Friday, April 28, 2023

BỎ LÀNG RA ĐI

Bỏ làng ra đi, Bỏ làng ra đi
Đem theo những trái tim đau với đôi dòng lệ máu

Bỏ làng ra đi, Bỏ làng ra đi
Đem theo tóc trắng mẹ yêu đôi bàn chân ốm yếu
Đem hương khói với khăn tang phận buồn nơi đất lạ
Đem theo tiếng ru trưa đong đưa sầu nhịp võng nhớ
Đem theo mây trắng
Đem theo ánh nắng sưởi ấm lòng người xa quê
Những ngày dài trong mê...

(Nhạc Phạm thế Mỹ) 

*

    Tháng Tư và Đại Lộ Kinh Hoàng là dấu ấn 

đau thương mà đa số người Quảng Trị đều mang trong lòng một ký ức khổ đau da diết. Qua hơn nửa thế kỷ rồi nhưng ai ai cũng còn nhớ, còn đau chung một niềm uất hận; dù cho đến lúc nhắm mắt tàn hơi cũng không thể nào quên một đoạn đường đầy tang thương máu lệ. 


cầu Đông hà cháy liên tục 4 ngày sau khi bị giật sập vào ngày 6/4/1972

Đó là lúc khởi đầu với hình ảnh chiếc cầu Đông Hà 

bắc qua dòng MIÊU GIANG rung rinh sụp đổ. 

Đó là  những  ngày tháng của tháng Ba tháng Tư 

đánh dấu người dân Giới Tuyến cất bước 

NAM HÀNH  trong một bản trường ca

  ĐAU THƯƠNG, BI HẬN ...




cảm xúc theo bản nhạc Bỏ Làng Ra Đi của NS Phạm thế Mỹ 

Bỏ làng ra đi, Bỏ làng ra đi
Thương sao mái lá thân yêu xé tan trong lửa khói

Bỏ làng ra đi, Bỏ làng ra đi
Thương sao mái ngói rêu nâu ngôi trường xưa bóng mát
Thương sao dáng bước trâu non cánh diều cao gió lộng
Thương sao tiếng hát đưa đò trên dòng sông xanh sóng
Thương sao nương lúa
Ôi sao thương quá, thương những gì của dân tôi
Những gì của quê tôi...

(Phạm thế Mỹ)



Đó là những ngậm ngùi cho bao tâm hồn Quảng Trị 

vẫn mãi tiếc nhớ khôn nguôi nơi "chôn nhau cắt rốn"

cả một trời kỷ niệm đầy luyến thương dấu ái. 

Còn đâu nữa bụi tre làng phất phơ theo gió chiều 

như tiễn người đi nhưng chẳng hẹn ngày về. 

Cố ngoái lại sau chỉ mịt mờ khói súng, mái nhà tranh

 bập bùng trong ánh lửa chiến tranh.

 Ôi biết bao bàn chân chai sạn, bao đôi vai gầy theo nắng sớm

 sương chiều, cả đời cày sâu cuốc bẩm nay phải đành

 đoạn chia ly quê hương thương mến.

Năm thập niên, ôi thời gian trôi mau và lạnh lùng quá. 

Quê hương dấu yêu vẫn còn dòng sông Thạch  lặng lờ  trôi 

qua bến cũ  chờ đợi người về

Nhớ làm sao bao chuyến đò ngang từng chở khách 

một thuở thanh xuân.

 Nay người đi chẳng mấy ai trở lại.

 Bến cũ về, lác đác vài ba kẻ bạch đầu.

Nửa thế kỷ trôi đi sao quá lạnh lùng.

 Một nửa đời qua, tưởng chừng giấc mộng nam kha.

 Ra đi một thời son trẻ, thăm cố hương nay lưng còng 

tóc bạc; một đời người thấm thoắt đó đây,

 chẳng khác chi một lần trở gối?

 Đất nam phương, còn mấy ai ôm mộng,

 dệt vần thơ luyến thương hay đau xót cho ai xuôi tay

 nơi chốn quê người.

Đây Đại Lộ Kinh Hoàng Gieo Lắm Cảnh Bi Thương

 Muôn Thuở Không Nguôi Niềm Tủi Hận.


Nọ Dòng Sông Bến Hải Khơi Bao Nguồn Sóng Gió 

Ngàn Thu Luống Chạnh Nỗi Chia Ly.

*

Tháng 4 và Tháng 4... người QT ra đi từ độ đó đã 

năm mươi lần ngồi nhớ Tháng Tư. 

 Một đoạn đường của máu lệ tang thương.



CON ƠI!!!

Những gánh những gồng tang thương, 

bao xác dân lành vỡ tan trong tiếng đạn. 

 Một khúc đường, dập dờn trong khói súng.

 Mẹ ôm xác con. 

Thảm thiết biết bao! bao tiếng khóc ai oán, 

hãi hùng giữa tiếng pháo vang rền...


Bao giọt nước mắt của Tháng Tư Bi Đát; 

bao oan hồn người QT vẫn quyện trong lòng cát trắng 

trên một đoạn đường quê hương? 

Chỉ một đoạn đường, nhưng oan khiên chẳng bao giờ

 rửa sạch? 

Chỉ một đoạn đường nhưng lắm tiếng khóc tỉ tê 

đắm chìm trong tiếng kèn reo vang thắng trận?



Thiếu tướng CSVN Nguyễn Văn Côn, Tư lệnh Binh chủng 
Pháo binh thừa ủy quyền của Chủ tịch CSVN 
trao bằng chứng nhận danh hiệu Anh hùng LLVT
 nhân dân tặng Trung đoàn Pháo binh 38- Bông Lau 
một trung đoàn nhận nhiệm vụ pháo và giết đoàn dân
 di tản trên Đại Lộ Kinh Hoàng 


Hỡi miền bắc "máu đỏ da vàng"! 

hỡi những cán binh của Trung Đoàn Pháo Bông Lau!


VINH QUANG GÌ CHO MỘT THÁNG TƯ?

Hỡi! sông xanh núi biếc, Hởi! phố mới người vui
Bao giờ chưa trở lại
Ngôi làng xưa phố cũ, Lòng tôi chưa được vui
Dẫu mắt em sáng ngời, Với bầu trời trong mới

Hỡi ! Con trâu bó lúa, Hởi! Nhánh bí hàng cau
Mai nầy tôi trở lại,
Dẫu làng xưa đổ nát, bàn tay tôi còn đây
Với trái tim chưa già. Ôi, ngày về bao xa...


Trời phương nam, người Quảng Trị có nhiều lúc

 chạnh lòng

 nhớ về quê cũ. 

Lòng đau đáu thương bờ tre đám ruộng. 

Cánh chim chiều lẻ bạn nhớ kẻ đi xa.

 Kẻ thị thành nhớ con phố cũ, từng góc hẻm

 thân quen. Người học trò nhớ thầy, thương bạn,

 hình ảnh mái trường ấp ủ biết mấy mộng mơ, 

hoài bão...

 Nói sao cho hết đoạn trường của người Quảng Trị?


Bỏ làng ra đi, Bỏ làng ra đi
Đem theo tiếng nói quê hương với con tim còn nóng

Bỏ làng ra đi, Bỏ làng ra đi
Đem theo áo cưới năm xưa cho hồn bớt mênh mông
Đem thương nhớ xoá cơn mưa kinh trời cao đất rộng
Cho tôi thấy đêm ru vạn trăng cài trên phố mới
Cho tôi cơm áo
Cho tôi vui sống, cho hận thù rời xa tôi
Thanh bình về quê tôi

(nhạc Phạm thế Mỹ)


Quảng Trị ơi! năm mươi năm- nửa thế kỷ đoạn trường- 

tình dân tộc nghĩa đồng bào vẫn mãi làm cho con tim

 chúng ta đau nhói để

 cùng NHỚ THƯƠNG và KHÓC VỀ MỘT THÁNG TƯ MÁU LỆ

 Một tháng Tư đầy oán hờn cùng mỉa mai thay 

cho bốn chữ 'máu đỏ da vàng' 

khi một tập đoàn đảng trị cùng những con người giấu mặt 

vẫn lặng im để bao oan hồn còn vương vấn 

mãi chưa thôi./.


những nấm mồ ở lại bên Đại Lộ Kinh Hoàng Trong đợt tái chiếm Cổ Thành được thanh niên thiện chí và báo Sóng Thần thu dọn chôn cất 


nhớ QT và Đại Lộ Kinh Hoàng 

ĐHL editon 50 NĂM tháng Tư Đen

Thursday, April 27, 2023

MỘT LẦN MẠ RA THĂM CON TRONG TÙ



Hồi Ký

nhớ công ơn và hương hồn Mạ

ĐHL


    Trại  4 Ái Tử  có Căn nhà THĂM NUÔI vách bằng phên đất, liền vách với cái TRẠM XÁ tức là nơi chữa bệnh cho tù. Hai cái nhà tranh này nằm ngoài Trại cách nhau cái hàng kẽm gai sơ sài thôi và chẳng kỹ càng gì cho lắm. Con đường mòn dẫn vào Nhà Cán Bộ phía bên này là Trại 4. Trại nằm sát con sông nhỏ ngó qua bên kia là thôn Xuân Khê. Dân mới về lại nên thôn đó chỉ có lác đác  một số ít nhà. Sau đó có một cái cầu do tù kiếm  nhiều tấm sắt ri đào từ căn cứ Ái Tử bắc qua con sông nhỏ. Con sông đó có  trên bản đồ Bộ TTM nó phát nguồn từ sông Rào Vịnh hướng nguồn Ba Lòng chảy về tận Ái Tử... 


                                          hình: Lá thư nhận trong tù 


   Mạ tôi và đứa con  trai út có tên Trực được vào trại thăm tôi lần đầu sau khi nghe tin tôi còn sống và ở tù tại trại 4. Tôi nhớ thời gian đó vào khoảng cuối năm 1975, đứa em út lúc đó mới tám tuổi.  Mạ và em tôi được ở lại cái nhà thân nhân của trại. Căn nhà thân nhân đó nằm mé triền đất gần mấy trãng đồi đất pha sỏi. Phía sau lưng trãng đồi đó là Nại Cửu Phường một nhánh của Làng Nại Cửu lên đây khai phá không biết mấy đời rồi? Có dịp đi củi tôi mới biết có nhà Ô Ổn và một người dì tên HỒng còn ở đó. Có lần đi củi tôi tạt vào thăm nhà Ô Ổn. Ông Võ Ổn trước 1972 là thợ thổi kèn cho các đám tang. Tôi còn nhớ ngày ông gặp nạn là lúc ông đạp xe đạp đi kỵ  bên nhà Ngoại tôi về. Nhưng lần cuối cùng này ông gặp rủi. Chiếc xe đạp của ông  ngang Nhan Biều bị xe quân xa Mỹ đụng.  Tuy không chết nhưng tội cho Ông bị mất trí nhớ từ đó. Dì Hồng tôi, có thời qua làm cho mạ và dì tôi lúc đang bán hàng tại cái tiệm thuê lại của bà Lê thị Trọng sát Lido Ảnh Quán. Đó là thời gian sau 1968 và trước khi chạy loạn 1972. 


TRẠI TÙ SỐ 4 CÙNG  TRONG HÌNH LỤC GIÁC  CÙNG 4 TRẠI KHÁC NẰM THEO CON SÔNG RÀO VỊNH CHẢY VỀ PHÍA ÁI TỬ


   Tôi từ trại 4 nhờ đi củi cho  nên có cơ hội ghé vào một cái làng  Nại Cửu Phường nói trên.  Tôi gặp Dì Hồng vừa đi củi về, gánh củi sim những cành nhỏ leo teo, bó thật to gọi là củi chồm chồm nhưng nhẹ hều, cháy mau. Hai dì cháu nói chuyện một ít thôi, dỉ nhiên dì là du kích trong thôn và tôi là đứa tù binh thì làm gì nấn ná cho lâu?

 

ngoài tăng gia sản xuất trại 4 còn cắt tranh về bán cho ngoài và còn đi làm muối ở Cửa Việt khoảng năm 1976

   Biết mình là tù nên không thể cấn ná lâu, liên hệ đến bà con nên tôi vội vã chào Dì Hồng ra về. Về thì không phải là về hẳn. Tôi ra lại vạt đồi lấy triêng củi dấu trong bụi rồi gánh về Trại. Trên con đường mòn, ẩn mình sau mấy vạt tranh, tôi vừa gánh củi về nhưng đầu óc vẫn lởn vởn hình ảnh Ông Ổn ngồi im lìm trên chiếc giường tre, mù lòa lú lẫn. Rồi một bà dì này là du kích trong thôn...


   Miên man, tôi phải trở lại chuyện mạ và em trai út ra thăm tôi. Chuyến ra thăm đầu tiên này như đã kể trong những câu chuyện trước là nhờ đi lấy kẽm gai và ri sắt ngoài căn cứ Ái Tử trước chùa Sắc Tứ nên có người gặp bạn tù cùng lán (nhà tù ) là Lê Cảnh Thu người Bích La nói có tôi ở cùng trại và họ làm cách sao đó làm cho gia đình tôi trong Bình Tuy biết được. Theo lời em trai Đinh trọng Thịnh thì mạ tôi tức tốc ra QT nhưng không có giấy ĐI LẠI nên Trại 4 không cho gặp. Tội nghiệp chuyện đau lòng này tôi không hề biết? Mạ tôi về lại Bình Tuy tốn tiền tốn bạc lại vay mượn tiền đi ra chuyến này mới gặp tôi. Có thể thời gian này là cuối 1975 rồi.


   Một đêm ở lại nhà Thăm Nuôi như đã tả trên. Mạ tôi và thằng Trực em út được vô ngay tại lán thăm tất cả hai chục anh em cả 4 tổ trong giờ sinh hoạt ban đêm. Tôi nhớ rõ là Nguyễn Danh Huấn (Gio Mỵ , Gio Linh) làm Lán trưởng. Trần đình Côn cũng người Gio Linh làm tổ trưởng. Non hai năm sau thì Côn và Huấn lần lượt ra trại trước tôi vì có thân nhân CM. Hai người này về địa chỉ Động Đền Hàm Tân kể cả Sơn Mỹ các em tôi đều biết. Một đêm mạ và em tôi trong giờ sinh hoạt nói trên vào thăm trong lán. Một đêm rất lạ do một không khí ấm cúng, mang hơi hám gia đình trong ánh đèn dầu của một lán tù trong giờ “phê bình kiểm điểm” công tác hàng đêm. Một người mẹ và một đứa con nít có mặt trong buổi sinh hoạt này. Ai nấy đều cảm động, thâ ái ra mặt. Từ người cán bộ coi tù, các tổ trưởng, lán trưởng và trại viên như chúng tôi đều cảm động vui vẻ. Thứ tình cảm gia đình đến rất đột ngột, không mong mà có như từ ‘trên trời’ hiện xuống giữa một trại tù. 



   Mạ và em tôi đem củ KHOAI to nhất  của xứ Động Đền (xã Tân Mỹ lúc đó) ra khoe. Có thể trong nhà muốn nói về đất đai và lao động trong Bình Tuy với anh em trong lán.  Tôi còn nhớ trong đêm đó ông Cán Bộ QUản Giáo người Nghệ An thì phải..ai cũng tủm tỉm cười nhất là đứa em tôi khoe củ Khoai To.  Sau đó mạ và em tôi phải ra lại ngoài Trại tức là ở lại Nhà thăm Nuôi (vãng lai) đó một đêm để ngày mai vô lại trong nam ...Quà ra thăm tôi gồm khoai luộc, đường cục, thịt kho bỏ trong gô do mạ tôi có ghé Tây Lộc ở lại và kho đồ ăn và cơm vắt cho tôi cùng vài thứ khác như thuốc rê này nọ những thứ mà vào lúc này tôi quý như vàng.


    Sáng lại tôi đinh ninh là không còn gặp được mạ và em tôi để từ  giã. Nhưng một DỊP MAY lại tới:


   Trại 4 sáng đó có công tác đem bán mấy trăm gánh tranh cho Hợp Tác Xã Triệu Long phía ngoài đường 1 hướng Chùa Ái Tử ngó ra. Tức là gần Chợ Hôm và sông Thạch Hãn. Lán 2 của tôi tức lán hồi hôm mạ tôi được vào thăm cũng gánh tranh ra Triệu Long. Cả đoàn tranh lũ lượt gánh ra gặp lúc mạ và em tôi cũng trên đường ra ngoài đó. Quả là một dịp may. Thật vậy hai mẹ con không có gì mừng hơn. Mạ và em tôi bươn bả đi nhanh theo đoàn người. Cả trăm gánh tranh nhấp nhô lên xuống theo con đường đất đỏ của căn cứ Mỹ trước đây, lúp xúp chạy theo là mạ và em tôi cố gắng chạy theo ở giữa đoàn tù đang gánh gồng.


   Tôi thì quen rồi gánh gồng hai năm nay rồi. Được dịp may gánh tranh ra hướng Quốc Lộ để đi với mạ mình một đoạn đường như vậy thì không gì mừng hơn. Nhưng mạ tôi một tay dắt con trai út, vừa bám theo tôi nhưng tôi thoáng thấy trên mặt mạ mình sao quá nhiều ĐAU XÓT. Tôi hiểu từ ngày giã từ thời học sinh cho đến lúc vào lính ra trường ‘lon lá’ đàng hoàng oai phong tề chỉnh, có khi nào mà mạ tôi lại thấy và đây là lần đầu tiên trong đời người mẹ thấy đứa con trong bộ đồ tù rách rưới, gầy gò và gánh hai bó tranh to chạy lúp xúp như thế này đâu? Tôi lại nghĩ chắc mạ tôi đang đau xót cho tôi đang đau vai và mệt lắm chăng? Mạ tôi đâu có biết rằng tôi đã quen rồi với những ngày lao động. Cả cây gỗ nặng, lội trong rừng, ra đến rừng bụng đói còn vác được mười mấy cây số về trại. Huống gì giờ đây là gánh tranh khô khốc, và được gánh chạy bên mẹ và em mình thì chẳng có gì là khổ.

   Đoàn tù gánh tranh đang qua chiếc cầu vượn bắc qua con suối, đoạn này đã đến thôn Ái Tử.

   Chợt mạ tôi lên tiếng:

            -ĐỂ MẠ  GÁNH  CHO  CON ?

           -Thôi mạ,  con không mệt, ăn thua chi mô, con quen rồi mạ đừng lo.


    Nét mặt mạ tôi vẫn không hết âu lo áy náy. Tôi không có thì giờ và thật sự chẳng có điều kiện nào để dừng lại nói cho mạ tôi hiểu, để người bớt lo buồn. Cán bộ dẫn tù cho mạ và em tôi đi bám theo đoàn tù như hôm nay thật sự mà nói họ quá tử tế rồi.  Dỉ nhiên không ai nỡ lòng đành đoạn cản ngăn chuyện này. Mạ tôi và em tôi cũng là hình ảnh gia đình của họ ngoài kia. Và người chiến thắng họ chẳng cần gì làm chuyện khó dễ làm chi.


   Mấy cây số ba mẹ con gần nhau, trên đoạn đường quê hương của một miền rú càn gần chùa Sắc Tử. Ngoài chùa Sắc Tử còn có mộ phần của những người thân, một ngôi chùa thân quen với bà ngoại tôi từng là bà Vãi và tôi với những kỷ niệm ra chùa thăm. Sau lưng tôi là Nại Cửu Phường cũng là bà con làng ngoại lên đó lập nghiệp. Những con đường quê hương đầy mùa sim chín đầu tiên của tháng tám năm 1975 là năm đầu tiên xây trại tù Ái Tử…từ lúc ở Ba Lòng chuyển tù về đây.


   Cho đến hôm đó một lần mạ tôi ra thăm đứa con trai lần đầu. Cũng là lần đầu mạ tôi thấy tôi lam lũ, mồ hôi ướt đẫm bên gánh tranh vẫy nhịp chạy với cả đoàn tù gánh tranh đi bán dài lê thê như thế. 


   Trong niềm sung sướng vô bờ khi biết tin con trai còn sống, còn ở tù ở đây và cũng kèm theo những quặn thắt đau trong lòng mạ tôi khi nhìn hình ảnh tôi tiều tụy thảm não như hôm đó?


   Đoàn tranh đi bán chúng tôi đã ra đến Quốc Lộ 1. Mạ và em tôi đứng lại bên đường chờ xe hàng ngoài hướng Đông Hà vô…Tôi không được phép dừng lại tiễn mạ và tôi vô nam, chẳng được thì giờ dừng lại nhắn nhe điều gì…Tôi phải gánh chạy theo kịp đoàn tù vượt qua bên tê đường vào giao tranh cho Hợp Tác Xã Triệu Long. 


   Tôi cố gắng ngoái lại nhìn hình dáng hai người mạ và em tôi đứng đợi xe chơ vơ bên đường Lộ một. Hình bóng hai mẹ con nhỏ dần và khuất hẳn tôi tiếp tục chạy theo đoàn tù lòng nguyện cầu mong cho mạ và em tôi mau đón được chuyến xe nào vô nam ./.


TỜ GIẤY PHÉP ĐI LẠI  CUỐI CÙNG NGÀY 17.7.1980 MẠ TÔI XIN ĐI THĂM  TÔI LẦN NỮA, NHƯNG CHƯA ĐI RA TRUNG  THÌ TÔI Đà ĐƯỢC THA VỀ 


ĐHL 


NHỚ MẠ TÔI RA THĂM  Con Trong TÙ CUỐI NĂM 1975

 



Wednesday, April 26, 2023

HỒI KÝ ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN- QUYẾT ĐỊNH CUỐI CÙNG CỦA TT NGUYỄN VĂN THIỆU

 

MỘT QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH MỆNH CỦA TT NGUYỄN VĂN THIỆU


Đại Tướng Cao văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH (1921-2008)

***

                        Trong hai tháng đầu tiên của năm 1975 một số dân biểu, nghị sĩ Hoa Kỳ đến Việt Nam quan sát tình hình. Đối diện với tình hình quân sự không được khả quan và trông chờ sự biểu quyết ngân quỹ phụ trội cho Việt Nam của quốc hội Hoa kỳ trong vài tháng tới, chánh phủ VNCH tiếp đón những nhà lập pháp đồng minh rất ân cần và nhiệt tình. Các dân biểu, nghị sĩ được khuyến khích đi quan sát tình hình quân sự, kinh tế, chính trị, để họ thông qua cho VNCH ngân khoản đã yêu cầu. Chánh phủ VNCH chờ đón cuộc viếng thăm với nhiều hy vọng và lạc quan.

                        Thượng nghị sĩ Sam Nunn đến VN trước, theo sau là dân biểu Paul N. “Pete” McCloskey và nghị sĩ Dewey Berlett. Tiếp đến là một phái đoàn hỗn hợp lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ. Bộ Tổng Tham Mưu thuyết trình cho những quan khách đầu tiên về tình hình chung của miền Nam. Trọng tâm của những buổi thuyết trình là tình trạng kiệt quệ về quân cụ, vũ khí của quân lực VNCH. Các nhà lập pháp Mỹ được thông báo tình trạng nguy hiểm sẽ xảy ra nếu số ngân khoản phụ trội 300 triệu mỹ kim không được chấp thuận và sự nguy hiểm đó xảy ra như các nhà lập pháp Hoa Kỳ đang chứng kiến. Một số dân biểu nghị sĩ đến VN lượt sau không được nghe thuyết trình, nhưng họ có đến  BTTM quan sát số vũ khí tịch thu của CSBV đang được trưng bày ở đó.



            TNS Sam Nunn (Dân Chủ Tb Georgia)
Chức vụ
Nhiệm kỳ3 tháng 1 năm 1987 – 3 tháng 1 năm 1995
8 năm, 0 ngày
(wikipedia)

                        Quá trình hoạt động và quan điểm chính trị của các nhà lập pháp Mỹ viếng thăm VN hoàn toàn khác nhau. Có người ủng hộ VNCH; có người chống đối. Có người đến với một tinh thần cởi mở; có người đến với đầu óc thiên vị, định kiến có sẵn. Người thì lịch sự, khiêm nhường; một số khác thiếu sự tế nhị và lễ độ. Phần còn lại thì đến với sự thờ ơ, vô tư về một cuộc chiến. Nhưng dù có thành kiến hay thái độ nào trong thời gian có mặt ở VN, họ được chánh phủ chào đón nhiệt tình. Mọi người được khuyến khích quan sát, cho phép thăm viếng mọi nơi, tiếp xúc với tất cả. Họ có quyền đối thoại với bất cứ người nào họ muốn—từ một công chức cho đến những tổ chức, đảng phái đối lập với chính phủ.

            Miền Nam, kể cả những người cộng sản, nghe ngóng và theo dõi cuộc viếng thăm của các nhà lập pháp Hoa Kỳ từng bước từng biến chuyển.  Nhiều lời đồn lan truyền từ chuyến viếng thăm đó; hy vọng và thất vọng lên xuống theo từng giai đoạn, từng thay đổi. Những thành phần chống chánh phủ và muốn thấy một chánh phủ liên hiệp với cộng sản, hy vọng Hoa Kỳ làm áp lực với VNCH để chánh phủ nhân nhượng theo ý muốn của họ. Phía ôn hòa thì hi vọng các nhà lập pháp Mỹ suy xét lại tình hình miền Nam, cung cấp vũ khí, quân viện, để dân miền Nam tự bảo vệ và chống lại cuộc xâm lăng lộ liễu của cộng sản miền Bắc. Về phía cộng sản, dĩ nhiên, họ muốn thấy các nhà lập pháp Mỹ cắt đứt viện trợ để làm tê liệt khả năng chiến đấu của quân đội VNCH.

            Nhưng nói một cách tổng quát, phái đoàn quốc hội Hoa Kỳ để lại một không khí thất vọng khi rời VN. Từ bầu không khí đó, nhiều lời đồn, tuyên truyền lan ra, làm hại cho tinh thần chiến đấu của quốc gia. Sau chuyến viếng thăm, giới lãnh đạo của chúng ta nghĩ dân Hoa Kỳ nhìn VNCH như một chánh phủ tham nhũng, đàn áp độc tài. Với những khủng hoảng về kinh tế và chính trị nội bộ đang xảy ra trong lãnh thổ họ, Hoa Kỳ không còn khả năng tiếp tục tham gia vào cuộc chiến. Vấn đề viện trợ thêm cho VN không còn nhiều hi vọng. Ngược lại, ngân sách viện trợ có thể bị cắt thêm vì Hoa Kỳ đang chuyển mục tiêu quân sự, chính trị của họ về các vấn đề Trung  Đông.

            Không ai thấy rõ vấn đề hơn tổng thống Thiệu. Khi người khách cuối cùng của quốc hội Hoa Kỳ rời VN, tổng thống Thiệu biết ngay VNCH không còn hi vọng gì về khoản tiền 300 triệu quân viện phụ cấp. Tổng thống Thiệu cũng biết quân viện cho VNCH trong tương lai sẽ ít hơn chứ không thể nhiều hơn—và tổng thống Thiệu dựa nhiều quyết định của ông vào những suy luận đó: những gì ông ta cương quyết từ chối hành động trong suốt hai năm qua, bây giờ ông phải làm. Tổng thống Thiệu quyết định tái phối trí quân đội dựa vào phần đất VNCH có thể bảo vệ được.

            Cuộc tấn công của CSBV vào Ban Mê Thuột và những phản công vô hiệu của quân đoàn II có tác dụng vào tâm trí  của tổng thống Thiệu—người duy nhất có quyết định tối hậu về chiến lược, chiến thuật của cuộc chiến. Khi quân đội đồng minh rời VN, quân đội VNCH phải đương đầu với một đối phương đông quân hơn. Phải phân tán mỏng các lực lượng trừ bị cuối cùng để cố gắng bảo vệ lãnh thổ, quân đội chúng ta không bao giờ có được ưu điểm về quân số. Thêm vào đó, những cắt giảm quân viện đã làm suy yếu khả năng chiến đấu và tinh thần của quân đội ngoài mặt trận—một sự kiện mà chúng ta từ chối chấp nhận. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, phải có sự thay đổi nếu chúng ta muốn VNCH tồn tại.

            Trong vai trò cố vấn quân sự cho tổng thống, BTTM có lúc nghĩ quân đội VNCH có cơ may nếu lãnh thổ được phòng thủ tương xứng khả năng. Nhìn từ quan điểm quân sự, lối suy luận của BTTM không phải hoàn toàn vô lý—nhưng đi ngược lại chính sách “bảo vệ lãnh thổ bằng mọi giá” mà tổng thống Thiệu tuyên bố nhiều lần từ sau hiệp định Paris 1973 Với tình hình chiến sự nguy ngập—chỉ trong vòng hai tháng, chúng ta mất Phước Long và Ban Mê Thuột—và việc gì sẽ xảy ra nữa đây? Dư vị cay đắng của nhà lập pháp Mỹ để lại sau chuyến viếng thăm vẫn còn. Có lẽ trong một phút riêng tư nào đó, Tổng thống Thiệu bắt buộc phải suy nghĩ lại.



            Với những quyết định có sẵn, ngày 11 tháng 3-1975—một ngày sau khi Ban Mê Thuột bị tấn công—tổng thống Thiệu mời thủ tướng Trần thiện Khiêm, cố vấn an ninh quốc gia, trung tướng Đặng văn Quang và tác giả  đến dinh tổng thống để ăn sáng và bàn luận. Sau khi bữa ăn được dọn ra và các người hầu rời bàn, tổng thống Thiệu lấy ra một bản đồ nhỏ và bắt đầu cuộc thảo luận với những tường trình về tình hình chiến sự mà ba người khách đã hoàn toàn tường tận. Nói về tình hình chiến sự, tổng thống Thiệu đi ngay vào vấn đề với quyết định: “Với khả năng và lực lượng chúng ta đang có, chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả lãnh thổ chúng ta muốn bảo vệ.” Như vậy, chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thật sự quan trọng.

            Quyết định của tổng thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như tổng thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ chỉ thố lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng. Tổng thống Thiệu phác họa sơ những vùng ông nghĩ là quan trọng, gồm Vùng III và IV, miền duyên hải và thềm lục địa. Một vài phần đất quan trọng đang bị cộng sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi giá. Những vùng đất cần chiếm lại là nơi đông dân ,trù phú có giá trị về lâm sản, nông sản và kỹ nghệ, nhất là miền duyên hải, nơi thềm lục địa vừa được khám phá ra dầu hỏa. Cuối cùng, vùng đất mà chúng ta không thể nào để mất là Saigon, các tỉnh lân cận, và đồng bằng sông Cửu Long.

            Tổng thống Thiệu bình thản tiếp tục độc thoại về chính trị địa lý của miền Nam, nhưng khi nói đến Vùng I và II, ông không vẻ lạc quan hay tự tin. Chỉ vào vùng cao nguyên trung phần, tổng thống Thiệu nói về Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại, vì tài nguyên  và dân số của Ban Mê Thuột. Miền duyên hải của Vùng II cũng quan trọng với tiềm năng dầu hỏa chứa đựng ở thềm lục địa. Về Vùng I, ý kiến của tổng thống Thiệu là “giữ được phần nào thì giữ.” Ông phát họa kế hoạch  phòng thủ ở Vùng I bằng những tuyến cắt ngang duyên hải từ bắc xuống nam. Nếu chúng ta có đủ lực lượng, tổng thống Thiệu nói, chúng ta sẽ giữ đến Huế hay Đà Nẵng. Nếu không được, chúng ta sẽ tái phối trí quân lại ở Chu Lai, ha thấp hơn là Tuy Hòa. Kế hoạch này, tổng thống Thiệu nói tiếp, cho chúng ta sắp đặt lại khả năng để có nhiều hy vọng giữ được những vùng đất quan trọng cho miền Nam trường tồn như một quốc gia vững mạnh.

            Như vậy chỉ sau vài lời sơ thảo, tổng thống Thiệu đi đến một quyết định quan trọng. Hậu quả của quyết định đó như thế nào thì chưa biết được, nhưng nhìn từ quan điểm quân sự, quyết định của tổng thống Thiệu có nhiều vấn đề. Là cố vấn quân sự cho tổng thống, tác giả bắt buộc phải có ý kiến về quyết định của tổng thống Thiệu. Tác giả cho sự tái phối trí là cần thiết  và có ý tưởng đó từ lâu Nhưng tác giả không tiện nói ra vì hai lý do: một, đề nghị tái phối trí quân sự đi ngược lại chính sách quốc gia; hai, lời đề nghị đó có thể bị hiểu lầm là thái độ chủ bại. Tác giả tránh phát biểu thêm là sự tái phối trí có tầm vóc qui mô như vậy đã quá trễ. Ngoài ra, tác giả thấy tổng thống Thiệu đã quyết định, nên ông không muốn nghe thêm những ý kiến ngược lại. Đã là tổng thống, ông Thiệu có thẩm quyền và trách nhiệm chỉ đạo cuộc chiến: ông phải biết ông đang làm gì.

            Dù quyết định trên là một sự thay đổi toàn diện từ chiến lược  “bảo vệ lãnh thổ bằng mọi giá” đang áp dụng sang “bảo vệ lãnh thổ theo khả năng”, quyết định của tổng thống Thiệu rất hợp lý trong tình thế đang xảy ra. Nếu phải chỉ trích quyết định đó, chúng ta chỉ có thể hỏi là tại sao tổng thống Thiệu phải chờ lâu như vậy để áp dụng kế hoạch tái phối trí. Chỉ hai năm sau ngày ngưng bắn, tình trạng quân sự phía VNCH xuống dốc một cách thê thảm. Vào buổi sáng hôm đó, tổng thống Thiệu không giải thích hay đề cập đến lý do nào đưa ông đến những quyết định ông trình bày; quyết định của ông hình như phản ảnh những thực tế đang diễn ra. Từ trước, tổng thống Thiệu hy vọng chúng ta có khả năng bảo vệ những tiền đồn và địa giới thưa thớt. Và nếu cộng sản Bắc Việt vi phạm hiệp ước ngưng bắn, Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến và thế giới chắc chắn biết ai là kẻ gây hấn. Nếu CSBV tiếp tục vi phạm một cách trắng trợn, tổng thống Thiệu hy vọng –hy vọng vào những hứa hẹn—Hoa kỳ sẽ có lý do trừng phạt Bắc Việt mạnh mẽ như tổng thống Nixon đã hứa  với tổng thống Thiệu.

            Trong hai năm, cộng sản gia tăng vi phạm và cường độ của những sự vi phạm, để dò xét thái độ của Hoa Kỳ, coi họ có sẵn sàng trả đũa không. Lúc tổng thống Nixon chưa từ chức, thỉnh thoảng ông có cảnh giác CSBV về những vi phạm của họ. Nhưng sau khi tổng thống Nixon từ chức vào ngày 8 tháng 8 năm 1974, những hứa hẹn “phản ứng mạnh mẽ” của Hoa Kỳ chỉ là những lời hứa suông. Ngay sau khi Phước Long bị  tấn công, Hoa kỳ không có một phản ứng nào. Kế tiếp là thái độ bất lợi của phái đoàn quốc hội Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm. Từ thái độ đó, VNCH không còn hy vọng nào. Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục, và biểu quyết  viện trợ để VNCH tiếp đánh là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ, cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc.


cuộc triệt thoái quân khu II làm một quân đoàn mất trắng trọn bộ 


            Tổng thống Thiệu không còn một chọn lựa nào để cứu vãn tình thế trừ quyết định tái phối trí quân đội như đã nói trên—còn nước còn tát. Nhưng quyết định của ông quá trễ. Kế hoạch tái phối trí lẽ ra phải được thực hiện từ giữa năm 1974. Hay ít nhất phải thực hiện ngay khi tổng thống Nixon từ chức Là tác giả của kế hoạch Việt Nam Hóa và Hiệp Định Ba Lê, tổng thống Nixon là người Mỹ duy nhất có trách nhiệm tâm lý để bảo vệ bản văn kiện đình chiến. Nixon là người đáng tin cậy,có can đảm xử dụng những biện pháp mạnh khi cần thiết. Chậm nhất, kế hoạch tái phối trí quân sự theo khả năng của quân đội phải được thực hiện ngay lúc đó.

            Dĩ nhiên cộng sản sẽ sẵn sàng tiến chiếm những vùng đất chúng ta không có khả năng  bảo vệ. Hai bên sẽ thương lượng với nhau một ranh giới mới. Nhưng chúng ta có được  ưu thế trong chiến lược này: lãnh thổ được thu hẹp lại và nội tình an ninh hơn. Kế hoạch tái phối trí tương tự như một hiệp định Geneve 1954 thứ hai: một ranh tuyến mới, quân đội hai bên tập hợp lại vùng riêng biệt của họ…hai lãnh thổ rõ ràng chứ không là vùng ‘da beo” lẫn lộn. Chiến lược này lý tưởng cho sự tồn tại của VNCH. Nhưng dù ta có theo chiến lược này, chưa chắc người cộng sản chấp nhận. Nếu họ đã ký hiệp định Geneve  1954 rồi, và cho đó là một sự lầm lẫn, thì chắc gì họ chấp nhận giải pháp này lần nữa? Không thể nào họ hy sinh xương máu trong 20 năm mà không được gì.

            Quyết định tái phối trí đã quá trễ sau khi Ban Mê Thuột mất. Cộng Sản thắng liền hai trận, và sau hai trận, với sự hao tổn của VNCH, họ có luôn thế thượng phong về quân số. Phía bên ta, đã trải quân ra quá mỏng, chúng ta không thể nào rút quân một nơi để lấp vào chỗ khác mà không bị tấn công và đe dọa bởi số quân đông gấp hai của địch.

            Một vấn nạn khác chúng ta đối diện là thường dân và thân nhân binh sĩ: di tản hay không di tản những người này cũng là một yếu tố thành công hay thất bại trong cuộc chiến. Không nhà lãnh đạo nào với một lương tâm có thể bỏ dân mình vào tay địch. Nhưng trong trường hợp phải chọn lựa, người lãnh tụ hy sinh  dân để giữ quân. Kinh nghiệm cho thấy người dân miền Nam tránh xa vùng kiểm soát của cộng sản nếu họ có cơ hội chọn lựa. Người dân trong nghĩa này cũng là thân nhân binh sĩ—những người họ chiến đấu để bảo vệ và những người nâng cao tinh thần họ. Chúng ta không thể tách rời binh sĩ và thân nhân ra. Tinh thần khắng khít trong truyền thống gia đình VN khó cho chúng ta tách họ ra dù trong một thời gian ngắn.



            Nghĩ lại việc đã qua, câu hỏi là miền Nam có sống sót nếu chúng ta không áp dụng kế hoạch tái phối trí lực lượng quân sự hay không. Bây giờ nói thì sự đã rồi, nhưng tác giả tin miền Nam còn nhiều cơ hội hơn nếu không thực hiện tái phối trí. Tinh thần chiến đấu của quân đội VNCH và nhân dân bị hủy diệt là kết quả trực tiếp của kế hoạch tái phối trí. Không có kế hoạch đó, có lẽ quân đội chúng ta không tan rã nhanh như vậy. Chúng ta có thể mất đi một phần của sư đoàn 23BB, nhưng tất cả đơn vị khác vẫn còn nguyên vẹn. Dù lấy được Ban Mê Thuột cộng quân vẫn phải ngừng lại, suy tính kỹ trước khi mở  một mặt trận mới ở Vùng II. Vùng II vẫn còn sư đoàn 22BB, công thêm một lực lượng tương đương với 2 sư đoàn bộ binh, và hai sư đoàn không quân. Vùng II có đủ quân nhu và tiếp liệu để chiến đấu đến hết mùa khô. Không có kế hoạch tái phối trí, tác giả không nghĩ cộng sản có thể thành công, đánh nhanh và chiếm nhiều đất được như họ đã làm ở Vùng I. Tình hình quân sự nhân lực của VNCH vẫn gặp các khó khăn dai dẳng như trước khi có quyết định tái phối trí: thiếu thốn về quân viện; không còn nhân lực để lập thêm những đơn vị tổng trừ bị. Nhưng ít ra quân đội VNCH sẽ không tan rã nhanh chóng như khi quyết định tái phối trí được thực hiện.

            Đó là cái nhìn về phương diện quân sự trong giai đoạn ngắn hạn.Sau Ban Mê Thuột tác giả nghĩ CSBV sẽ làm áp lực để có một chính phủ liên hiệp; và tổng thống Thiệu có thể chấp nhận. Nhưng dù chuyện đó có xảy ra, đó chỉ là một hoàn cảnh hòa hoãn tạm bợ nhất thời: cộng sản sẽ tiếp tục lấy thêm đất qua chiến thắng quân sự để bắt VNCH nhượng bộ thêm về chính trị. Liệu VNCH có chịu nổi những áp lực đó trong một thời gian dài hay không? Tác giả nghĩ câu trả lời sẽ tùy thuộc vào quân viện của Hoa Kỳ cung cấp cho VNCH. Một sự thật không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975 nếu không nhận được số quân viện phụ trội. Và một quân đội sẽ không thể nào chiến đấu nếu không có những trang bị cần thiết để chiến đấu.

Cao văn Viên

 

ĐHL trích 16/1/2022


sách

Cao văn Viên. Những Ngày Cuối Cùng của VNCH. Nhà Sách Văn Bút 2003, trang 125-136.

CHỞ CON ĐI THI

 kỷ niệm của người cha, ngày đầu qua Mỹ Đinh trọng Phúc Chiếc xe wagon buick 'cà tàng' của tôi theo Freeway 101 đi quá phi trường Sa...