống vắng, thèm khát cùng nỗi nhớ ngất ngây và ước ao cháy bỏng...

Xin đối diện một lần bên tôi
Cho tôi yêu bằng hình hài đó không thôi
Đến với tôi, hãy đến với tôi
Đừng yêu lính bằng lời


 
 Đúng năm mươi năm qua kể từ ngày ra đơn vị, lại một lần nữa tôi có cơ hội ngước nhìn lên bầu trời cao và trong xanh và kỷ niệm một thời trai trẻ hiện về. Tuổi già ập đến nhưng tôi còn mừng do tâm trí giúp tôi biết sự khác nhau về nơi chốn, xa và gần, quê mình và quê người.  Bao "Kẻ Ở Miền Xa" trong một bài hát hay tâm sự cho bao lứa thanh niên, đúng ra là đời lính chiến thường nghe cùng lẩm nhẩm đến thuộc lòng. Bài hát đó hay thân phận làm trai, ra đi, chiến đấu, cuối cùng ngày chịu đựng một thiệt thòi thua cuộc cùng số phận  đất nước tang thương. 

Rồi nửa đời người qua nhanh. Bạn và tôi cùng bao biến đổi cuộc đời, xao xác cảnh biển dâu như sóng ba đào ập vào ghềnh đá rồi biển cũng lặng sóng êm, nhưng thời gian của năm thập niên, nửa cuộc đời, phù du như giấc ngủ ban trưa. Tôi lại nghĩ phải tự an ủi cho mình do tôi còn diễm phúc ngồi đây để ngắm một bầu trời thật xanh, quảng khoát và thật sự tự do. Trên cao kia là một sắc màu tuyệt đối nhưng chẳng có gì, sự vô vi mà giải thích của con người chẳng còn ý nghĩa.  Có thể đó là sự vô tận của vũ trụ, một thứ mà thời gian chẳng là gì cả. Một bầu trời xanh không là quá khứ và chẳng là tương lai, nơi sinh diệt, hơn thua, thắng bại, sướng khổ, nhục vinh ...tuyệt  đối chẳng có ý nghĩa nào.  Một vũ trụ đi mãi đến vô cùng, nơi tư duy của  con người nhỏ bé như tôi hôm nay vĩnh viễn chẳng bao giờ với được ./.

 

ĐHL

 NHỚ VỀ MỘT THÁNG TƯ

edition 20.4.2023

 

 

 

Tuesday, April 18, 2023

LÒ GẠCH NGÓI TRƯƠNG KẾ ĐƯỜNG LÊ HUẤN QUẢNG TRỊ XƯA

 

LÒ GẠCH NGÓI TRƯƠNG KẾ



    Chiếc xe  hàng (xe đò) từ Huế ra sẽ qua trạm kiểm soát Long Hưng rồi theo con đường mới đặt tên Lê Huấn để về bến xe Nguyễn Hoàng thị xã Quảng Trị. Mới vào đường Lê Huấn, nhìn qua phía trái chúng ta sẽ thấy một cái nhà lầu nằm trên một khuôn viên khá rộng và phía sau khu biệt thự đó chính là lò gạch ngói Trương Kế, nếu ai là người dân thị xã QT, đa số đều biết. 
Trước đó con đường này chưa có tên, sau này con đường mang tên cố Trung Tá Lê Huấn người tiểu đoàn trưởng của Trung Đoàn I đã hi sinh trong chiến dịch Hạ Lào. Thật vậy, chỉ có lò gạch ngói này và ngôi biệt thự làm khách trên xe mới để ý mà thôi. Lò đúc nằm sau nhường mặt trước cho chủ nhân xây căn lầu với kiến trúc tân thời hơn bên căn nhà ngói xây đã nhiều năm trước.

khu biệt thự trước Lò Gạch 

Toàn thành phố QT  hồi này xem chừng đa số đều dùng ngói gạch Trương Kế. Người mình hồi đó bình dị trong ngôn ngữ và cách gọi. Nếu sống trong thời này, người ta dùng nhiều tiếng như "Xưởng Gạch, Nhà Máy ..." vv để gọi tên. Người viết chỉ nhớ, hồi đó bà con mình chỉ gọi là "Lò Gạch..." vậy thôi.  Tiếng là Lò Gạch nhưng phía trước là nhà ở có cổng kín tường cao nên tôi chỉ ngó vô thôi.
Mà thật sự làm sao có công chuyện gì để phải xuống xe giữa đàng mà vô thăm lò này?
Dù sao tôi cũng biết những liếp gói móc nhà Ngoại tôi cùng bao nhiêu nhà khác đều làm từ đây. Nhà ngói móc phải có đòn tay rui mè mới móc ngói được. Có dịp lên mái nhà móc ngói mói thấy tên lò Gạch in trên từng tấm ngói ra sao?
Ngoài ra phải kể tới ngói âm dương tức là ngói liệt; kiểu này xưa hơn cũng do lò này đúc. Những căn nhà lợp ngói âm dương xưa hơn nhiều.
Dọc đường có những khu ruộng khai thác đất sét cung cấp cho lò gạch. Tại sao gạch viên lại ít chỉ có ngói là nhiều?
Thời này người ta đúc táp lô làm từ xi măng cát sạn vùa chắc vừa dày nhưng tốn kém hơn.
Xóm Cửa Hậu tôi có nhà Ông Dô làm thợ nề trong nhà con cái đều có thêm nghề đúc táp lô nên tôi còn nhớ.
Cát Sạn (sỏi) từ lòng sông Thạch Hãn. Thời này những thứ này từ lòng sông Thạch phong phú tưởng như vô tận- khác với thời này.
Trở lại cái Lò Gạch. Tại sao người viết nhớ đến nó. Trước tiên là hình ảnh một khu nhà biệt lập nhưng từa tựa một trang ấp nào đó của một phú gia. Ra đến ngoại ô gần Long Hưng Đại Nại nhưng có một biệt thự hay nhà lầu xây lên ở đây thì làm sao khỏi gây chú ý và ngạc nhiên cho hành khách ngồi trên xe đò Quảng Trị - Huế?
Những căn nhà ngói đỏ mới xây trong phạm vi thành phố QT dù sao cũng nhờ phương tiện này mới chống lại cái nóng Nam Lào. Nhà tranh không thể có ở thành phố nhưng những căn nhà lợp tôn mới là khốn khổ dưới sức nóng mùa hè và cái lạnh cắt da của mùa đông QT.
Đã bao năm ra đi; người QT ra đi và cái tên Lò Gạch Trương Kế cũng đi vào dỉ vãng.
Em gái tôi Đinh thị Hòa nay làm dâu của Họ Trương. Một chút tình thông gia quen biết khiến tôi viết vài dòng biết ơn một lò gạch đã góp phần xây dựng cho cái tỉnh Địa đầu Giới Tuyến một thưở nay xa lắc xa lơ.
Khu Định Cư Hội Yên sát Lò Gạch Trương Kế đều cùng chung số phận trong trận Chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972

Chiến sự  1972 thổi phăng tất cả. Cũng đồng số phận của Thánh Địa La Vang và cả Thành Phố Quảng Trị tất cả đều trở thành một đống gạch vụn thảm thương. 
Ôi chiến tranh sao quá đổ nát điêu tàn?! Người lính Thủy Quân Lục Chiến ngày Tái Chiếm có một phút giây đứng lại vị trí năm xưa bên cạnh cái lò Gạch Ngói này mà lưu lại một khoảnh khắc chạnh lòng cho Đất Mẹ.  Những đống hoang tàn trên một vùng đất Giới Tuyến có số phận một lò gạch chuyên lo chuyện DỰNG XÂY nhưng số phần đất nước đã định rồi người làm chuyện xây dựng cũng phải ra đi và cả cái lò kia cũng đành mất dấu.  Nếu một ai đo mai này trên đất dưới trời Quảng Trị nay là biển dâu thay hình đổi dạng và đắm chìm trong cảnh sống xôn xao hãy nhớ về ngày xưa Quảng Trị từng có một cảnh sống thanh bình và những lớp người đã RA ĐI biền biệt nay chẳng trở về./.

Đinh hoa Lư edition 27/7/2019
edit 18.4.2023
hình: Biệt thự lò gạch Trương Kế từ thập niên 1960 cho đến mút cuối cùng 1972


 viên ngói móc thời trước 1972 gia đình ông Trương Kế còn giữ làm kỷ vật (hình dưới)

NHÂN LOẠI TRẢ GIÁ RA SAO KHI LẤN SÂU VÀO SỨC MẠNH CỦA THƯỢNG ĐẾ


 SỨC MẠNH HẠT NHÂN TỪNG Ở TRONG SỨC MẠNH VŨ TRỤ 



Phản ứng hạt nhân của vũ trụ đã xảy ra từ xưa. 
Đối với mặt trời Cứ mỗi giây đồng hồ mặt trời 
biến đổi 600 triệu tấn hydrogen thành helium
 phóng thích một năng lượng khổng lồ mà chúng ta
không thể tưởng tượng nổi. 
Sức mạnh hạt nhân rõ ràng là sức mạnh của Vũ Trụ, nói khác đi là phép mầu của Thượng Đế.
NHƯNG?

KHI CON NGƯỜI ĐÃ LẤN SÂU VÀO THẾ GIỚI MẦU NHIỆM CỦA THƯỢNG ĐẾ VỀ "SỨC MẠNH VŨ TRỤ" ĐÓ LÀ SỨC MẠNH HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ PHẢI CHĂNG NHÂN LOẠI ĐANG PHẢI TRẢ GIÁ?




A BOMB ON HIROSHIMA CITY JAPAN 6/8/1945


Thưa bạn
Câu hỏi đó chỉ dành cho chúng ta khi bình tâm suy nghĩ.

PHẢI CHĂNG SỨC MẠNH HẠT NHÂN CHỈ NÊN NẰM TRONG TAY SINH LINH THUẦN THÁNH

Sự xâm phạm vào thế giới của hạt nhân nguyên tử trong lúc bản chất của loài người hay sự thật của thế giới nhân quần còn quá nhiều điều bất hảo. Thế giới bất lương đã từng bốc trần sức mạnh nhiệm mầu của hạt nhân nguyên tử một sức mạnh tầm vóc của vũ trụ mà thượng đế đã nắm quyền cai quản.

NHƯNG CON NGƯỜI ĐÃ VÀ ĐANG LẠM DỤNG NÓ

Hậu quả thảm khốc thứ hai này chắc chắn đã và đang giáng vào nhân loại những đòn trí mạng?

PUTIN đang dùng lá chắn hạt nhân nguyên tử để thôn tính và xâm lăng và y đang thành công trong việc sáp nhập các phần đất của Ukraine thành lãnh thổ của Nga.

Hiện nay Tây phương đang ngần ngừ trong việc chấp nhận Ukraine thành NATO trong lúc cuộc chiến đang xảy ra.
VẤN ĐỀ UKRAINE THÀNH NATO TỨC NHIÊN LÀ XẢY RA CHIẾN TRANH NGUYÊN TỬ VỚI NGA
RÕ RÀNG ĐỘC TÀI PUTIN TỪNG BƯỚC CHIẾN THẮNG KHI DÙNG SỨC MẠNH HẠT NHÂN LÀM TÊN LÍNH XUNG KÍCH MỞ ĐƯỜNG

THẾ GIỚI CHÚNG TA ĐANG VÀO THẢM HỌA KHI VŨ KHÍ HẠT NHÂN VÀO TAY CÁC TÊN ĐỘC TÀI HIẾU CHIẾN

Ngày PHÁN XÉT QUÁ GẦN khi các núi vũ khí hạt nhân ghê rợn đang nằm trong tay loại người ĐỘC TÀI GIAN TRÁ

Thế giới hiện tại đang lay hoay, hỗn loạn tâm trí do Putin tha hồ bắt nạt dọa dẫm nhân loại bằng VŨ KHÍ HẠT NHÂN mà sức mạnh dọa nạt của tên độc tài hiếu chiến này là CÓ THẬT
Bầu trời Đông Á có một bạo chúa là Kim Jong Un, hắn càng lúc càng có cơ hội thủ đắc vũ khí hạt nhân.
Thế giới nhân quần cuống cuồng lo sợ là có thật.
Cho đến nay, chúng ta tự hỏi BẢN CHẤT của nhân loại hay loài người nói chung có ĐỦ PHẨM CHẤT LƯƠNG HẢO để dấn sâu vào thế giới NHIỆM MẦU CỦA SỨC MẠNH HẠT NHÂN HAY CHƯA?

CON NGƯỜI LÀ TẠO PHẨM THIÊNG LIÊNG DO THƯỢNG ĐẾ SINH RA, Ý NGHĨA ĐÓ ĐANG MAI MỘT DẦN TRONG THỜI ĐẠI THÔNG MINH NHÂN TẠO, ROBOT VÀ CÁCH MẠNG VỀ GENE


Trí thông minh nhân tạo AI
do con người tạo ra nhằm dần dà lấy đi chức năng của hóa công. Những loài robot có tính năng giống người sẽ do con người tạo ra chúng có thể quan hệ xác thịt giống người sau khi có khả năng tư duy để tạo ra hàng loạt robot khác. Những loài robot biết giết người và tính toán để giết người trong quân sự cũng được sản xuất hàng loạt. Các nhà bác học đã cảnh báo trong tương lai robot sẽ chỉ huy và làm chủ con người.

Con người đã biết lợi dụng và kiến tạo ra sức mạnh vũ trụ trong vũ khí hạt nhân để thôn tính và giết chóc lẫn nhau; rõ ràng là một sự trừng phạt của thượng đế khi sức mạnh hủy diệt của nó đã thành hiện thực trong quá khứ và đe dọa nhân loại trong chiến tranh hiện nay.
Người ta ngợi khen và tự mãn về gene và di truyền học nhưng đã đạp đổ giới hạn của hóa công để tự tạo nên những sinh vật ngoại hạng chứ không phải là người. Có một loại người thời nay sinh ra chỉ là kết quả của một sự phối hợp hoàn toàn nhân tạo không nguồn gốc không do quan hệ trời ban giữa nam và nữ. Họ là ai? đó là giống người ngoại hạng đến từ một cõi u minh xa lạ? Rồi những con vật quái đản do con người tạo ra những con người robot sẽ xuất hiện chúng sẽ quái đản đến mức ngang tầm với "quan hệ nam nữ" mà Tạo Hóa ban cho con người.

Thế giới sẽ đi về đâu? Hãy nhìn sự gia tăng của giống người không nam chẳng nữ càng ngày càng gia tăng trong xã hội?
Có thể đây là sự trả lời của Thượng Đế.

KHI CÁNH CỬA NHIỆM MẦU CỦA TẠO HÓA đã bị nhân loại đạp đổ tự ý xông vào tự tung tự tác lạm dụng tự kiêu? Trong đó phải chăng loài người đã LẤN QUYỀN VÀ LẠM QUYỀN THƯỢNG ĐẾ VÀO HAI THẾ GIỚI DI TRUYỀN CÙNG HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ?

Putin đang dùng thanh kiếm hạt nhân làm mũi tiên phong đi đe dọa và xâm lăng nhưng thế giới dù chống cự đến đâu nay cũng đành bó tay trước núi vũ khí hạt nhân mà Nga đang thủ đắc. LHQ kêu gọi bao nhiêu cũng đành thúc thủ.
TOÀN CẦU ĐANG HỐI HẢ THỦ ĐẮC VŨ KHÍ HẠT NHÂN ĐÂY LÀ MỘT SỰ THẬT RẤT CAY ĐẮNG DO NHÂN LOẠI TỰ MÌNH RƯỚC HỌA VÀO THÂN
VŨ KHÍ HẠT NHÂN ĐANG BIẾN THÂN THÀNH CÁI 'VÒNG KIM CÔ' MÀ THẾ GIỚI KHÔNG TRÁNH ĐƯỢC ĐẾN TỪ LỢI THẾ SIÊU ĐẲNG CỦA TẤN CÔNG, TỰ VỆ CÙNG CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG VÀ CŨNG LÀ SỰ TỰ DIỆT CUỐI CÙNG
CHÚNG TA PHẢI CHĂNG ĐI ĐẾN KẾT LUẬN CUỐI CÙNG ĐÂY LÀ HIỂM HỌA CHẤM DỨT SỰ SỐNG CÒN CỦA TRÁI ĐẤT NẾU SỰ SA ĐÀ THEO VŨ KHÍ HẠT NHÂN CỦA LOÀI NGƯỜI KHÔNG CHẤM DỨT?
CÂU HỎI NÀY RẤT TO LỚN

KHOA HỌC KỸ THUẬT TIẾN LÊN ĐỈNH CAO CỦA THẾ GIÓI AI VÀ ROBOT HÓA MỌI SỰ PHẢI CHĂNG LÀ THIÊN ĐÀNG HẠ GIỚI?

CÁCH MẠNG về khoa học kỹ thuât và phát triển vật chất nhưng khi nhân loại còn thui chột về đạo đức cùng triết lý nhân sinh thì sẽ đem lại khủng hoảng.

Hậu quả này không từ ngoài vũ trụ đưa lại cho con người mà do nhân loại tự tạo lấy.

Nhất là lúc SỨC MẠNH HẠT NHÂN HAY SỨC MẠNH VŨ TRỤ LẠI LỌT VÀO TAY BỌN ĐỘC TÀI BẤT HẢO ./.


ĐHL


Sunday, April 16, 2023

HỒI KÝ ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN- SỰ Thật về LỜI ĐỒN VNCH 'THẢ BOM NGUYÊN TỬ' TẠI MẶT TRẬN XUÂN LỘC



Đại Tướng Cao Văn Viên sanh ngày 11/12/1921 Tại thành phố Vạn Tượng , Lào Quốc. Gia cảnh Vợ và 4 con, Ông có bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp tại  trường  Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn.

- Tốt nghiệp Trường Quân Sự Cap Saint Jacque ( Vũng Tàu ) năm 1949

- Tốt nghiệp Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp, Forth Leavenworth, Hoa Kỳ

- Chứng Chỉ Nhảy Dù QLVNCH

- Chứng Chỉ Phi Công KQVNCH

- Chứng Chỉ Nhảy Dù Quân Lực Hoa Kỳ

- Chứng Chỉ Phi Công Trực Thăng Hoa Kỳ


***


THẢ BOM Ở ĐỘ CAO 

Trong những tháng cuối của cuộc chiến, BTTM (Bộ Tổng Tham Mưu) xử dụng phi cơ vận tải C-130A vào cuộc dội bom chiến thuật để thay vào hỏa lực của chiến đấu, oanh tạc cơ không hoạt động hữu hiệu được vì hỏa lực phòng không của địch. C-130 có thể chứa được 8 kiện hàng, mỗi kiện hàng chứa bốn thùng dầu phế thải. C-130 được hướng dẫn đến mục tiêu bằng máy truyền tin và thả những thùng dầu phế thải này từ độ cao 15 đến 20 ngàn bộ (5 đến 7 cây số).  Chu vi sát hại của những thùng dầu này có đường kính 150 đến 450 mét.


C-130A QLVNCH

    C-130 cũng có thể chở 32 trái bom loại 250-500 cân, hay 21 bom 750 cân, trên tám kiện hàng. Bom cũng thả từ cao độ 15-20 ngàn bộ. Binh sĩ ở mặt trận rất phấn khởi khi chứng kiến những cuộc dội bom đó. Họ gọi là "mini-B-52," hay "B-52 Việt Nam." Sau phi vụ đầu tiên thả xuống chiến khu C ở Tây Ninh, dân quân tưởng đó là B-52; lời đồn không quân Hoa Kỳ trở lại Việt Nam lan truyền ra nhanh chóng.

           Gần những ngày tàn của cuộc chiến, cộng sản tụ quân, và thiết lập các căn cứ hậu cần ngụy trang rất sơ sài, dễ quan sát từ trên không. Đây là những mục tiêu tốt cho vũ khí chiến lược có sức tàn phá mạnh. Cuối tháng 2, 1975, qua những lần viếng thăm Saigon của thứ trưởng quốc phòng Eric von Marbod và đại tướng Weyand, BTTM xin Hoa Kỳ cung cấp cho Việt Nam những loại bom chiến lược không quân có thể xử dụng được. Loại bom Hoa Kỳ cung cấp cho Việt Nam là bom có phiến danh "Daisy Cutter,"nặng 15 ngàn cân. Không quân Hoa Kỳ dùng bom này để phá rừng, làm bãi đáp trực thăng cho cuộc chiến. Hoa Kỳ hứa gởi cho 27 quả bom và chuyên viên huấn luyện xử dụng bom trong vòng một tuần.


        Giữa tháng 4, ba trái được chở đến, và cuối tháng 4, thêm ba trái nữa. Một chuyên viên Hoa Kỳ đi theo để hướng dẫn không quân Việt Nam gắn ngòi nổ và cách vận chuyển bom trên phi cơ. Nhưng người phi công HOa Kỳ có trách nhiệm lái máy bay thả bom thì không đến. Trong tình trạng khẩn trương của chiến trường--và sự nguy hiểm khi phải chứa loại bom này ở phi trường Tân Sơn Nhất hay Long Bình, BTTM và bộ tư lệnh Không Quân quyết định chọn một phi công kinh nghiệm cho nhiệm vụ thả bom. Chiếc C-130 và quả bom "Daisy Cutter" cất cánh vào lúc nửa đêm nhưng sau hai chục phút lại hạ cánh. Các sĩ quan không quân hữu trách và Bộ TTM vô cùng lo sợ cho tai nạn xảy ra khi phi cơ hạ cánh với quả bom còn trên phi cơ. Tuy nhiên phi cơ quay về vì một lý do kỹ thuật nhỏ. Phi cơ cất cánh lại sau ba mươi phút.


bom Daisy Cutter dùng phá rừng
hình 1 trái Daisy Cutter bom

        Vào một giờ sáng phi cơ thả trái "Daisy Cutter" đầu tiên cách Xuân Lộc sáu cây số về hướng Tây Bắc. Thành phố Xuân Lộc bị rúng động như gặp động đất; tất cả đèn điện bị tắt, và truyền tin của địch ngưng hoạt động--bộ chỉ huy sư đoàn 341 CSBV bị tiêu hủy. Tinh thần binh sĩ VNCH phẩn khởi. Tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh sư đoàn 18 BB ở mặt trận Xuân Lộc hỏi, "BTTM còn nhiều loại bom đó không?" Tin đồn loan truyền nhanh ngoài quần chúng là chúng ta đang được trang bị bom nguyên tử. Cộng Sản Bắc Việt lên tiếng nguyền rũa VNCH và Hoa Kỳ đã xử dụng vũ khí tàn phá chiến lược. 

        Dùng bom phá rừng "Daisy Cutter" đánh vào các điểm tập trung quân của địch có kết quả tốt: tinh thần chiến đấu của ta phấn khởi. Nhưng vì thiếu nhiên liệu, ít bom, và khó khăn về bảo trì, sửa chữa, nên không quân chỉ bay được từ hai cho đến bốn phi vụ C-130 mỗi ngày.

        Trong cuộc tổng tấn công của cộng sản năm 1972 chúng ta cũng bị thiệt hại nặng, nhất là ở Vùng I. Nhưng lúc đó BTTM có thời gian và phương tiện để bổ xung và củng cố lại tất cả các đơn vị bị thiệt hại. Và chỉ sau một tháng quân đội chúng ta sẵn sàng chiếm lại các phần đất mất vào tay địch. Chúng ta có được thời gian ở chiến trường vì có được trợ giúp của không lực chiến thuật của Hoa Kỳ, nhất là pháo đài bay B-52. Không nhờ các cuộc oanh tạc không ngửng của pháo đài bay yểm trợ quân ta, chúng ta chắc không giữ nổi KonTum hay An Lộc. Trong thời gian đó, B-52 được sử dụng đều đặn gần như phi cơ chiến thuật yểm trợ tiếp cận.

        Trong khi ngoài chiến trường pháo đài bay B-52 cung cấp hỏa lực khủng khiếp, ở hậu phương vận tải cơ C-130, C-5, C141, hay C-130 chuyên chở vũ khí và quân cụ tiếp viện cho quân ta ngày đêm liên tục. Vào năm 1972 chúng ta không thiếu bất cứ gì--từ tiền cho đến vũ khí. Quân đội chúng ta lúc đó không lo về thiếu thốn; họ chỉ lo làm sao nhận và chuyển đồ ra mặt trận đúng theo lịch trình tiếp tế mà thôi.

        Nhưng năm 1972 là một tương phản rất xa so với năm 1975; thay vào chỗ của pháo đài bay B-52, chúng ta chỉ còn được một trái bom 15 ngàn cân; vũ khí và quân cụ phải biến chế xử dụng. Đến giữa tháng 4, 1975, chúng ta đã xài hết quân dụng, vũ khí tồn kho, vào việc tái trang bị các đơn vị di tản từ hai Vùng I và II. Đến giờ phút muộn màng đó , dù chúng ta có nhận được 300 triệu mỹ kim viện trợ đi nữa, tình hình đã quá trễ.


Cao Văn Viên 

nguồn 

Sách

Cao văn Viên. Những Ngày Cuối Cùng của Việt Nam Cộng Hòa. 1st Ed. Nhà Sách Văn Bút Westminter, 2003 (trang 201-203)


Saturday, April 15, 2023

Mark Moyar- CAY ĐẮNG CỦA TÁC GIẢ TỪNG VIẾT RA SỰ THẬT CỦA CHIẾN TRANH VIỆT NAM TRONG CUỐN CHIẾN THẮNG BỎ QUÊN

 



CUỘC CHIẾN VN ĐÚNG RA HOA KỲ VÀ ĐỒNG MINH ĐÃ CHIẾN THẮNG  


TT Lyndon B. Johnson và Ngoại Trưởng Dean Rusk 


NHỮNG KHÁM PHÁ BẤT NGỜ


Từ năm 1990 tôi (Mark Moyar) đã quan tâm khảo sát về cuộc Chiến tranh Việt Nam lúc tôi là sinh viên về Khoa Lịch Sử về Chiến Tranh Thế Giới (xung đột thế giới). Có vấn đề thu hút tôi nghiên cứu về với chủ đề này đến từ tâm lý khinh miệt của các đồng nghiệp, giáo sư và kể cả giới trí thức nói chung không chỉ dành cho chiến tranh mà còn dành cho các cựu chiến binh trở về từ cuộc chiến. Riêng đối với tôi, tôi cho rằng đó quả là một lỗi lầm sâu sắc khi cho rằng những thanh niên Hoa Kỳ từng ra đi và liều mạng ở chiến trường Đông Nam Á lại bị coi khinh là kém xứng đáng hơn những người đã sống ru rú cùng an vui ở nhà.

Vấn đề thứ hai làm tôi phải đào sâu nghiên cứu do thói thường phần đông người ta cứ cho là Cuộc Chiến VN không bao giờ có thể thắng được. Theo biên khảo của nhiều sách vở lịch sử dòng chính, Hoa Kỳ không bao giờ có thể chiến thắng trong cuộc chiến do người Cộng sản Việt Nam luôn cống hiến hi sinh và sự hi sinh đó  được cho là vượt trội hơn nhiều so với các đồng minh Nam Việt Nam của Hoa Kỳ. Cũng vì lý do đó, nên không thể có chiến lược thay thế hay hơn nào có thể đạt được thành công trong cuộc chiến, và do vậy người Mỹ đã phải từ bỏ VNCH sau khi chịu thương vong và tổn thất quá lâu dài.

    Lên Cao Học, khi tôi tiếp tục theo đuổi nghiên cứu về Chiến Tranh Việt Nam, tôi bắt đầu đặt câu hỏi về cả hai điều trính bày trên. Tôi đào sâu vào những kẽ hở sâu xa của cuộc chiến, từ đó tôi đã thu được vô số thông tin chưa được khai thác về một hướng nghiên cứu khác. (Tôi có được nhiều khám phá phong phú hơn đó là nhờ Merle Pribbenow, một nhà ngôn ngữ học nghỉ hưu, ông đã tìm tòi và dịch rất nhiều tài liệu và lịch sử từ phía miền bắc VN.) Những nguồn tư liệu của miền Bắc  đã làm sáng tỏ thêm những tranh luận bao lâu nay. Các tư liệu mới cho thấy miền bắc thật ra đã lãnh đạo các cuộc “kháng chiến” tại miền Nam Việt Nam ngay từ những ngày đầu tiên dù Hà Nội từng  thuyết phục và tuyên truyền cho phương Tây cả tin rằng kháng chiến đó chỉ là ‘phong trào địa phương’ thuần túy. Họ cũng bác bỏ quan điểm mà ai cũng tin là chính phủ VNCH rõ ràng từng quay cuồng về mặt quân sự sau thời điểm Ngô Đình Diệm bị ám sát vào tháng 11 năm 1963.

    Có những khám phá khác đó là kết quả nghiên cứu thêm các khía cạnh bị bỏ quên cho đến nay của cuộc chiến đó. Chẳng có nhà sử học nào trước đó đã xem xét chi tiết những gì diễn ra trong ván cờ “domino” lân cận khi Lyndon Johnson đưa ra quyết định định mệnh vào năm 1965 là đưa bộ binh Hoa Kỳ vào miền nam VN. Trên thực tế, ở Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Úc, Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore, các nhà lãnh đạo chống Cộng đã cảnh báo trước rằng sự sụp đổ của VNCH sẽ khiến tất cả các quân domino Đông Nam Á sụp đổ theo. Họ đã đề nghị đưa quân vào cuộc chiến với mục đích chống lại chủ nghĩa CS. Đột nhiên, lý thuyết domino đó xem ra có vẻ hợp lý hơn nhiều.


CHIẾN THẮNG BỎ QUÊN


Khi tầm rộng của lãnh thổ  trở nên rõ ràng, tôi đã dự kiến và hoàn thành BA TẬP về Chiến Tranh VN. Tập thứ Nhất- kể từ năm 1954 đến năm 1965, tôi đã mất bảy năm để hoàn thành. Tập thứ NHẤT này có tiêu đề “ CHIẾN THẮNG BỎ QUÊN Triumph Forsaken”, nó nhanh chóng  bị xem là ‘CHỦ NGHĨA XÉT LẠI’. Lý do,  ý nghĩa của tập này căn bản nó thách thức tính chính thống đang ngự trị nước Mỹ. Phải kể ra đây, nó đi cùng với một số ít sách khác trong danh mục đại loại như  A Better War” của Lewis Sorley và “Dereliction of Duty” của H. R. McMaster.

Cuốn Triumph Forsaken cho chúng ta hay rằng Hồ Chí Minh là một người Cộng sản có học thuyết Cộng Sản. Giống như các đồng minh Liên Xô và Trung Cộng,  ông ta là biết tuân thủ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin  rằng những người Cộng sản nên hợp tác trong việc truyền bá cách mạng thế giới. Vào thời điểm TT Lyndon B. Johnson quyết định đưa bộ binh tham chiến  tại miền nam Việt Nam, Hồ chí Minh và đồng minh CS đã gần đạt được mục tiêu là biến toàn bộ Đông Nam Á thành Cộng sản, và rất có thể họ đã thành công nếu Hoa Kỳ không ra tay kịp. Sự can thiệp của Hoa Kỳ đã tạo ra khả năng làm tiên đề cho một cuộc đảo chính chống Cộng sản ở Indonesia và sự tự tàn phá của Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, đồng thời giúp các quân cờ domino châu Á khác tăng cường khả năng phòng thủ.


Đại Sứ Mỹ Henry Cabot Lodge và TT Ngô Đình Diệm tháng 8 năm 1963

SAI LẦM TỪ MỘT TỔNG THỐNG CHO ĐẾN ÔNG ĐẠI SỨ

 Tôi (Mark) cho rằng chiến tranh không chỉ cần thiết mà còn có thể chiến thắng bằng các quyết định chiến lược tốt hơn thế. Sai lầm nghiêm trọng nhất là quyết định của đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam đó là ông Henry Cabot Lodge người đã xúi giục đảo chính lật đổ chế độ ông Ngô Đình Diệm, làm sụp đổ bộ máy an ninh VNCH và  gián tiếp giúp Bắc Việt bắt đầu  tiến hành cuộc xâm lăng to lớn vào miền Nam. Có thêm một sai lầm khác, quyết định của TT Johnson không đưa lực lượng bộ binh Mỹ vào Lào để chặn Đường mòn Hồ Chí Minh, một động thái quá thiếu thông minh do điều đó có thể làm thay đổi cục diện cuộc chiến và giảm nhu cầu về lực lượng Mỹ tại miền nam.

Cuốn sách Triumph Forsaken đã tạo ra nhiều cuộc bàn tán, thảo luận đáng kể trong giới học giả, bao gồm một lượng lớn phản hồi, “ Chiến Thắng Đã Thấy”. Có một số thảo luận mang tính xây dựng, nhưng phần lớn trong số đó tẩy chay, nhỏ nhặt, thậm chí là nói xấu với người khác. Có điều đặc biệt khi chuyện này đến tai các cựu chiến binh thuộc phong trào phản chiến cùng những người được họ bảo trợ. Mặc dù một số ít giáo sư hoan nghênh, có không ít thách thức chứng minh rõ ràng đối với tầng lớp hiểu biết nông cạn, thì cuốn sách đó chỉ nhận lại sự thù địch tập thể của số đông và kết quả gây thất bại cho tôi nộp đơn xin vào làm một vị trí giảng viên hàn lâm viện đều bị chống phá gay gắt.

Tôi nói ra sự thật này không phải để được CHO NHẬN  vào tầng lớp nạn nhân ngày càng nhiều của Hoa Kỳ - những bất hạnh của tôi với giới học giả lại dẫn đến may mắn bất ngờ là được vào dạy những sinh viên xuất sắc tại các trường đại học quân sự của Hoa Kỳ để tiến hành nghiên cứu về các chủ đề quân sự cần thiết và cấp bách nhất. Thay vào đó, nó chỉ ra những mối nguy hiểm đối với xã hội của một học viện bị chính trị hóa. Khi một nghề chứng minh rằng biết phát triển dựa trên những ý tưởng mới và tranh luận thay vì tẩy chay những người đưa ra những quan điểm chính thống nhất định, thì nó không bao giờ tước đi cơ hội tiếp cận của sinh viên với những suy nghĩ nghiêm túc và sẽ không khuyến khích phần còn lại của xã hội phớt lờ nó. Cách duy nhất để có kết quả tốt đẹp trong nghiên cứu quân sự là chứng tỏ rằng nó cởi mở với những thách thức và  sẽ xem xét nghiêm túc những ý tưởng mới.

Thách thức trong các quan điểm chính thống xung quanh Cuộc Chiến Việt Nam ngày nay cũng có vai trò cần thiết hơn bao giờ hết. Khi tôi làm cố vấn nghiên cứu quân sự tại  Afghanistan, Iraq và các vùng xung đột khác, tôi đã thấy các chính trị gia, sĩ quan quân đội, nhà báo và nhà khoa học chính trị tìm cách áp dụng các bài học của Cuộc Chiến Việt Nam. Càng khảo sát, tôi càng tin rằng họ hiểu biết khá hời hợt về lịch sử chiến tranh đó. Thêm vào đó, họ tỏ ra phụ thuộc quá nhiều vào lý thuyết học thuật cũ từng  mang lại cho họ những kinh nghiệm tệ hại sai lầm -  những kinh nghiệm chiến tranh sai lạc càng mang tới nhiều cái chết cho đàn ông và đàn bà, thậm chí có thể thua cuộc trong cuộc chiến tranh mới.

Thực tế trong nghiên cứu gần đây, tôi tập trung vào các sự kiện lịch sử của năm 1967, trong chiến tranh VN và tôi đã đưa ra ánh sáng những điều mới mẻ, quan trọng trong các cuộc hội luận tại Hoa Kỳ các tác động quyết định do chiến tranh mang lại. Trong số những sự kiện lý thú và hấp dẫn nhất của năm 1967 là sự hối tiếc của chính quyền Johnson  khi Johnson quyết định không tạo ra sự tìm cách thảo luận công khai trong nước để tạo ra làn sóng hay phong trào ủng hộ cho cuộc chiến do sự cần thiết của cuộc chiến đáng cần phải có. Các quan chức Hoa kỳ giờ đây mới nhận thức rằng sự thiếu nhiệt tình của công chúng đối với cuộc chiến càng khuyến khích đối phương tin rằng Hoa Kỳ cuối cùng sẽ từ bỏ đồng minh, và do đó Bắc Việt Nam không có lý do gì để bỏ cuộc.


MỘT CUỘC CHIẾN KHÔNG THỂ CHIẾN THẮNG NẾU NGƯỜI DÂN HOA KỲ KHÔNG BIẾT VÀ KHÔNG CẦN BIẾT LÀ ĐANG CÓ CHIẾN TRANH


Cố ngoại Trưởng Dean Rusk nhận xét vào tháng 10 năm 1967 rằng, “Chính phủ đã đưa ra một quyết định có chủ ý là không tạo ra tâm lý chiến tranh ở Hoa Kỳ…” bởi vì nó “quá nguy hiểm cho đất nước Hoa Kỳ ” Johnson, Dean Rusk và các quan chức khác đã lo sợ rằng cơn sốt chiến tranh sẽ làm suy yếu các chương trình nội địa như Chương Trình Great Society và làm gia tăng căng thẳng với Liên Xô. Nhưng rồi, Ông Rusk thừa nhận, “có thể đây là một sai lầm; có lẽ sẽ tốt hơn nếu thực hiện các bước để xây dựng ý thức về một quốc gia đang có chiến tranh.”

    Suốt năm 1967, các cố vấn tại Bạch Ốc và các nhà lãnh đạo nước ngoài đã nhiều lần thúc giục TT Johnson thay đổi hướng đi, nói với công chúng Mỹ lý do tại sao Hoa Kỳ có mặt tại miền nam Việt Nam và những gì họ đang cố gắng đạt cho được. Nhưng TT Johnson không thể tự mình làm điều đó, ngay cả khi ông ngày càng nhận ra những hậu quả tai hại của sự im lặng của ông. “Nếu lịch sử buộc tội chúng ta vì sự kiện Việt Nam,” TT Johnson thừa nhận vào mùa thu 1967, “thì do tiến hành một cuộc chiến mà không cố gắng khơi dậy lòng yêu nước.”

Trong trường hợp thiếu sự cổ vũ khởi xướng của tổng thống, sự ủng hộ của công chúng Hoa kỳ đối với chiến tranh VN đã giảm sút trong suốt năm 1967. Như các quan chức chính quyền từng lo sợ, sự suy yếu quyết tâm của Mỹ lại củng cố quyết tâm kiên trì của Bắc Việt. Hà Nội rõ ràng đã từ chối mọi lời đề nghị đàm phán hòa bình của Mỹ, CS Hà Nội dự đoán rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân sắp tới sẽ phá hủy những gì còn lại của ý chí người dân Hoa Kỳ.

Nói cách khác, việc công chúng quay lưng lại với chiến tranh VN là điều không thể tránh khỏi; đúng hơn, đó là kết quả của sự thất bại của các nhà hoạch định chính sách trong việc giải thích và thuyết phục người dân Mỹ ủng hộ nó.

Nửa thế kỷ sau, hôm nay với việc đất nước Hoa Kỳ đang vướng vào hai cuộc chiến tranh khác biệt, kéo dài và khả năng những cuộc xung đột khác có thể bùng phát bất cứ lúc nào, Chiến Tranh VN  là một bài học mà các nhà lãnh đạo hiện tại của chúng ta nên ghi nhớ.

Mark Moyar

ĐHL Dịch thuật và tựa đề 

Mark Moyar, giám đốc Trung tâm Lịch sử Quân sự và Ngoại giao, là tác giả của cuốn sách “Oppose Any Foe: The Rise of America’s Special Operations Forces” và “Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954-1965.”

 Nguồn

Opinion | Was Vietnam Winnable? - The New York Times (nytimes.com)

CHỞ CON ĐI THI

 kỷ niệm của người cha, ngày đầu qua Mỹ Đinh trọng Phúc Chiếc xe wagon buick 'cà tàng' của tôi theo Freeway 101 đi quá phi trường Sa...