Monday, April 28, 2025

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA ĐƠN VỊ CHÚNG TÔI TẠI TUYẾN ĐẦU QUẢNG TRỊ

 


NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA ĐƠN VỊ TIỂU KHU QUẢNG TRỊ TẠI VÙNG HỎA TUYẾN ĐỊA ĐẦU 



Lời dẫn:

Qua INTERNET tác giả bài viết đã tìm trong cuốn phim tư liệu cũ " Con Đường GP Huế 26.3.1975" của phía CSVN và đã tìm ra được hình ảnh toán tù binh VNCH đầu tiên bị đưa ra Đông Hà. Trong đoàn tù binh đó trong đó có bản thân người viết. Toán tù binh này đang đi trên đoạn Bến Đá đến Cầu Dài gồm 17 người thuộc đại đội 2/TĐ 105 bị vỡ trận vào trưa 23/3/1975 tại làng Trach Phổ xã Phong Bình. Thật lòng nói ra, tác giả quả xúc động khi nhìn lại hình ảnh anh em trong đơn vị một ngày thua trận năm mươi năm trước. 

Đinh hoa Lư

***

    Người viết bị bắt sau khi tuyến Mỹ chánh bắt đầu thất trận vào trưa 23 tháng 3 1975. Tác giả cũng là một trong anh em trong đơn vị bị dẫn qua sông Thạch Hãn trưa ngày 24 tháng 3 năm 1975 lúc Huế chưa mất. Số tù binh đầu tiên này bị giam ở thôn An Lạc đông hà những ngày Huế và Đà nẵng trong cơn "hấp hối".

Sự thật những gì trong ký ức, người viết nhằm ghi lại những nốt thời gian kỷ niệm của đời hay rất đông người của miền nam cùng cảnh ngộ một ngày THÁNG TƯ

Hôm nay qua Internet, tình cờ trên cuốn phim Đường Về GP Huế phim tư liệu miền Bắc, người viết đã có hình ảnh của đồng đội và mình trong cuốn phim này.

Thú thật với bạn đọc, trong tâm tư người viết có phần nào bồi hồi xúc động. Qua nửa thế kỷ sau buổi can qua, mới đó mà đúng năm mươi năm mất nước. Một ngày những mái đầu xanh, gác bút nghiên theo tiếng gọi non sông, giờ đây những người còn sống với kiếp lưu vong, những mái đầu bạc trắng ngồi nhìn thời gian còn lại trong bao nhiêu kỷ niệm u buồn, đổi thay nhân thế.



===================

Khe Trai là khe nước lớn từ Động Tiên chảy vào S Thạch Hãn, chúng tôi hay từ chốt mò xuống lấy nước uống và tắm khe này
trong bản đồ có tỉnh lộ 556 ngày xưa chạy đến Q Ba Lòng nhưng Ba Lòng mất vào năm 1963


trích dẫn từ bản đồ Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH có những dấu hiệu quân sự đơn vị hành quân trước 1972 cũ không liên quan đến thời điểm trong bài)

===========================
10 THÁNG BA 1975

Động Tiên 295 m, : Ban mê thuột MẤT tình hình chiến sự sôi động trở lại , tin tức tôi theo dõi nhờ chiếc radio nhỏ xíu nghe BBC hàng đêm

Chốt Đai Đội 2, đại úy Lê Kim Chung làm đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 105 Địa Phương Quân QT đang án ngữ mặt trước Tiểu Đoàn 105 mà Ban Chỉ Huy đang đóng trên chóp Ông Đô cao độ 275 m.

Trung đội 3 của tôi thì nằm tiền đồn cho đại đội 2. Chốt trung đội tôi nằm chốt ngoài cho D9D92 sát khe Trai. Bên kia Khe Trai là động Tiên.
Hàng ngày bên kia động Tiên vc núp trong lùm cây gọi qua ơi ới như thách thức như trêu chọc:
- Mấy anh bảo an ơi !....
Tôi cũng xin giải thích thêm vào lúc đó chốt bên nào thì ở yên đó theo Thỏa thuận Ngưng bắn Paris
CS miền bắc chỉ vi phạm cách khác, chứ chạm tuyến hai phe chúng làm như tôn trọng Hiệp Định. Ban đêm tôi vẫn nghe phía bên kia tức sau Động Tiên 295 m (của vc) tiếng quân xa rú và đèn dọi lên tầng mây, chứng tỏ vc di chuyển ào ạt.

Tiếng xe và đèn bên kia rặng động Tiên, ánh đèn hắt lên tầng mây thấy rất rõ, tôi có báo lên đai đội 2 và tiểu đoàn 105 nhưng phản ứng thật yếu ớt , chỉ một lần trong một đêm từ tiểu khu bắn lên vu vơ vài quả pháo binh chiếu lệ cho có rồi thôi.

Tiểu đoàn phó, tức đại úy Nguyễn Đôn (nay ở San Jose) hay liên lạc và tiếng anh vẫn trực tiếp với tôi:

-Phú Lộc còn "gà cồ" đang gáy chuẩn bị

Ý anh nói pháo binh dưới Diên sanh bắn lên
Tiếng vài viên đạn pháo binh bắt đầu xé gió qua chốt tôi, trong đêm nghe xèn xẹt
vài tiếng nổ vu vơ bên kia rặng núi trước mặt tôi và rồi lặng yên

15/3/1975
tiếng của đại úy Nguyễn Đôn tiểu doàn phó 105 TKQT bên đầu dây PRC 25
-Phú lộc nghe rõ trả lời
Phú lộc là ám danh của tôi
-Phú Lộc nghe Đà Lạt 5/5 ...tôi trả lời anh Đôn

- Phú lộc yên tâm khi nào đà lạt( tức anh Đôn) cũng sẵn sàng sau lưng phú lộc nghe , nghe rõ trả lời...

-Phú lộc nhận 5/5.
...
Quái, chuyện gì đây? Tôi phân vân lo lắng trong lòng. Tiểu đoàn 105, Ban Chỉ Huy đóng ở chóp Ông Do, họ nghe và nhận lệnh gì dưới Diên Sanh? Tình hình gì, chuyện gì làm sao người viết biết được? Chỉ có cái máy PRC 25 là phương tiện nhận lệnh từ trên và trên nữa ra sao, chúng tôi làm sao biết? Tin tức gì khi xung quanh tôi chỉ là rừng và núi, chốt VC là Đỉnh Động Tiên 295 mét án ngữ trước mắt tôi...

Chốt trung đội của tôi nằm ngoài cùng của đại đội 2 của cố Đại Úy Lê Kim Chung. ĐĐ 2 lại nằm trước Động ô Do BCH của Tiểu Đoàn 105 như thế xem như là chốt của tôi nằm ngoài cùng ngó lên là Động Tiên. Núi phía đó là của VC bên kia rặng Động Tiên theo bản đồ chính bắt đầu đổ xuống hướng Ba Lòng

17 tháng 3/1975

CÁI GÌ ĐẾN ĐANG ĐẾN

TÔI RẤT BẤT NGỜ NHẬN LỆNH TỪ ĐĐ 2

trung đội được lệnh nghi binh, có nghĩa giả sinh hoạt , đứng gác, đồ đạc như thế một lúc trong sáng đó như không có gì xảy ra
Rồi yên lặng rút xuống chốt, men theo giữa rừng tranh rậm để về tập trung tại đỉnh ông Đô. Chúng tôi hi vọng Những đồi tranh chập chùng hi vọng lính chúng tôi rút VC bên kia rặng động Tiên không thấy
BCH tiểu đoàn 105 khui tất cả kho lương thực dự trữ tại BCH tiểu đoàn tại đỉnh ông Đô đa số là gạo sấy phát hết cho lính
-Tất cả di chuyển bộ theo con đường sơn đạo duy nhất đi ngay và sẽ di chuyển cả trong đêm
-Trong đêm 17/3/1975 cả tiểu đoàn tạm nghỉ khoảng giữa đường
Tôi có gặp đượcThiếu tá Lê văn Quang tiểu đoàn trưởng TĐ 122. Hai tiểu đoàn 105 và 122 không ngờ cùng có lệnh rút lui và gặp nhau ở điểm này.

Anh Quang là người anh người anh trong xóm Cửa Hậu Phường Đệ Tứ .Nhà mệ Tý, thân mẫu của anh làm nghề chằm nón. Anh Quang còn có người anh tên Vinh và hai người em gái nữa. Nhà anh cùng xóm với Trần Tài bạn tôi, hắn ra trường thuộc tiểu doàn 126 đang đóng ở mạn biển, chúng tôi thì lên núi.

Tôi sinh ra lớn lên tại xóm Cửa Hậu, đường Lê v Duyệt thuộc xóm nhà anh Quang. Anh thời học sinh rất mến tôi. Tôi không ngờ đây là lần cuối cùng hai anh em gặp nhau do sau này tôi nghe anh chạy vào được Quảng Ngãi thì bị bắn chết trong đó.
Hai tiểu đoàn gặp nhau lại nghe xôn xao có một số bên tiểu đoàn 122 phải bỏ xác lại trên chốt do biết đem về đâu lúc di tản thế này?
-Mẹ cha ơi, thật rủi có con bò cạp từ bụi cỏ tranh nào đó leo lên ba lô làm một phát vào ngón trỏ của tôi đau điếng. Con bò cạp đớp ngay vào ngón tay bóp cò súng làm ngón tay sưng bắt đầu sưng lên nếu đụng trận lúc đó thì làm sao bóp cò súng được?
Nhưng may, cả đơn vị rút lui trong im lặng và an toàn chẳng có gì xảy ra.
-Đơn vị đã di chuyển về gần tiểu khu Quảng trị (cầu dài Hải lăng) vài ụ pháo binh dấu hiệu vừa rút, đất còn mới toanh. Thỉnh thoảng tôi nghe rời rạc vài tiếng pháo VC bắn theo vu vơ đâu đó.

Đã về đến tiểu khu QT tại cồn cát Hải Lăng

Gặp được Quốc lộ 1, chúng tôi không về huớng Tiểu Khu mà quẹo phải di hành theo QL vào huớng Mỹ Chánh...

TKQT đã di tản. Trên đường có nhiều đồ đạc đồng bào vứt lại...chứng tỏ di tản gấp thiếu phương tiện, tôi cảm nhận một không khí ngột ngạt im lặng

Qua khỏi cầu Mỹ Chánh chúng tôi được lệnh quẹo trái men theo bờ sông về Huớng Ưu Điềm

Tất cả các tiểu đoàn Đia phương Quân TKQT 105-110-122-119-126 đều dàn theo tuyến Mỹ Chánh từ núi đến biển.
Dọc đường từ chợ Mỹ Chánh về ngang Ưu Điềm Trạch Phổ ...đồng bào ai còn ở lại đổ xô ra ngó lính chúng tôi đi qua. Người viết còn nhớ có người còn đem con gà ôm bên người đứng bên đường ra bán cho lính hi vọng có ít tiền
Bà con đâu có hay lính chúng tôi chưa hề nhận lương tháng 3 / 1975. Tiểu khu rút từ Diên Sanh vào Huế cả tuần rồi mới cho chúng tôi trên núi RÚT? và họ còn đem cả lương hướng vào Huế (Mang Cá) rồi thì ai đem lương tháng 3 lên NÚI phát cho lính? Không biết các tiểu đoàn như 126 đóng ở mạn biển có nhận lương tháng 3/1975 không?
trọn bộ số lương tháng 3/1975 nằm trong bí mật của SĨ QUAN TÀI CHÍNH TIỂU KHU QT BIẾT? Thông thường mồng 10 hàng tháng là Tiểu KHu đã vào Quân KHu nhận Lương từ Đà Nẵng ra rồi...
Đó là lý do lính từ núi về toàn bộ không ai có đồng nào để mua bán với dân
19 tháng 3/1975
Tiểu đoàn 105 có lệnh đóng tại Làng Siêu QUần + đại đội 2
Đúng là địa danh "MUỖI SIÊU QUẦN" thành ngữ này ai đặt mà đúng dữ a?
Ruộng dân mới cấy , muỗi làng Siêu Quần này nhiều đến nỗi ban ngày đi "cầu" giữa đồng bầy muỗi nó tấn công tới tấp
- Nghe chợ Đông Ba cháy , ai đốt chẳng biết , trong Huế hoảng loạn quân nhu tiểu đoàn không mua được thức ăn tiếp tế
-tất cả lực lượng ĐPQ của TKQT đang nằm theo tuyến này chắc đói "phơi râu "
-phòng tuyến 2 tại Phò Trạch nhắm không cho ai rút qua tuyến này để vào phía nam?
-thế là tụi này chắc hi sinh hết ngoài này
-tiếng pháo binh từ Phong Điền dội ra vẫn nghe hàng ngày pháo binh đang rót qua bên bờ bắc sông Mỹ chánh , thế là sông Mỹ Chánh trở thành sông Thạch Hãn 1973 rồi , tôi thở dài.
NGÀY 23/3/1975
sáng sớm đại đội 2 được lệnh di chuyển , cả đại đội vượt qua cánh đồng mới cấy trơn trợt đi ngược ra huớng bắc ra huớng Trạch Phổ gần Uu Điềm xã Hải Văn
đến trưa mới trám được cho vị trí của 1 đại đội của tiểu đoàn 110 nghe đâu bị "lũng' hồi đêm
công sông Mỹ chánh nhìn rõ qua bên kia , im lìm nhưng chứa đựng bao bí ẩn sau những bờ tre kia
-ban chỉ huy đại đội đóng trong cái nhà thờ , dân đã bỏ chạy hồi hôm không thấy ai
-khoảng 2 giờ chiều lính trung đội hoảng hốt báo
-tụi nó vượt sông rồi
- nó thổi súp lê nữa ôn ơi(gọi tôi)
xạ thủ trung liên lại xách khẩu súng đó vừa nói vừa "dze" lui?!
Tôi còn nhớ một sự tức giận đến bất ngờ, như một phản xạ, ngón tay tôi như muốn 'bóp cò' cho sự rút lui vô lý như vậy... đột nhiên ngón tay tôi buông ra

Chỉ một khoảng thời gian ngắn mà cả đại đội bị dồn ra giữa đồng
Trung sĩ Hài THƯỜNG VỤ ĐẠI ĐỘI cũng vừa rút ra khỏi vị trí
Thôi rồi, tan hàng mau quá. Bắc quân hình như đã được biết trước cuộc chiến đang đến hồi CÁO CHUNG. Họ hí hửng thổi còi vượt sông Ô Lâu bắt đầu vào hơi xế trưa ngày hôm đó.

LÀNG TRẠCH PHỔ ƯU ĐIỀM BỜ SÔNG Ô LÂU
Hậu quả không tránh được khi liên đoàn ĐPQ chịu ở lại tuyến Mỹ Chánh, hi sinh cho 2 sư đoàn tổng trừ bị rút về bảo vệ SG. Tiểu Khu QT thì đang ở trong Huế. Thêm tin chợ Đông Ba cháy, cái tin này mới choáng do không có gì tiếp tế cho chúng tôi ngoài này cả. Tôi nhớ chuyến xe tiếp tế cuối cùng men theo đường biển về tới Làng Siêu Quần chẳng mua được gì cho lính? Những ngày đó tôi không còn nhớ lính ăn uống những gì? Làng mạc, đồng bào chạy hết, không ai ở lại...

Lương tháng 3 chúng tôi cũng chưa nhận được xu nào?
Tôi còn nhớ trong ví chỉ còn 500 tháng 2 sót lại. Mấy ngày trước hành quân về vùng này, dân bên đường bán con gà còn lại tôi chẳng có đủ tiền mua.
(tiền lính và lương lính, trung úy trưởng ban tài chính này sau này cũng bị tù với chúng tôi...tiền bạc cũng đem về vứt tại bãi biển Thuận An thôi và tội lỗi với lính thì vẫn còn mang. Do sao người viết tin thế? Hàng Tháng cứ từ ngày mồng 10 đã vào nhận lương tại Quân Khu rồi, Đến ngày 17 hàng tháng là lương đã có tại Tiểu khu. Họ đã dứt liên lạc với các đơn vị tiền tuyến để vào trú tại thành nội Huế . Khi các đơn vị chúng tôi từ núi về rạng 18 tháng 3/ 1975 thì Tiểu Khu đã rút sạch từ lâu, quang cảnh khu thị tứ Diên Sanh vắng ngắt trống trơn )


TRẠCH PHỔ CHIỀU ĐỊNH MẠNG 23 - 3 - 1975

Từ rú Uu điềm bị trói tay dẫn về lại sông Mỹ Chánh , tôi bị té mấy lần , tay bi trói nên không gượng lên được. Tên VC hình như lính chính quy lôi tôi dậy
Tội nghiệp cái chân lính quen mang giày, nay giày không có, qua mấy đám cây mắc cở đầy gai đau điếng
Giữa đường có mấy du kích đang cáng người bị thuơng đi ngược hướng với tôi. Có người bảo người lính miền bắc đang dẫn tôi, bảo bắn mẹ nó đi dẫn gì cho mệt.
Số tôi hên , người lính miền bắc vẫn chấp hành lệnh bắt giữ tù binh nên tôi vẫn được dẫn lui phía sau tức hướng sông Ô Lâu
Dọc đường tôi nghe vài tiếng pháo binh vu vơ từ Phong điền tiếp tục bắn ra, tiếng xé gió vun vút nổ đâu đó. Nhưng pháo binh bắn cho có lệ một vài quả mà thôi chẳng có gì dử dội cả.
Tôi nói thầm trong bụng
-mẹ, đại đội tan hàng từ lâu rồi bắn làm gì nữa?
Tôi đâu biết rằng phía dưới Siêu Quần cả Tiểu đoàn 105 cũng bắt đầu ...rút
TỐI 23.3/75 CHÚNG TÔI ĐƯỢC DẪN RA ĐÔNG HÀ

TÁC GIẢ TRONG TOÁN TÙ BINH VNCH BỊ DẪN RA ĐÔNG HÀ ĐẦU TIÊN NGÀY 24/3/1975
Đại Đội 2 / Tiểu đoàn 105 Địa Phương QUân Tiểu khu Quảng Tr



Cuốn phim tư liệu của miền đoàn làm phim miền bắc đầu tiên khi họ vượt sông Thạch Hãn ngày 24/3/1975
có tên " Đường về GP Huế 26.3.1975"



hình cắt từ youtube phim của Miền Bắc

    THÌ RA ra đám tù binh toàn đại đội 2 chúng tôi, 17 người tất cả : 2 sĩ quan duy nhất là tôi và Ngọc hai trung đội trưởng , không có tiểu đội trưởng nào
hình ảnh trước mắt chúng tôi trong văn phòng xã Hải văn
đồ đạc tung tóe, ảnh TT Thiệu thì bị xé và vứt trên nền nhà.
-Một người xưng là Lộc , 27 tuổi tự giới thiệu là tiểu đoàn trưởng "lên lớp" chúng tôi xong một người khác xưng là chính trị viên tiểu đoàn tiếp tục" lên lớp và kể tội" chúng tôi...
Tôi còn nhớ mãi tiếng nói của tiểu đoàn trưởng LỘC:

-TÔI LÀ LỘC, 27 TUỔI TIỂU ĐOÀN TRƯỞNG...
CHÚNG TÔI NHẬN LỆNH MANG QUÂN TƯ TRANG GỌN NHẸ NHẤT ĐỂ ĐUỔI THEO TRÁM VÀO CHỖ CÁC ANH VỪA RÚT NHƯNG CÁC ANH RÚT ...NHANH QUÁ !

Đây là những gì tôi chẳng cần phải thêm hay bớt: người Tiểu đoàn Trưởng VC tên Lộc nói đúng. Quả đúng, sau khi lực lượng TQLC rút vào Huế bỏ lại QT còn lại là các tiểu đoàn Địa Phương Quân, Tiểu Khu rút vào Mang Cá Thành Nội Huế, chúng tôi ở tuyến biển và núi được lệnh rút. Sự rút lui khá nhanh và im lìm đến nổi VC không kịp để truy kích. Sự thật tất cả các tiểu đoàn cơ hữu của Tiểu Khu QT nhận lệnh lập phòng tuyến phải nằm lại dọc theo sông Ô Lâu tức là tuyến ngoài cùng cho phòng tuyến Phò Trạch, giữ an ninh cho Huế ...rút


Tôi đã nhận ra mặt các người quen trong đại đội 2:

Hạ sĩ Con người lo nấu ăn cho đại đội trưởng



chuẩn úy Ngọc người Huế cùng đại đội 2 với người viết sau này cùng ở chung lán trại tù
***

Một sự rút lui ồ ạt không phải MỘT ĐƠN VỊ MỘT TIỂU KHU MÀ CẢ QUÂN KHU cả một THẤT BẠI CHIẾN LƯỢC SAU KHI VÀO TÙ HAY VNCH MẤT RỒI MỚI THẤY NÓ ĐÚNG
MỘT LỆNH RÚT TỪ SÀI GÒN NHANH VÀ VÔ TRÁCH NHIỆM ĐẾN NỖI AI CŨNG NGỠ NGÀNG NHƯ NẰM MƠ
***
TOÁN TÙ BINH ĐẦU TIÊN QUA SÔNG THẠCH HÃN
Trưa 24 /3/1975 chúng tôi 17 người, là toán TÙ BINH ĐẦU TIÊN BỊ ĐƯA QUA SÔNG THẠCH HÃN
-tối đó được ăn uống , có mấy trái bính ngô đám tù binh nấu ăn xong tối được dẫn đi ngay
qua mấy khúc sông cạn người lính VC thản nhiên" trut quần" lội qua , vai vẫn đeo xuống , qua sông bận quần lại "khỏe re" thật đơn giản như du kích.
tối đó chúng tôi được dẫn ra phía Bến Đá đường lộ 1
sa’ng 24 tháng 3/75
cả toán tù binh đại đội 2 chúng tôi 17 người đang bị dẫn ra huớng Đông hà ,khoảng 2 vệ binh VC đi theo . Chặng Cầu Dài. ( trong thời gian tù chúng tôi được biết phía bên VC lính trơn tức binh nhì họ gọi là "VỆ BINH")

Từng toán du kích đi ngược huớng chúng tôi họ theo đường lộ tiến vô huớng Huế. Đồng bào lại một lần nữa chạy lui do QT đã mất .
Du kích ai cũng đeo ba lô bộ đội màu xanh đầy cứng
Chúng tôi là đám tù binh đầu tiên đang bị dẫn ra huớng Bắc sau khi Quảng trị di tản

Thế là tuyến Mỹ chánh lũng rồi , tuyến Sông BỒ chắc đang nao núng thậm tệ
-Ngang khoảng gần Cầu Dài chúng tôi được lệnh nghỉ chân ,kiếm gì ăn bên các nhà hoang bên đường
-vài du kích tò mò hỏi thăm chúng tôi , có một số cho lương khô 701
họ nói:
-mừng cho mấy eng rứa là sống rồi...
-Ba Lô họ mang nặng chịch, chúng tôi được biết toàn là cờ "giải phóng "
-lần đầu tiên tôi thấy mấy o du kích to con lục lưỡng người chắc nịch , ba lô sau vai toàn đi bộ họ ở đâu giờ đây xuất hiện lại đông thế?

Có hai vệ binh VC tiếp tục dẫn chúng tôi ra huớng Đông Hà. Có thể ngang đoạn này toán quay phim ghi lại hình ảnh chúng tôi đang đi bộ tiến ra lại hướng Quảng Trị và sông Thạch Hãn. Thật may, 2 người vệ binh dẫn tù đón được chiếc xe Molotova đang chạy không về lại đơn vị liền ngoắc lại xin quá giang và khỏi đi bộ. Người tài xế bộ đội đang chạy ra không, thấy dẫn tù cũng ra tay giúp chịu chở chúng tôi ra Đông Hà.

-Đến sông Thạch Hãn lần đầu tiên chúng tôi thấy chiếc cầu phà do công binh VC lắp nhanh để quân họ tiến vô nam.

- Quá trưa 24/3/75, chiếc xe molotova thả chúng tôi gần chợ Đông hà.

TẠI SAO RẤT ĐÔNG NGƯỜI TRONG CHỢ ĐÔNG HÀ CHẠY RA XEM TÙ BINH TRONG NAM RA

Sau này chúng tôi dễ hiểu, do họ là người Triệu Phong và Quảng Trị bị kẹt lại vào năm 1972 đến nay, bà con QT đang ở Chợ Đông Hà đây là lần đầu tiên nghe tin Có lính VNCH bị bắt và đang bị đưa ra đây. Lính TKQT đa số là Triệu Phong và Hải Lăng , bà con kẹt lại biết có bà con mình trong số đó nên chạy ra đứng đầy hai bên để coi.
Quả đúng, đa số anh em tù binh này là người Triệu Phong QT, có người được bà con trong chợ Đông Hà nhìn ra, họ cho luôn tờ bạc bắc 10 đồng, tờ bạc màu đỏ. Sau này tôi biết được tờ bạc này giá trị lớn nhất tại miền bắc thời đó.



tối 24 tháng 3/75

chúng tôi bị đưa về thôn An Lạc Đông hà tạm giữ tại đây. Khoảng một tuần lễ tại đây lưu trú trong mấy xóm nhà dân bỏ hoang cạnh sông Đông hà. Đây là đợt tù binh đầu tiên bị dẫn ra Đông Hà. Tuy Ngọc và tôi là hai trung đội trưởng nhưng lại là hai sĩ quan duy nhất trong số tù binh dẫn ra đầu tiên này. Hàng ngày hai tôi và Ngọc phải lên gặp cán bộ. Họ theo dõi tình hình chiến sự hàng ngày, Huế đang thất thủ , đang có rối loạn ở Thuận An.

Mấy cán bộ ở đây bảo tôi vào Ngọc thu băng cassette kêu gọi anh em trong Huế buông súng theo tờ giấy họ viết sẵn. Tôi còn nhớ họ bảo tôi phải sửa lại một vài chữ thí dụ họ bảo xóa những chữ ...ĐỐI XỬ NHÂN ĐẠO THEO CÔNG ƯỚC GENEVA TÙ BINH QUỐC TẾ mà họ bảo nói lại, thu âm lại là...ĐỐI XỬ NHÂN ĐẠO THEO CHÍNH SÁCH KHOAN HỒNG VÀ NHÂN ĐẠO 12 ĐIỂM CỦA CÁCH MẠNG ...

Mấy người chính trị viên làm rất gấp vấn đề trên. Thời gian đó chúng tôi lại được cho tin là Thuận An đang khủng hoảng vấn đề giải tỏa số quân đang tập trung tại đó rất đông. Đủ thứ binh chủng nhất là dù và TQLC Biệt động Quân sau khi Đèo Hải Vân đã bị chận.

26 tháng 3

Rồi chúng tôi nghe tin Huế mất
cán bộ VC theo tình hình từng giờ
tôi nghe tin Thuận An quá rộn.
Sau này tôi mới biết có một số của Tiểu Đoàn 105 TKQT chạy vào Thuận An nhưng trước sau gì cũng bị bắt và bị dẫn ra lại QT lên đến Khe Sanh, Tà Cơn đi bộ xa xôi tơi tả hơn chúng tôi nhiều lần. Chúng tôi bị bắt sớm nhất nhưng lại đi bộ ít hơn do từ Mỹ Chánh ra mà thôi.

29 tháng 3

tôi nghe tin Đà nẵng mất
Những tin chiến thắng như thế các chính trị viên đều cho tù binh hay vừa khoe thành tích của họ vừa lung lạc tinh thần chúng tôi

Đầu tháng 4/1975

chúng tôi được cho di chuyển về trường Tiểu Học Lai phước. Trường này khá nhiều dãy lớp, gần sông. Lai phước từ Đông hà đi vô hướng Quảng Trị.
Trường gần ngay sông Lai Phước cách cầu khoảng vài trăm mét.
Thời gian trú ngụ khoảng một tuần

-Tù binh trong Huế bắt đầu ra đông, chuyện ăn ở càng lúng túng, nhờ con sông Lai phước chúng tôi ra giặt áo quần, tắm rửa và ngủ tạm trong trường tiểu học đó.

LÊN BA LÒNG
Qua Đèo Ba Lòng

15/4/1975

Sau khi ngủ qua đêm trong một đơn vị lán trại bộ đội bỏ trống tại Cùa, đoàn tù binh chúng tôi được dẫn bộ theo một sơn lộ đi về hướng Ba Lòng. Con đường đất đỏ quanh co, hai bên còn loang lổ hố bom, đi xuyên qua mấy trãng đồi tranh xanh ngắt. Đi từ sáng tinh mơ khoảng xế trưa thì đoàn tù binh bắt đầu qua Đèo Ba Lòng.



Theo lời cán bộ dẫn tù cho biết: độ dài của đèo Ba Lòng phải tới bảy tám cây số. Đường đèo thì leo dốc, do vậy thỉnh thoảng chúng tôi được nghỉ giải lao. Họ là bộ đội nên áp dụng “luật quân hành” có nghĩa đi  bộ một giờ được nghỉ giải lao mười lăm phút. Ngang lưng chừng đèo, chúng tôi được dừng nghỉ sức theo quy định. 
Được nghỉ, tôi để nguyên cái ba lô dựa vào vách núi.  Vài ngọn đót, mấy vòi mây nước từ trên cao buông vu vơ trước mắt tôi. Tôi lại nghe xa xa tiếng ve núi bắt đầu 'ca vang' đón hè. Trời tháng Tư khí hậu Quảng Trị bắt đầu nóng. Cái áo ka ki của tôi giờ đã thấm ướt mồ hôi. Gần ba tuần , tù binh bị giam tại trường Lai Phước chưa có gì cả? Ai có gì bận đó; đa số còn bận áo lính, chân mang đủ thứ dép. Có điều đặc biệt không ai được mang giày lính?

Tính người viết hay để ý và lại nhớ...Có mấy ông cán bộ vc, có thể là cấp úy, họ có bình thủy nước trà mang theo uống dọc đường. Tôi chưa quên một kinh nghiệm khá "lạ lùng" có thể là lý thú khi  do những người này chỉ kinh nghiệm đi rừng cho tù binh lên dốc thì mang ba lô ngược trước ngực, sức nặng sẽ kéo giúp đi lên mạnh hơn. Trái lại lúc xuống đèo, thì đưa ba lô  trở lại phía lưng- nó sẽ kéo người lui sau, khỏi chúi người. Thật là thứ kinh nghiệm 'vượt đèo'  lạ lùng, lần đầu tiên trong đời chúng tôi biết được. Họ vượt đường mòn HCM bao ngày, kinh nghiệm thế là phải.

 Quy định dừng chân tạm nghỉ là mười lăm phút cho một giờ đi, nhưng thời gian nghỉ có khi khá lâu. Mấy người bộ đội này cho biết lên tới đỉnh đèo đổ xuống bên kia là thung lũng Ba Lòng. Sắp tới rồi hay sao? Như thế là đoàn tù này sẽ tới Ba Lòng, cái đích của chuyến đi này.

 Tôi tiếp tục dựa lưng vào vách núi ngắm cái hẻm núi trước mắt mình. Vài bóng mây nhàn nhạt  đang la đà dưới đó. Những làn mây mỏng không che hết màu xanh của lá cây. Tiếng ve thỉnh thoảng ngưng kêu, trả lại sự im lặng cho núi rừng.


Mới hôm qua,  lần đầu tiên chúng tôi ăn củ cây bông chuối (trước tôi gọi là chuối tây), ngày xưa người mình hay trồng làm cảnh. Họ cho  tù binh nhổ lên, nấu ăn tối. Té ra chuối tây phần củ của nó khi nấu chín ăn chẳng khác gì củ hoành tinh. Họ bảo đó là cây "cứu đói". Họ cho biết Bộ đội VC ăn rồi trồng lại ngay để bộ đội tới sau có "cái ăn". Đất Cùa quả thật tốt. Những bụi cây bông chuối cao ngang đầu người, rậm rịt, chúng che mất mấy "cái lán" nho nhỏ. Một đơn vị bộ đội nào đó từng ở đây giờ họ đi đâu, chỉ còn lại những túp lều vách đất, trống không? Ngày còn bé, tôi còn nghe người nhà kể đất Cùa tốt nên người Pháp đã lập đồn điền tại Cùa trồng từ trái bơ (avocado), tiêu, nhất là cà phê
Năm bảy tám tuổi, thân phụ tôi là trưởng chi CA tại Quận Cam Lộ nên tôi có lên theo cha thăm Cam Lộ. Cùa thuộc quận Cam Lộ nhưng người viết còn nhỏ nên chưa hề qua Cùa lần nào, cho đến lúc này mang thân tù binh mới qua được đất Cùa.

Bao nhiêu hình ảnh xáo trộn trong đầu...thế mà ba tuần rồi tính từ lúc đại đội chúng tôi tan hàng tại Mỹ Chánh. Mười bảy người được dẫn bộ ra múi cầu Đông Hà trú một tuần tại Thôn An Lạc. Thời gian này chúng tôi nghe tin Thuận An náo loạn? Tiếp đó Đà Nẵng ...Sau đó họ dẫn chúng tôi lên tại một trường học Lai Phước đóng tạm tại đây. Tù binh trong Huế ra càng lúc càng đông.  Ngày ngày ra tắm giặt bên con sông. Sau hai tuần, đoàn tù có lệnh di chuyển. Chúng tôi được dẫn bộ theo đường số Chín lên đến Cam Lộ thì rẽ lên hướng Cùa. Tối qua và đi đến trưa nay thì cả đoàn tù được dừng  nghỉ tại đây.

Từ độ cao này tôi định hướng nhìn về hướng dưới kia- Đông Hà hay Quảng Trị một đường ngang của một dãi đồng bằng hẹp, bằng phẳng. Hướng nam trong kia xa hơn. Giờ này thì Huế và Đà Nẵng mất rồi. Hai tuần tù binh trú tạm tại trường học Lai Phước cạnh con sông, tù từ trong đó ra càng lúc càng đông: nhiều thứ lính: từ áo ô liu cho đến rằn ri.  Giờ trong nam ra sao? Bình Tuy ra sao? Người ta đồn ranh giới hai bên có thể là Phan Rang? Tôi mong sao được như thế. Nếu được thế Bình Tuy, bà con tôi bà con QT còn thuộc VNCH còn lại...hình ảnh ngày cuối cùng tôi bị bắt. Ruộng Ưu Điềm mới cấy, Làng Siêu Quần- cái làng có đàn muỗi vo ve đến 'chóng mặt'. Về ngược lại Trạch Phổ gần Ưu Điềm bên này sông Ô Lâu nơi nào đồng bào cũng chạy sạch? Chuyến xe tiếp tế cuối cùng và tin chợ Đông Ba cháy đó là những tin tức sau cùng trong đời quân ngũ. Cho đến ngày 23 tháng 3- cái ngày tôi và mười mấy người trong đại đội trở thành tù binh bên sông Mỹ Chánh.  Đám ruộng làng Trạch Phổ, Ưu Điềm thuộc Xã Phong Bình có tên trên tấm bản đồ mà người trung đội trưởng như tôi luôn nhét trong ngực. Tấm bản đồ cùng quả lựu đạn mini nhỏ xíu- quà kỷ niệm của cậu tôi cho ngày ra phép cuối năm 1974 tôi ghé tạt qua Sơn Trà, một đơn vị Lôi Hổ- tất cả đều vứt lại tại cánh ruộng mới cấy đó...

***
       nguồn Thạch Hãn (Ba Lòng)

Dòng suy nghĩ của tôi dừng lại khi toán ‘quân’ nói đúng hơn là toán tù được lệnh tiếp tục đi. Có vài người  kiếm đâu ra thanh cây lụi làm que chống để lên đèo, riêng tôi thì không. Tôi và Ngọc do là hai sĩ quan trung đội nên cùng có nhau trên chuyến đi Ba Lòng này. Có một số khác đều từ Huế ra: Bãi Thuận An, Phú Bài, Trung đoàn 54...chúng tôi chưa biết nhau.

Hơn hai tiếng đồng hồ, toán tù binh đã lên đến đỉnh và tiếp tục đổ đèo. Tầm nhìn bên kia bắt đầu mở rộng trước mắt chúng tôi. Một phong cảnh hoàn toàn khác lạ. Bắt đầu xuống đèo...dưới kia thấp thoáng ánh nước một dòng sông. Thạch Hãn và Thung Lũng Ba Lòng đó rồi chăng?!

                Thung Lũng Ba Lòng hôm nay

***
Khoảng năm 1960, tôi có theo ba tôi lên Ba Lòng. Nhưng lúc đó ba tôi theo đò chèo ngược dòng Thạch Hãn để lên quận này. Thời gian đó, Quận Ba Lòng vẫn còn. Quận và Chi CA  còn đóng trên này.  Tôi mới sáu, bảy tuổi nên trí nhớ không rõ ràng lắm. Giờ này, dù ai có giải thích hay nói một tên khác nhưng tôi từng tới vùng đất dưới kia từ thưở bé thơ. Đó là một ngày có con đò chèo từ thành phố thân yêu đi ngược Thạch Hãn, tận một thung lũng có tên Ba Lòng. Một nơi có làng mạc có dân cư hiền hòa cùng những đồng bắp tốt tươi. Riêng tôi, tất cả hình ảnh nằm trong kỷ niệm như thôi thúc chân tôi bước nhanh hơn để xuống đèo xem tận mắt giờ cái vùng kỷ niệm nay ra sao.

Chúng tôi cố bước theo nhau- những bước chân đi như không định hướng. Sự sụp đổ lan nhanh không ai ngờ mà chẳng ai chống lại được? Tôi vừa đi vừa thả hồn về hình ảnh cũ: Rà Vịnh- Ba Lòng- Bến Đá Nổi, có thể người bên kia chiến tuyến chưa ai từng nghe qua. Đối tôi vẫn giữ mãi trong lòng những cái tên đó...Một ngày xưa có tiếng chèo của người trạo phu khua nước trong đêm, có thằng bé theo cha ngược dòng Thạch Giang lên tận một nơi được người viết xem như là một "thung lũng thần tiên".  

Gần hai mươi năm sau, đứa bé kia lại được về lại cái thung lũng "thần tiên" đó nhưng trong thân phận của người tù binh chiến bại. Ngoái về hướng nam, người tù bình biết chắc một điều là Xuân Này Con Không Về, ba mẹ ơi, người nhà thân yêu ơi xin đừng đợi nữa./.

ĐHL EDIT 30/4/2025

Sunday, April 27, 2025

RỪNG và ĐÓT (hồi ký tù binh)

 AUDIO

=================================

BÀI VIẾT 

    


Gió đón mưa về thêm đau thương trần thế
Người bước nặng nề, tìm chưa thấy tình quê
Ai đã thề và ai đã thề
Có hồn thiêng đất mẹ đang còn nghe ...

( Gió Núi Mưa Rừng / NS Huỳnh Anh)

Nhớ Bình Điền Huế
ĐHL

    Hôm nay khi đã sang xứ người, hàng ngày "lang thang" đọc báo trên mạng chợt tôi bắt gặp những mẫu chuyện nói cây đót miền núi tại quê nhà. Chuyện là hiện nay đót được "nâng cấp, xưng tụng" lên cái tên rất là giá trị đó là LỘC RỪNG. Bài viết trên báo chí cũng là hình ảnh hay số phận hẩm hiu người dân nghèo khổ miền núi trong thời kinh tế đổi mới trong lúc người dân thành thị lại ấm no đầy đủ hơn nhiều.

     Một đất nước sau nhiều thập niên "thay ngôi đổi chủ" bao lớp dân nghèo vùng núi vẫn cam chịu cuộc đời thiếu thốn đói khổ. Rừng thiêng vừa sau cảnh chiến tranh nay lại biến thành "người bạn" thân hàng ngày sẻ chia,  che chở cho bao số phận của người miền núi. Nói không hết bao hình ảnh từ muôn triệu "của trời cho",  rừng ban ân cho người vùng cao. Gỗ mây măng nứa, những gì của rừng cũng biến thành nguồn sống nuôi người. Cây đót cũng thế, đót cũng là tiền giúp người thoát khổ. 


    Chuyện đáng ngạc nhiên cho người viết do ngày xưa người ta chưa bao giờ tưởng tượng ra hay kể "số vào đâu" về cây đót hay nguồn lợi từ đót. Cảnh biển dâu ai mà đoán được? thời nay đót cũng là "cơm gạo áo tiền" cho người miền núi và dĩ nhiên  là ...nghèo!


 




     Cây đót mọc nhiều ở đâu? có thể là dọc theo dãy Trường Sơn miền Trung vùng khí hậu nóng ẩm hơn miền Bắc. Miền núi Quảng Trị, từ những rú càn La Vang, Tích Tường, Như Lệ, Ái Tử đi lên chúng ta đã thấy nhiều đồi đót mọc chen với lau lách. Ba năm 1975-1977 ở "Trại 4 Ái Tử", trại tù phía lưng Chùa Sắc Tứ ngó lên. Chúng tôi từng toán đi kiếm đót về, phơi khô thân đập ra và đan thành từng tấm phên vuông, lót nằm.

    Sau này tôi lại có thêm kỷ niệm về đót do những năm tại Bình Điền, chúng tôi từng đi hái đót mang về cho Trại hay cho cái "nợ trần gian" đó là  "lao động cải tạo ".

            hình-PHƠI ĐÓT

  

     Rừng đót Bình Điền nhiều lắm, nhất là dưới chân ngọn núi từng mệnh danh là Căn Cứ Bastogne- Tây Nam Huế ngày xưa. Cứ đến mùa đót nở hoa mới thấy đót ở đó nhiều vô số. Ngày nay đót được người mình ưu ái gọi là "lộc của trời" do nó hái ra tiền bạc. Ngày xưa đót chỉ có giá trị đối với đời tù chỉ là vài khúc sắn, chia phần trưa sau khi người tù hoàn thành nhiệm vụ bẻ đót cùng cân đót. 

    Người kể chưa quên hình ảnh cái "nồi quân dụng" trong bếp tù. Thứ canh sắn cắt mỏng, khá lắm được nêm thêm thứ ruốc Thuận An do Trại vừa đi Huế "bán đót" mua ruốc lên cho tù. Phải kể thật lòng, ngày đó là loại ruốc "quỷ tha ma bắt"...nồi quân dụng canh sắn nấu xong, vỏ giòi nổi lềnh bềnh. Dù sao có ruốc còn hơn không, nồi canh nêm ruốc tất nhiên phải "chất lượng" hơn món "canh đại dương"  là nước muối nấu sôi, trại thêm cho ít mở và bột ngọt. 

    Thôi người kể xin bỏ qua chuyện này để tiếp về câu chuyện của đót và rừng Bình Điền Tây Nam Huế.

============================== 
một vài hình ảnh căn cứ Bastogne 

căn cứ Bastogne một thời Mùa Hè đỏ Lửa, có ngờ đâu sau 1975 lại là những trại "tù cải tạo'


Tái chiếm Bastogne 
Ngày 15 tháng 5/1972, để tái chiếm một vị trí trọng yếu đã bị rơi vào tay Cộng quân, tướng Phú đã tổ chức một trung đội cảm tử quân gần 40 chiến binh do một thiếu úy chỉ huy, được trực thăng vận nhảy ngay xuống căn cứ Bastogne (trích FB)


============================ 
...

    Những toán tù được "giao khoán" cân lượng, chia lại cá nhân mỗi người bao nhiêu ký đót. Bạn đọc có thể thắc mắc tù thì đi hái đót làm gì? Hồi này cũng là "lộc của trời" nhưng lộc này thì cho Trại về bán cho Huế đó thôi. Những năm 1979 và 1980 có thể người dân Huế có dùng những cái chổi đót được hái từ rừng Bình Điền cũng nên.

Đi bẻ cây đót thật vui vì chúng tôi có dịp "dạo chơi", chen lẫn trong rừng đót, được những giây phút thảnh thơi với hoa lá không có ai canh giữ theo mình. Đỉnh Bastogne không còn xa xôi nữa; nó, trước mắt chúng tôi và chẳng còn cao vì chúng tôi đang ở cạnh nó. Cách bẻ đót khá dễ dàng. Khi hoa đót bắt đầu bung, màu còn hơi xanh, là thời gian tù đi "thu hoạch ". 

    Không dùng liềm, cũng chẳng phải bẻ 'ngang xương'. Một tay nắm phần lá ngang cái đốt chúng ta muốn bẻ, tay kia cầm bông đót bẻ về phía ngược chiều, thì bông đót tự DỨT RA, không còn dùng dằng, mất thì giờ nữa. Đi hái đót buổi đầu, "năng suất" còn thấp, qua buổi thứ hai thì quen tay, chúng tôi tăng dần lượng đót. 

    Cây lách rừng "ranh ma", mọc xen trong rừng đót. Phần mép lá của cây lách sắc "hơn dao cạo", bao nhiêu lần đứt tay máu chảy ròng ròng; "đưa miệng mút" cầm máu, rồi cũng xong. 

    Mùa đót vào tháng nào chúng tôi chẳng nhớ?mà chẳng cần nhớ làm gì! Nhưng đót không thể "rủng rỉnh" đợi mà trại phải làm gấp chỉ ít tuần trong mùa "ĐÓT RỘ" thôi.  Huế lúc này làm sao mua hết đót trên rừng? Huế sau năm 1975, chỉ còn vài con phố "hiu quạnh". Chủ nhân lớp ở tù, lớp "mất hút" phương xa. Những bà mẹ Huế mãi ngồi "chờ con";đứa ở tù, hay có đứa 'đi mãi' không về, nên để tường ố nhện nhăng.  

    Phố Huế đìu hiu-  u buồn khi khách vắng teo. Chẳng ai màng quét dọn, thì làm sao đót từ rừng về thành phố bán chạy? Vài dãy phố mua bán cầm chừng, tiền bạc hiếm hoi, chuyện "lộc trời" chắc gì khấm khá?


    Xưa, tôi có khi tay cầm chổi đót. Tôi còn nhớ hình dạng cái chổi, qua tay nguòi dân quê hay người thợ nào đó bó cho mà dùng. Giờ, tôi đứng đây giữa rừng đót Bastogne ngày xưa "gầm vang' đại pháo, 155, 175 ly? tất cả đã trả lại im lìm muôn thuở cho núi rừng Truờng Sơn. Lòng cảm thấy vui do tôi vừa biết một chuyện "bất ngờ hay lý thú" nào đó về đót.
 
    Cứ trưa mỗi người mỗi vác đót thật lớn đứng xếp hàng "đếm số" vào lại cổng trại. Cái sân Trại BA giờ đây phơi đầy những hàng đót. Đót khô trại sẽ có xe chở về Huế. Chuyện bán đót là chuyện của cán bộ, đời tù chỉ mong nghe tiếng kẻng để đi nhận phần ăn là xong. Củ sắn, thìa muối sống buổi sáng , phần "
canh đại dương" kèm theo sắn hay khoai chủ yếu thế cơm...thời hái đót tại trại Tù Bình Điền gần 1980 tù phải tự túc có nghĩa là "trồng gì ăn đó". Những cánh rừng sắn bạt ngàn Bình Điền sẽ được thu hoạch và ăn sắn thế cơm. Cơm tù vào thời điểm đó cũng có nhưng rất ít. Do khẩu phần gạo cho 1 người tù mỗi ngày chỉ có đúng 20 GAM? Trại Bình Điền 'lên kế hoạch' cứ 5 ngày mới được thuởng thức một chén cơm từ khẩu phần 100 gam gạo (20gam nhân cho 5 ngày)...
Rõ ràng gạo là "thuốc bổ sâm nhung" phụ cho thời khoai sắn thay cơm.   Đó là thời gian khó quên, những kỷ niệm "rưng rưng " với đót, với  Trường Sơn - Huế,  từng chan hòa với những cánh rừng đót lung lay theo gió Trường Sơn.

    Người kể nhớ làm sao ngày đó từng cùng nhau bó đót để đổi miếng ăn cho tù, là kỷ niệm buồn nói cho đúng là cay đắng làm sao. Tôi nghe chuyện đót của người dân mình miền núi hiện nay, lòng lại nhớ nhớ thương thương về  mấy canh rừng no nắng trên vùng Bastogne, từng rực lửa chiến tranh vùng Tây Nam Huế.


    Nhưng nói cho có nói đó thôi.  Ý niệm hận thù, ghét bỏ, đã qua đi như ngọn gió rừng lao xao lướt qua thảm rừng đầy tràn hoa đót. Giờ đây đót vẫn còn ; nhưng là tiền, là gạo,  cho bao lớp tuổi thơ VN, đời sống bấp bênh, nghèo đói so với tuổi thơ thành thị. 

 Qua nửa thế kỷ rồi, nhưng người viết vẫn tin hôm nay hoa đót vẫn  mãi theo đu đưa như "ru đời" theo từng cơn gió núi. Đót Trường Sơn vẫn vươn qua bao tàn phá của những bàn tay tham lam mở đất; đót còn nuôi em, nuôi mẹ vùng cao. Xã hội còn nghèo, hay tình nguòi cùng sự công bằng xã hội "còn nghèo"?  Trường Sơn vẫn oằn lưng chịu bao nhát chém của lòng tham ; đất Cao nguyên vẫn lở lói cho 'tiền muôn bạc tỷ' của những kẻ ngất ngưởng quyền uy ! Người dân núi vẫn nghèo, tuổi thơ vùng cao vẫn đói ! Bó đót qua thác vượt ghềnh, vẫn chống chọi với cái chết để đổi lấy miếng cơm! những chiếc cầu "công lý" vẫn chưa nối bờ cho đám dân rách rưới xác xơ ? 


HÌNH - trẻ em miền núi đang thiếu CẦU 




   Thôi, biến cố nào cũng qua, sướng khổ nào cũng hết;  xin lắng tâm tư về kỷ niệm , mong sóng lặng gió qua bình yên như nước hồ thu. Trong muôn vàn ký ức của những thế hệ , những lớp người đi trước , bao nguòi Việt Nam dù bắc hay nam, dù người linh VNCH hay bộ đội 'cụ Hồ", chắc hẳn có nhiều người mang nặng dấu ấn Trường Sơn, trong đó có hình ảnh những rừng đót hoa nở trắng phau lung linh trong nắng. Tôi không ngờ hôm nay những hình ảnh và câu chuyện về đót cũng được nằm trong vùng kỷ niệm ./.

EDIT 50 NĂM HỒI TƯỞNG THÁNG TƯ ĐEN 


ĐHL 30/4/2025


NGƯỜI LÍNH GIÀ XA QUÊ HƯƠNG & LẶNG NGỒI NHỚ MỘT THÁNG TƯ (ĐHL)

BIA MỘ CỦA CỐ ĐẠI ÚY TQLC TRÂN VĂN LOAN


bài viết của Đinh Hoa Lư để tưởng nhớ Anh Trần Văn Loan cựu HS Trung Học Nguyễn Hoàng QT cựu đại úy Trung Tâm Hành quân SƯ Đoàn TQLC /  QLVNCH

TRẦN VĂN LOAN: NGƯỜI LÍNH GIÀ XA QUÊ HƯƠNG

by ĐHL 


Anh Loan người thứ hai từ trái qua (hàng trước) trong đại hội TQLC năm 2010 tại San Jose 

Người lính già xa quê hương 
nghe trong tim đêm ngày trăn trở 
nhớ quá một thời chinh chiến gian lao .. (
 Nhật Ngân)

Tưởng nhớ hương linh Anh Trần Văn Loan cựu đại uý Trung Tâm Hành Quân - Sư Đoàn TQLC VNCH



Ngày xưa, có nghĩa là trước 1972, nếu ai có dịp đi vào Thành Đinh Công Tráng, trước khi vào Thành bạn sẽ gặp bên trái là Trường Nam Cửa Hữu và phía tay phải là một cái nhà ngói kiểu xưa xung quanh bao bọc một hàng rào dâm bụt (dưa Tàu) cao rậm xanh tốt đó là nhà của Anh Trần Văn Loan đó. Gặp anh tại những cuộc hạnh ngộ cựu học sinh Trung Học Nguyễn Hoàng Quảng Trị anh đã chỉ cho chúng tôi địa điểm căn nhà anh ở, lớn lên với tuổi học trò cho đến ngày tình nguyện tòng quân vào Võ Bị. 

"NHÀ ANH ĐÓ ..." anh cho hay một cách khá bất ngờ khi lưu vong qua Mỹ mới biết. Nhà anh không xa ngôi trường kỷ niệm của chúng tôi, những học sinh QT, đó là Trường Nam Cửa Hữu.


                      
                       MŨI TÊN CHỈ NHÀ ANH TRẦN VĂN LOAN trước 1972 

Qua Mỹ người viết mới có dịp anh Loan cựu đại uý TQLC một người từng ở tù 'cải tạo' tại Ái Tử. Vợ chồng tôi biết anh qua những lần tranh đấu chống Cộng và những thành phần thiên tả tại thành phố San Jose này. Tôi biết anh trong những dịp sinh hoạt Đồng Hương QT và nhóm Cựu HS Trung Học Nguyễn Hoàng tại đây.

Chúng tôi còn biết anh trong những dịp sinh hoạt kỷ niệm TQLC tại San Jose. Lúc này anh là người vừa MC vừa viết lại những trang sử hào hùng trong đơn vị.

 Những lúc này anh biên soạn lại rất công phu và nhiều chi tiết hoạt động hành quân hay những trang sử của Sư Đoàn được anh hâm nóng, khơi lại sự chiến đấu can trường của người chiến sĩ VNCH.


anh Loan @ Liên Trường Quảng Trị Bắc California 
                                        Họp Mặt Đầu Năm

5 tháng 3, 2016

Đồng hương Quảng Trị cũng có thiện cảm khá riêng cho người lính Mũ Xanh do sự hi sinh to lớn của người lính TQLC trong việc tái chiếm Cỏ Thành. Ôi! bài hát "Cờ Bay ...Cờ Bay" từng đi vào lòng người Quảng Trị và người Lính TQLC vẫn được hát lại mãi nơi xứ người!
...
Người lính già xa quê hương 
Bao nhiêu đêm anh nằm không ngủ 
Nhớ quá Mẹ hiền, nhớ quá anh em ... (Nhật Ngân)

Sau ngày tan tác 1975, trong cuộc sống lưu vong, chúng tôi thương cảm cho anh một người sống qua 4 thập niên tại xứ người trong "cô đơn chiếc bóng".  Bệnh hoạn càng ngày càng gậm nhấm dần hồi trong cơ thể một người còn nhiều hoài bão và ước vọng cho tổ quốc ...

Lần cuối hai vợ chồng chúng tôi gặp Anh trong lần sinh hoạt kỷ niệm TQLC vào năm 2016 (hay 2015) tại Nhà Hàng Phú Lâm San Jose trông sắc diện anh tiều tuỵ hẳn đi? Khi gặp chúng tôi, mắt anh sáng lên và nói một câu như là lời 'trăn trối, dặn dò':

-HAI EM NHỚ TỚI LUI ANH EM (TQLC) NHÉ!

Từ sinh hoạt đơn vị đó anh yếu dần và hay được cấp cứu tại BV Stanford. Đồng Hương QT cùng hội Liên Trường cùng vài lần thăm anh.  Ai ai cũng ái ngại và xót xa cho hoàn cảnh bệnh tật và đơn chiếc của Anh Loan .

Những người lui tới, ngoài đồng hương chỉ còn lại là những chiến hữu tại San Jose một thưở cùng mang màu cờ sắc áo và một lý tưởng chiến đấu cho đến ngày "gãy súng". 



Funeral at Oakhills 21/3/2018 San Jose

Người dân San Jose thương anh Loan ngoài những hình ảnh đấu tranh tại thành phố San Jose này còn ngậm ngùi cho hình ảnh người lính già một thân lẻ loi cho đến lúc "chiều tà xế bóng"! nhưng số phận định phần làm sao tránh được?

 Chúng tôi hiểu và hình dung trong tâm hồn anh luôn mãi mong hay
" vẫn thấy trong tim canh cánh đường về 
Vẫn thấy nơi đây chỉ là đất tạm 
Thầm hẹn ngày về chết giữa quê hương" (lyrics 
 Nhật Ngân)

Hôm nay người "Lính Già Xa Quê Hương" đã vĩnh viễn chia tay với đồng đội, với đồng hương với những người bạn tù hay bạn học...Anh Trần Văn Loan đã đi xa, thanh thản nơi đó một cõi trời riêng không có hận thù chia cắt không còn u uẩn oán hờn hay nhớ thương buồn giận.


Người viết cũng mường tượng trước khi bay xa Anh có thể 'ghé' về Quảng Tri. Trước Cổng Thành xưa có căn nhà ngói ngày ngày u tịch, im lìm khuất sau hàng dâm bụt cao xanh, một thời HỌC TRÒ./.

TƯỞNG NHỚ ANH TRẦN VĂN LOAN 
ĐHL 13/3/2018
Funeral at Oakhills 21/3/2018 San Jose













nơi yên nghỉ của Mũ Xanh Trần văn Loan 


===================== 

LẶNG NGỒI NHỚ MỘT THÁNG TƯ

MỘT KHOẢNG TRỜI XANH CHO TÔI NGỒI NHỚ THÁNG TƯ





MỘT KHOẢNG TRỜI XANH CHO TÔI NGỒI NHỚ THÁNG TƯ



   







    Tôi lặng lẽ ngồi yên ở vườn sau, cố chăm chú ngước nhìn lên bầu trời xanh trên cao. Sáng nay tôi chợt cảm thấy tâm hồn mình lâng lâng rất lạ...


    Vẫn biết đây là bầu trời xứ Mỹ, nhưng nếu tôi không nói thì khó ai biết được? Trời là trời, nơi nào mà chẳng giống nhau. Tôi cứ thả hồn bay bỗng, cứ cho trên kia là bầu trời quê hương. Ngẩng đầu lên để ngắm một màu thanh thiên bất tử.  Trong khoảnh khắc, tôi đưa trí tưởng tượng về phương trời xa xưa nào đó...


MỘT KHOẢNG TRỜI XANH TRÊN CAO 


Ngày đó khi hạ về, có những ngày trời trong xanh, không một dáng mây. Mấy mươi năm sau, nửa đời người sau bầu trời này chẳng gì khác biệt. Hay trời hôm nay không một cánh chim hay một cụm mây la đà bay về tận chân trời góc biển nào đó.


Bầu trời trong xanh là cả một không gian vô tận, không còn biên giới cho tầm mắt. Từ ngày  bé dại cho đến khi tuổi xế chiều hay  mãi mãi sau này tôi tin nó là màu xanh bất diệt. Nắng tháng Tư về, dưới khoảng trời trong vắt, tôi tưởng tượng như có phép mầu thu mọi sự kiện từ khoảng cách tới thời gian về một điểm chung không còn ranh giới giữa xa-gần, xưa-nay, già-trẻ. Bầu trời xanh bất tận kia  bao hàm sự tự do tuyệt đối. Làn sóng phóng đãng của tư duy cùng trí tưởng tượng sẽ thắng được mọi cánh chim trời. Do loài chim dù tự do bay nhưng vẫn có ngày rã cánh. Đám mây trời nào mà tránh được tan loãng sau một hành trình la đà thênh thang?


Trí tưởng tượng của tôi chợt lan man, đầu tiên có một đoạn của bài thơ CHIỀU của thi sĩ Hồ Dzếnh:


Trên đường về nhớ đầy

Chiều chậm đưa chân ngày

Tiếng buồn vang trong mây

Chim rừng quên cất cánh

Gió say tình ngây ngây...


Tôi nhớ lõm bõm chỉ ngần ấy thôi trong bài CHIỀU của người thi sĩ. Chỉ vài câu nhưng lại có những cái đích của sự vật như con đường, cánh rừng, hay cánh chim và đám mây để người thi sĩ năm xưa đặt nỗi nhớ vào đó. Đúng thật, những sự vật gần gũi cho ta đặt niềm nhớ nhưng vào đó thật dễ dàng và rất nhạy cảm cho những tâm hồn hữu tình cùng thi vị. Ngày xưa người thi sĩ đã buồn nhờ vào một cảnh chiều trước mắt người lãng tử và bước chân phiêu du. Có thể cảnh chiều buồn đã giục chân viễn khách bước nhanh trên đường về cố quận.  Riêng mình tôi hôm nay chỉ được cái tự do là ngắm lên một bầu trời xanh để cố tìm, lục lọi trong quá khứ xa xưa có những khoảng trời xanh bao la bất tận của ngày xưa? Một ngày xưa tôi chỉ có vài lúc ở chốn núi rừng làm bạn với chim muông cây cỏ và có một bầu trời trong xanh những lúc trời quang mây tạnh.  Chỉ có cái khác với bài thơ  CHIỀU do hiện tại có nhiều lớp người cùng hoàn cảnh giống tôi, đường về cố quận chắc sẽ gập ghềnh vách núi, nói trắng ra là không còn nữa.


*

Qua đám lá mới thay mang màu huyết dụ, đỏ bầm của cây plum, một khoảng trời cao cho tôi ngồi đây để có vài ấn tượng hay suy nghĩ bâng quơ. Nếu trong khoảng trời xanh hôm nay, có đám mây nào đó đang thênh thang bay,  tôi có thể định nghĩa cho một tự do nào đó.


Bầu trời hôm nay rất quen, quen từ thuở nào ... có thể là thời lính chiến khi nhiều lứa trai như tôi cùng khoác màu áo trận. Lúc đó nói đúng ra là đúng nửa thế kỷ trước chúng tôi những người lính hay nghêu ngao hát.

 chỉ có đất là lạ, là điểm cho tôi biết sự khác nhau về nơi chốn xa và gần, quê mình và quê người. Tôi nhớ lời bài hát năm xưa- thời thanh niên, đúng ra là đời lính chiến...


Tôi ở miền xa,
Trời quen đất lạ
Nhiều đông lắm hạ,
Nối tiếp đi qua
Thiếu bóng đàn bà, ..(KẺ Ở MIỀN XA/ TRÚC PHƯƠNG)




Ngày đó, chuyện xa...dù sao cũng là tương đối. "Trời Quen Đất Lạ" cũng tương đối. Đó là khoảng cách giữa Tiền tuyến-Hậu Phương. Chỉ xa nhau ngần ấy thôi trong vài mươi cây số nhưng người lính chiến đã cảm nhận quay quắt sự trống vắng, thèm khát cùng nỗi nhớ ngất ngây và ước ao cháy bỏng...

Xin đối diện một lần bên tôi
Cho tôi yêu bằng hình hài đó không thôi
Đến với tôi, hãy đến với tôi
Đừng yêu lính bằng lời


 
 Đúng năm mươi năm qua kể từ ngày ra đơn vị, lại một lần nữa tôi có cơ hội ngước nhìn lên bầu trời cao và trong xanh và kỷ niệm một thời trai trẻ hiện về. Tuổi già ập đến nhưng tôi còn mừng do tâm trí giúp tôi biết sự khác nhau về nơi chốn, xa và gầnquê mình và quê người.  Bao "Kẻ Ở Miền Xa" trong một bài hát hay tâm sự cho bao lứa thanh niên, đúng ra là đời lính chiến thường nghe cùng lẩm nhẩm đến thuộc lòng. Bài hát đó hay thân phận làm trai, ra đi, chiến đấu, cuối cùng ngày chịu đựng một thiệt thòi thua cuộc cùng số phận  đất nước tang thương. 


Rồi nửa đời người qua nhanh. Bạn và tôi cùng bao biến đổi cuộc đời, xao xác cảnh biển dâu như sóng ba đào ập vào ghềnh đá rồi biển cũng lặng sóng êm, nhưng thời gian của năm thập niên, nửa cuộc đời, phù du như giấc ngủ ban trưa. Tôi lại nghĩ phải tự an ủi cho mình do hôm nay tôi còn may mắn ngồi ngắm một bầu trời thật xanh, quảng khoát, thật sự tự do. Trên cao kia là một sắc màu tuyệt đối nhưng chẳng có gì, sự vô vi mà giải thích của con người chẳng còn ý nghĩa.  Có thể đó là sự vô tận của vũ trụ, một thứ mà thời gian chẳng là gì cả. Một bầu trời xanh không là quá khứ và chẳng là tương lai, nơi sinh diệt, hơn thua, thắng bại, sướng khổ, nhục vinh ...tuyệt  đối chẳng có ý nghĩa nào.  Một vũ trụ đi mãi đến vô cùng, nơi tư duy của  con người nhỏ bé như tôi hôm nay vĩnh viễn chẳng bao giờ với được ./.

 

ĐHL

 NHỚ VỀ MỘT THÁNG TƯ



BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT- THẢM NẠN MỌI MẶT MÀ TRUMP GIEO CHO NƯỚC MỸ KHÓ BỀ HÀN GẮN

thưa bạn đọc Trước bầu cử 2024 có nhiều nhà phân tích chính trị đã cảnh báo cho nước Mỹ về những biến loạn cho Mỹ và cả thế giới nếu Tru...