Monday, July 21, 2025

THÀ CHO LẦM HƠN BỎ SÓT

 


Chào bạn đọc,


Mỗi lần ra khỏi khu chợ Ocean Market, thành phố Milpitas còn vài đồng lẻ nào trong túi tôi hay cúi xuống bỏ vào lòng bàn tay của một bà già người bản xứ thường ngày ngồi bên lối ra. Chỉ hai hay ba đồng có khi nhiều lắm là 5 đồng thôi nhưng có lúc bà già đó cúi đầu, thậm chí chấp tay rối rít cám ơn làm lòng tôi thêm ái ngại. Khu chợ Ocean Market có cái hay là không có người homeless lai vãng, nguyên nhân do sao tôi thật sự không biết. Chỉ có một khám phá nhỏ tôi biết được người "ăn xin" Mỹ hay tới các khu chợ Việt Nam, kể cả những tiệm bán thức ăn nhanh nơi có đông khách Việt. Có thể họ đoán rằng người Á Châu hay động lòng trắc ẩn hơn người bản xứ tại đây. 
Có khi tôi lại ao ước tôi có điều kiện tôi sẽ làm việc từ thiện nhiều hơn.  Ra đường càng lúc tôi càng thấy người homeless nhiều hơn. Các khu đất công, các lối ra xa lộ dọc theo các bức tường cách âm càng đông người vô gia cư. Thành phố dẹp chỗ này thì họ dời qua nơi khác...vấn nạn người nghèo người vô gia cư càng đông dù kinh tế Mỹ càng lúc càng phát triển, số tỷ phú đô la càng ngày càng lắm.

Người viết mong đi qua chuyện khác. Chúng ta có nên bố thí hay dẹp đi tư tưởng hành thiện do nhiều lý do khách quan chủ quan tác động? 
Chuyện là vầy, sau khi bạn có hành động bố thí dù có cho lầm hay không lầm tâm tư chúng ta vẫn gặt hái được sự thanh thản hay khích lệ nội tâm.

Do đó là sự thật.


THÀ XÂY DỰNG NIỀM TIN TỐT HƠN CHỨA CHẤT LÒNG NGHI KỴ


 NIỀM TIN VÀ CUỘC SỐNG

Bạn thân ơi cố gắng yêu thương người
Dù người không yêu ta hãy cứ yêu thương hoài
Mặc người ai quen ai hãy cho nhau một lời
Dù là lời nghe chua cay dù là lời thoáng qua tai...

(Lê hựu Hà/ Yêu Người Yêu Đời)


  Thưa bạn đọc

Nghi kỵ trong chia sẻ, hành thiện, có khi làm phai nhạt lương tâm con người. Thà mình bị lầm hơn là đánh mất đi cơ hội làm việc thiện. Thí dụ, ngay trong xã hội Tây phương đa số những người homeless thường là nạn nhân của định kiến như...

-Cho tiền họ làm chi, họ chỉ biết đi mua thuốc hút thôi 

-Có khu ở cho người homeless chứ nhưng họ "ưa đi lang thang thôi

- Hạng người đó phần nhiều là tội phạm không bao giờ hoàn lương đâu
v v...

Dù miệng đời có phán xét thế nào chăng nữa, những người homeless họ vẫn khổ dù có hút hay không hút. Kiếp lầm than bên hè phố những ngày giá buốt hay hè nắng nung người. Không kẻ homeless nào muốn mình khổ như thế. Cho đến lúc họ chết đi  vẫy tay vĩnh biệt cuộc đời tục lụy, sẽ được thoát hay “được giã từ” để khỏi bị gán cho những phán xét khắc nghiệt, lạnh lùng.

 Xin các bạn hãy thử làm ngược lại hoàn cảnh, thử biến mình là "nạn nhân của lòng nghi ngờ; giả dụ bị bỏ đi trong sa mạc nóng bỏng với cơn khát dày vò hay bị hành hạ trong cơn đói lạnh, bơ vơ không nơi nương tựa đang cần bàn tay thương cảm của thế nhân nhưng bị nghi oan thì đau khổ biết bao?


THÀ CHO LẦM HƠN BỎ SÓT HÀNH THIỆN

DO HÀNH THIỆN LÀ NGÔN NGỮ CỦA CON  TIM 


những căn nhà tí hon (tiny homes) tạm dành cho người vô gia cư tại Mỹ 
San Jose has some small solutions for a very big problem in the form of tiny homes that will provide temporary shelter for homeless people. After years of debate the first of two planned locations has officially opened (3.3.2020)


MỘT VÀI CHỨNG DẪN TỪ NHỮNG TRIẾT GIA NỔI TIẾNG NGÀY TRƯỚC

    Chúng ta hãy đặt dấu hỏi phải chăng chúng ta nên để con tim làm theo bản năng của nó; đó là tình thuơng và cảm xúc chân thật. Tiếng thở dài và xúc động chính là tiếng nói tự nhiên của con tim là tình cảm đích thực và cũng là tiếng lòng chân thiện. Trái tim không có phân biệt hơn thua, giả thật và nghi ngờ nào, nếu có thì đó là vấn đề của lý trí. Chính lý trí mới có nhiệm vụ nói trên. 

    Ngày xưa kịch gia, thi gia  nổi tiếng Pháp là Moliere (Jean-Babtiste Poquelin)  từng cho rằng dù thật sự hàng ngày  lý trí chi phối con người nhưng lý trí không phải là thứ điều khiển được tình yêu. Nói cách khác tình yêu vượt lên trên lý trí.

"Il est vrai, ma raison me le dit chaque jour
Mais la raison n'est pas ce qui règle l'amour."

Le Misanthrope, I, 1, v. 247-248

--------------------------------------------


Osho nhà thần học gốc Ấn Độ có nói câu nói khá hay:
-Trái tim không biết thế nào là nghi ngờ, trái tim chẳng biết niềm tin là gì - trái tim đơn giản chỉ biết TIN mà thôi
Heart doesn't know what doubt is, heart doesn't know what believe is -heart simply knows trust . 

Thomas Shade một kịch gia Anh Quốc (1642-1692) ông nói...

"Lời nói có thể dối trá nó là cả một nghệ thuật lọc lừa; nhưng tiếng thở dài mới chính là ngôn ngữ đích thực từ trái tim ta"

(“Words may be false and full of art,

Sighs are the natural language of the heart.”)


Chính triết gia và nhà toán học nổi tiếng Pháp là Blaise Pascal cũng chứng dẫn hành động từ con tim là một phản xạ tự nhiên của tình người không phải là hành động sau khi "sàng lọc và tính toán" của lý trí
Ông từng viết: Con tim có nhiều lý do của nó mà lý trí không hề biết được- Le Coeur a ses raisons que la raison ignore ( Pensées - Pascal )

Bởi vậy, khi trái tim xúc động từ chứng kiến nhiều cảnh đau khổ trên đời hãy làm việc thiện, hãy giúp đỡ tha nhân. Bạn chớ nghe ai để cho trái tim mất đi một cơ hội của thương yêu và giúp đỡ ( hành thiện).


*

Nhiều kẻ bất lương chuyên lợi dụng lòng hảo tâm của người đời. Họ thường cải trang, giả danh bệnh nhân, người khuyết tật, con cái gặp nạn v v... hầu 'moi' tiền những ai cả tin, nhẹ dạ. Kết hợp với sự phát triển kỹ thuật từ vi tính cùng những mạng giao lưu rộng rãi hiện nay,  thủ đoạn lừa gạt của những kẻ bất lương này càng lúc càng tinh vi khiến chúng ta khó lòng tin ai đúng vào hoàn cảnh khổ sở thật?

NHƯNG KHÔNG PHẢI AI ĂN XIN CŨNG LÀ GIẢ



Báo giới VN cho rằng: ...Vì tiền, những kẻ lừa đảo vô tình đưa người khốn khổ thật sự rơi vào tình trạng khó khăn hơn nữa. Bởi công việc xin ăn, một công việc bị xem quá đỗi thấp kém trong xã hội, nhận thêm sự nghi ngờ của nhiều người tốt muốn làm việc tốt. Những người đang gặp khó khăn thật sự phải sống bằng cách nào khi họ không có khả năng lao động?” (trích)

Nếu lòng tin của chúng ta đã cạn, sự nghi ngờ chiếm hết lòng từ tâm của ta, khóa ngõ trái tim, thì xem như hoàn cảnh của những người khốn khổ thật sự họ sẽ  đau khổ thêm biết chừng nào. Họ sẽ là nạn nhân trực tiếp từ hành động bất lương của những kẻ lừa gạt, tán tận lương tâm; nhưng cũng là nạn nhân gián tiếp cho sự nghi ngờ khi chúng ta chỉ hành thiện theo phán đoán đúng sai của lý trí hơn thiệt. 

                                                ***
   Như vậy, khi làm một điều lành bỏ qua lý trí, thì đó là hành động từ trái tim. Lý trí bắt ta phải điều tra hư thực xong mới ra tay nghĩa hiệp; trái lại, khi xuất phát từ con tim thì không bao giờ, do con tim chỉ biết một điều đơn giản là TIN thôi. 

Có thể chúng ta sẽ trở thành mù quáng do thấy khổ là giúp. Nghĩ kỹ lại, thà lầm còn hơn để sót những trường hợp có thật. Bỏ sót như vậy sẽ làm con tim hay lương tâm chúng ta  áy náy cắn rứt do chúng ta phán xét lầm người.

   Quả thật, xã hội hiện tại quá nhiều chuyện "vàng thau lẫn lộn". Không biết cơ man nào là kẻ gian tà ác tâm gian trá cố tình trà trộn vào đám đông cùng khổ càng lúc càng đông để thủ lợi kiếm chác. Chính bọn bất lương đó đã gây mối họa càng lúc càng nhiều cho những người khốn khổ đang cần tha nhân giúp đỡ và an ủi.  Thành phần gian xảo đó, họ làm do lòng tham chưa nói, chúng còn quá ác độc. Thật vậy, đang tâm hành động thế chính là những "nhát dao" chém vào  những "vết thuơng chưa lành" cho những người thực sự đang đau khổ từ vật chất lẫn tinh thần. Bọn gian trá đó là những kẻ hèn nhát nhất và tàn nhẫn nhất do họ đã cướp đi những hơi thở cuối cùng của những ai bị nạn đang sống tận cùng dưới đáy xã hội. Bọn gian trá đó  là những người gián tiếp ngăn chận, xóa đi lòng nhân ái, phá hủy lương tâm con người. Chúng ta không còn lời lẽ nào dán vào những con thú đội lốt người này. Họ là những kẻ đã gián tiếp xóa đi lòng từ tâm của chúng ta, làm cạn kiệt lòng tin khi con tim chúng ta càng lúc càng trở nên chai đá lạnh lùng.

  Trở lại vấn đề, thế thì khi chúng ta làm việc thiện nhưng bị lầm thì có nên ân hận không?  

Bạn chớ  ân hận gì cả

Frank Crane (1861-1928), một giáo sĩ giáo hội Mỹ cùng là một nhà báo và tác giả nhiều cuốn sách về đạo đức có nhắc nhở thế nhân về lòng tin như sau:

-Bạn có thể bị lừa nếu tin nhiều quá, nhưng bạn sẽ bị dằn vặt nếu không đủ lòng tin(You may be deceived if you trust too much, but you will live in torment if you don't trust enough)

 Bác học Albert Einstein có câu nói đáng cho chúng ta suy nghĩ:

-Nếu có ai làm mất lòng tin của bạn, đừng tự cho mình ngu đi tin lầm. Bạn không làm gì sai cả, chính họ mới là những tên không còn giá trị và đáng tin nữa.


(When someone breaks your trust. Don’t feel stupid for trusting them. You didn’t do anything wrong, they’re just an untrustworthy person.)

Chúng ta sẽ chọn hoàn cảnh nào?

Khi gặp người hoạn nạn, khốn cùng, kẻ bơ vơ lạc lõng hay tuyệt vọng bi thảm, xin bạn hãy đưa tay ra cứu vớt và hành thiện. Thà ta bị lầm còn hơn bỏ sót một cơ hội cho trái tim ta "nói lên tiếng nói" của mình.


Xã hội sẽ trở nên ảm đạm u buồn nếu đa số chúng ta đều mang trong lòng sự nghi ngờ, phòng thủ, bất tín lẫn nhau. Khi lòng tin và tình yêu hay tình thương cạn kiệt hoàn toàn thì trái đất này đích thực sẽ trở thành một bãi tha ma hay băng giá toàn bộ.  Tưởng tượng xa hơn ngày đó con người sẽ trở thành những người máy biết đi do hai chữ TIN YÊU hoàn toàn khô kiệt

Thà Cho Lầm Hơn Bỏ Sót- do chính đó là Đóa Hoa Tinh Thần chúng ta không nên phụ bạc . /.


ĐHL edition 21/7/2025



ĐHL edition 

5.7.2023

Saturday, July 19, 2025

NGẮM LẠI HÌNH CÁI LÔ CỐT và CÁNH ĐỒNG XƯA CỦA QUÊ HƯƠNG KỶ NIỆM

  HÔM NAY nhờ vào thời đại Internet qua Google Map tôi ngắm lại hình ảnh cái lô cốt xưa chợt trong lòng dâng lên hình ảnh cũ ngày RA ĐƠN VỊ vào cuối năm 1973.

    Ngày đầu nghiệp lính người viết vừa tròn HAI MƯƠI tuổi đời. Giã từ Quân Trường Đống Đế Nha Trang và đã chọn quê hương Quảng Trị để VỀ. Chữ VỀ ở đây là về với quê hương Quảng Trị một vùng đất "Nuôi Tròn Tuổi Lớn" khi người học trò cùng bao người QT phải ra đi một cách "bất đắc chí" từ ngày Hè Đỏ Lửa 1972. Ngày ra đi, người viết tròn 19 tuổi và phải gác đi bao dự tính tương lai của lứa tuổi học trò.



    Về lại quê hương, khi đại gia đình đã lưu lạc vào nam. Nhớ làm sao những ngày mưa lạnh bên cầu Ba Bến. Nhớ những khi ngồi bó gối trong cái hầm đơn sơ giữ Cống Tham Triều. Tác giả còn nhớ con đường tỉnh lộ nhìn trên bản đồ Bộ TTM là Tỉnh Lộ 555. 

    Có những khi tản bộ từ Cầu Tham Triều về thăm Đại Đội 2 hay Tiểu Đoàn 105, Tác giả có đi qua cái lô cốt trên. Lô Cốt là từ tiếng Pháp, người QT hay gọi. Ngày xưa còn bé người Viết cũng từng nghe. Hôm nay nhờ vào Wikipedia ...

Lô cốt (phiên âm từ tiếng Pháp: blockhaus, gốc là một từ tiếng Đức) là công trình quân sự chủ yếu để phòng ngự. Lô cốt được xây dựng kiên cố bằng gạch, đá, bê tông... và có lỗ châu mai để bắn ra nhiều phía, có nắp và có nơi nghỉ ngơi cho quân sĩ.

Lô cốt có thể được xây dựng nổi, nửa nổi nửa chìm hoặc lợi dụng sườn núi làm chìm hẳn...(TRÍCH)


BẢN ĐỒ BỘ TỔNG THAM MƯU VNCH


    Rõ ràng hình ảnh của nó, tôi không thể lầm vào đâu được. Lô Cốt thì QT ngày đó nhiều lắm nó tồn tại lâu năm và phá bỏ cũng khó nhưng sau này không ai dùng.

Tưởng cũng nhắc lại một chuyện nhỏ; Cầu Thâm Triều chúng tôi lúc đó còn gọi là Cống Tham Triều do cầu chỉ bắc qua cái mương nước từ Tham Triều chảy ra. Chiếc cầu nhỏ chỉ là một hai vài nhôm tiền chế của Công Binh bắc qua mà thôi. Không có không được, do xe theo Tỉnh Lộ 555 về Ngô Xá, Phương Lang rồi về biển phải theo con đường đó. Còn một chuyện nữa; trong bản đồ chúng tôi chỉ đọc Thôn Tham Triều và người quê mình vẫn gọi là Thôn Thâm Triều nói vậy mới đúng. Bạn đọc thấy trong bản đồ trên có in Làng Đại Hào thực ra người Triệu Phong nói còn có thêm làng Đại Hòa ( quê ngoại vợ người viết) nữa nhưng làm sao in hết? Cả miền nam rộng lớn, bản đồ của Bộ TTM ghi thiếu một đơn vị nhỏ như thôn (hay còn gọi là làng) mình cũng "du di thông cảm" đó thôi...

    Tác giả chưa quên, có thể hay đi bộ theo con tỉnh lộ 555 đó, trên đồng ruộng Tham Triều ngày đó còn có xác một chiếc trực thăng Cobra của Mỹ bị rơi. Chiếc máy bay còn khá nguyên vẹn; nhưng sau này dĩ nhiên nó đã biến mất, thiết nghĩ nó có thể bị cưa đi nấu đúc phế liệu?

    Thôn Tham Triều gần Thôn Nại Cửu quê ngoại người viết; nhưng ngày đó còn thuộc phía bên kia nên tác giả chỉ ngó qua làng ngoại ẩn mình sau rặng tre xanh thôi.  Con sông Vĩnh Định uốn mình theo làng An Tiêm và Nại Cửu, nghe bên kia thỉnh thoảng có tiếng kẻng vọng qua, có thể là tiếng kẻng gọi dân đi họp hay đi làm ruộng...

    Sông Vĩnh Định còn có một nhánh (hình dưới) nhánh này có cầu Ba Bến. Nhánh sông này cũng êm đềm chảy men theo một thôn có tên Tả Hữu, một tên làng người viết cảm thấy rất lạ và nhờ đó nên nhớ mãi cho đến hôm nay. 


Ngã ba sông Vĩnh Định từ cầu Ba Bến ngó xuống 


    Từ cuối 1973 cho đến ít tháng đầu năm 1974, cả tiểu đoàn 105 chúng tôi còn đóng tại cầu Ba Bến và những thôn phụ cận. Dân đang về hồi cư. Thôn Tả Hữu nhỏ lắm chỉ vài chục nóc gia bên cạnh con sông Vĩnh Định vắng vẻ đìu hiu. Giữ Cầu Tham Triều, người viết là kẻ giữ cầu chỉ lo tròn phận sự do đó ít tự tiện đi vu vơ vào làng. Có thể do vậy nên ít người biết người kể chuyện hôm nay. Khác với tác giả, bạn đồng cấp như Lê văn Linh, hắn nhờ ở cạnh với đại đội trưởng Lê Kim Chung nên rảnh rang hơn. Linh tuy là người Huế nhưng hắn hay đi vào làng Tả Hữu. Linh nói huyên thiên, tính ồn ào hơn người viết. Qua Mỹ tác giả may mắn còn gặp lại Linh, trong những kỳ họp mặt bạn tù cải tạo. 


Bạn cùng đơn vị Lê văn Linh (nón beret đen)  trong hội ngộ đồng tù tại San Jose 2014 và 2017 (dưới)



đồng ruộng xã Triệu Tài (năm 1974 tác giả có đóng quân tại Tham Triều -đi ngang đây còn xác chiếc trực thăng cobra của Mỹ rơi trên cánh đồng này, sau này chắc xác nó đã bị cưa bán nhôm nhựa)


Bản đồ chỉ đơn vị Thôn (làng) chỉ đại khái chứ không thể ghi hết được do bản đồ này là bản đồ Bộ TTM ngày trước với tỷ lệ xích là 1/50.000 dành cho toàn miền NAM



    Mùa hè 1974 toàn đơn vị đổi về trấn vùng biển. Từ Ba Lăng cho đến Vĩnh Hòa (trong bản đồ có khi lại ghi là Vĩnh Huề Phường) do cả tiểu đoàn 105 trấn giữ. Đại đội 2 đóng ở thôn Thanh Hội. Tuyến ngưng bắn đang duy trì ổn định hơn các nơi khác. Hè năm đó Người viết giữ thôn Vĩnh Hòa sát mép biển. Cả vùng cát và đồng cỏ hoang vu do dân xã Triệu Vân chưa ai về đến đây. Chỉ là hàng kẽm gai ranh giới HAI PHE chẳng khác chi là "vùng Giới Tuyến" thì ai hồi cư ra tận đây làm gì?

Có một điều về đây, tha hồ đi lưới cá nước lợ. Không có người ở nên cá nước lợ sinh sôi nẩy nở quá nhiều ăn không hết...

    Có con cua nước lợ cả ký lô. Chỉ vơ cành dương khô đốt lên, lính chỉ cần chừng ấy nướng con cua lên bên trong cả bụng trứng vàng khè béo ngậy.  Rồi những lần đi trong khuya vét cá mấy bàu nước lợ, sát biển cá vơ được cả thùng phuy. Ăn cá quá nhiều nổi phong ghẻ ngứa ngáy liên tục, gãi "phù cả người"...

    Đứng ở ngoài này, sát biển từ mấy đụn cát trắng ngó vô tận Long Quang. Cả vùng cát và cồn cỏ hoang chẳng có gì che tầm mắt. Nhưng trong đó không còn tiểu đoàn chúng tôi trấn giữ. Lính thủy trong đó (có thể Lữ Đoàn 258) có ngày "oánh lộn" với phe bên kia, bắn qua lại ì xèo nhưng may không có 'nổ lớn' rồi cũng yên thôi.



    Đời lính đâu dễ gì "hưởng nhàn" một nơi mãi. Hết hè 1974 phải đổi lên núi. Động Ông Đô và vùng lân cận. Tác giả từng có ý đính chính về ba chữ "Động Ông Đô" tại sao lính gọi thế. Phải nói như ri mới là tiếng Quảng Trị gọi từ trước

Động Ông Đô = Độn Ôn Nho 

Trong các bài trước, người viết từng thưa trước với bạn đọc không phải do tác giả tự ý mà chính là nhờ nhớ lại những gì người trước từng gọi. 

Chữ Động tiếng QT gọi là Độn (không có g đàng sau, ý nói đỉnh núi cao nào đó)

    Chữ NHO tiếng QT hay nói chớt giọng "NH" thành "D" như "NHÀ" thành "DÀ" nên NHO thành "DO". Ngày xưa lúc còn tiểu học người viết cũng "trầy vi tróc vảy" khổ sở luyện giọng từ cái âm "NH..." đó do cứ đọc thành "D..." hoài?! (đi xa dớ dà" đó mà!!!

 và từ NHO thành DO và từ DO thành "Đô" cho những ai đọc theo Anh ngữ.  

Lên Động Ông Đô cầm bản đồ còn thấy Động Tiên nữa. Còn nhiều Động (hay Độn) lắm. 

    Chỉ có cái đáng nói lên rừng thì lắm củi nhưng chẳng có cá như ở vùng biển. Thật vậy, khe suối và núi rừng làm gì có cá. Chuyện đóng quân chứ đâu đi thám hiểm gì đó mà có thể đi lại lung tung được? Ngồi trên chốt cao, mà nhớ biển, nhớ vùng đồng bằng của xã Triệu Tài nhớ làng Anh Tuấn, nhớ thôn Thâm Triều, nhớ làng Tả Hữu nhớ con sông nhỏ Vĩnh Định ngày ngày vắng ngắt không bóng dáng con đò trong mấy tháng đóng quân cuối và đầu năm 73, 74 chi lạ. Cũng may, người viết tính tình "nhát gái" nên chưa có mảnh tình nào làm "hành trang mang vai" ?!

    Những tháng đóng quân miệt núi. Bó gối trên chốt, có người lính bếp đi phép khoảng tuần nhưng quên mang luôn cái hộp quẹt đi theo? thế là cả chốt không có hộp quẹt? May thay, nhờ "lửa rừng"! Bạn đọc thắc mắc làm chi cái hộp quẹt mà quan trọng vậy? xin thưa mười mấy người trên chốt lúc đó không ai còn giữ hộp quẹt nào. Về chốt đại đội phải lội rừng khá xa có khi nguy hiểm? Nhờ vào một chuyện mà tác giả không quên được - đó là nhờ vào một cây rừng khô cổ thụ đang cháy ngầm âm ỉ bên trong ở dưới chân chốt. Hàng ngày, người lính nấu ăn trung đội âm thầm mò xuống chân núi lấy than lên chốt châm bếp nấu cơm... Một tuần sau người lính bếp trở lên lại chốt, nói chuyện quên cái hộp quẹt, anh chàng chỉ biết "cười trừ"?! Đúng thế, chỉ cười trừ thôi. Đi phép từng trung đội có người luân phiên, mò theo sơn đạo về tới Chóp Động Ông Do, theo xe tiếp tế tiểu đoàn đó là phương tiện duy nhất. Rủi may tùy theo số mạng; con đường sơn đạo quanh co về đến Diên Sanh tức là Tiểu Khu QT. Hết phép một tuần lo lên lại cho anh em khác đi. Người Trung đội Trưởng thì đi phép thường niên. Số người viết chỉ đi phép thường niên một lần duy nhất trong đời tức 15 ngày cuối năm 1974 nhờ sốt quá về nằm bệnh xá tiểu khu tại Diên Sanh và sau đó lấy phép 15 ngày lần đầu và cùng là lần duy nhất trong đời làm lính...


    Cá khô kiếm được từ lúc đóng quân mạn biển đem được lên núi ăn dần cũng hết. Ở núi đến bữa người lính Địa Phương Quân chỉ có nửa hộp thịt nấu loãng hòa thêm ít ruốc bỏ thêm bột ngọt có rau má rừng càng tốt...chỉ thế thôi. Đời lính VNCH chỉ thế, giản dị qua ngày không ai đòi hỏi cao lương mỹ vị..."lâu dần đời mình cũng qua..." nói như trong bài hát Không tên Số Năm của Vũ thành An...


Hãy đến chia nhau nghèo khó
Quên lo tương lai mịt mờ
Hãy cố yêu người mà sống
Lâu rồi đời mình cũng qua...


    Lâu rồi đời mình cũng qua đó là chuyện tình của người nhạc sĩ nhưng đối với đời lính chiến, khổ thiếu lâu rồi đời lính chúng tôi cũng qua chẳng ai "khóc than tủi hờn hay oán trách" ai cả? Cả một miền nam triền miên trong lửa đạn. Bao lứa trai ra đi theo tiếng gọi lên đường. Rồi các thế hệ đàn em cũng vậy, "xếp bút nghiên" là phận sự làm trai. Buồn làm chi khi bà con mình tất cả đều khổ sở trần ai. Ngẫm sự đời , biết bao nhiêu mỹ từ cao đẹp từng làm 'cái áo khoác'  cho tham vọng vĩ nhân trên bao tiếng khóc đau thương của lương dân vô tội. 

Qua hơn năm mươi năm mươi, ngồi nghĩ thân phận nước mình, người lính già tha hương có khi chỉ biết buông tiếng thở dài ảo não đó thôi. /.


ĐHL 19/7/2025 San Jose USA








Friday, July 18, 2025

BIỂN MẶN NGÀY XƯA



Tuổi đời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. 
Nên năm 21 tuổi, tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai. ..



NGỒI NHỚ BIỂN XƯA NHỚ THÁNG NGÀY ĐÓNG QUÂN BÊN BỜ CÁT TRẮNG, LÚC DÂN CHƯA về lại.




Năm đó người viết mới ra đơn vị, đúng 21 tuổi đời, độc thân vui tính do vừa giã từ áo trắng thư sinh .
nên năm 21 tuổi tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai...
ôi bài hát Biển Mặn sao mà đúng thế
Nét lãng mạn trong bài hát của Trần thiện Thanh là đó; nhưng Biển Mặn của bao người con trai Quảng Trị từng đóng quân bên bờ cát trắng Triệu Phong là cả là một sự đợi chờ, nỗi buồn xa vắng ...không phải buồn do người lính trẻ phải đợi chờ thất vọng từ những lá thư xanh của tình yêu đôi lứa mà lòng mong đợi bóng DÂN VỀ
Mời bạn cùng người viết miên man theo con tàu ngược thời gian trở về quá khứ để cùng nhau sống lại dưới vùng trời quê hương năm cũ. Đó là một vùng biển Triệu Phong ngày xưa thanh vắng

Nhớ về 3 thôn Ba Lăng -Vĩnh Huề và Thanh Hội thuộc Quận Triệu Phong tỉnh QT mùa Hạ 1974

Đinh hoa Lư

***


Thế là tôi phải tạ từ quê ngoại Nại Cửu, tôi phải xa cầu Ba Bến im lìm không tiếng xe qua. Giã từ để thấy lòng còn vương vấn, nhơ nhớ thương thương từng cơn mưa phùn dai dẳng hay gió lạnh buốt xương của miền quê ngoại. Tôi lại lặng lẽ chia tay với thôn Tả hữu nhỏ bé, lác đác mấy mái tranh nghèo bên con đường đất đìu hiu ven nhánh sông Vĩnh Định ngày đêm không bóng con đò.




THÔN BA LĂNG


Bãi cát vàng ven biển tưởng như xôn xao dưới gót giày những người mới tới. Cát lại bồi hồi lưu luyến tiễn đưa những người sắp được trở về "tuyến trong", nơi đó ít nhiều cũng còn thấy người dân mới hồi cư chứ không hoang vắng như chốn này. Nơi này trên bản đồ gọi là Thôn Ba Lăng là căn cứ của Bộ Chỉ Huy  Tiểu đoàn  105. Vừa từ những chiếc GMC nhảy xuống, chúng tôi đứng đây như người khách mới, tần ngần ngắm từng đợt sóng lao xao vỗ vào bờ. Cát trắng sạch mịn màng. Tôi cố ngước mắt nhìn ra khơi: ở đây chỉ là một vùng biển hoang sơ, chấm phá vài con chim biển. Có đám chim hải âu bay vờn quanh chúng tôi  hai đơn vị đang hoán chuyển với nhau -người xuống kẻ leo lên xe, một khung cảnh huyên náo cả lên. Có một khẩu 106 ly đang hướng nòng trực xạ ra biển, súng này của đơn vị TQLC ở xen với ĐPQ chúng tôi. 

Cậu tôi (VÕ Hoa) Phòng Ba TKQT theo đoàn quân vận về đây. Hai cậu cháu gặp nhau không nói chuyện được gì? Việc nhà binh không xen chuyện gia đình vào được. VÙng giới tuyến chẳng có thì giờ cho cậu và cháu? Tôi lại phải theo đại đội 2 của Đại Úy Lê kim Chung di chuyển NGAY...
 


THÔN VĨNH HUỀ 


Đại đội 2 chúng tôi nhận lệnh Tiểu đoàn men theo mép biển, lội bộ sát mép sóng tiến ngược lên hướng bắc độ 5 cây số thì đến ranh giới hai phe. Trên bản đồ đề thôn Vĩnh Huề, thực tại là một đồng cỏ hoang vu. Tôi lặng lẽ quan sát quanh mình. Đôi lúc tôi khám phá vài ba nền nhà cũ, dấu vết nhạt nhòa trên đồng cỏ ẩm ướt gần mấy đầm 'nước lợ' (nửa mặn nửa ngọt).  Lật tấm bản đổ luôn mang theo trong mình, tôi tìm vị trí thôn Vĩnh Huề. Hai chữ Vĩnh Huề đập vào mắt tôi cảm thấy chút gì lạ lùng đối với các địa danh khác. Trong kia là Thôn Thanh Hội nơi BCH Đại Đội 2 đóng. Xa hơn là Long Quang, Lễ Xuyên những thôn làng chỉ còn những cái tên trên tấm bản đồ  

Thôn Vĩnh Huề- cách Cửa Việt chẳng bao xa, chặng hành trình cuối cùng của giòng Thạch Hãn thân yêu.

Vĩnh Huề Thôn mùa hạ 1974
Các thôn Vĩnh Huề, Bình An- Thanh Hội nằm sát mé biển, đi ra hơn cây số là đến Cửa Việt. Các thôn Này thuộc xã Triệu Vân Quân Triệu Phong QT.

Căn cứ Cửa Việt mất từ đêm rạng Ngưng Bắn 27/1/1973 do vậy chúng tôi ở đây là lằn ranh cuối cùng của 2 phe. Qua khỏi lằn ranh này ra hướng bắc là phía bên kia ...

      Thôn Vĩnh Huề  chỉ là một đồng cỏ hoang vu, ẩm ướt, không một bóng cây, ngoại trừ mấy vạt dương ven biển. Đâu bóng dân làng? Họ đã lưu lạc tận phương trời nào? Có ngày lính trung đội tôi đào lên một số hầm. Thì ra trước lúc bỏ làng ra đi vì chiến cuộc người dân Vĩnh Huề đã chôn dấu nhiều lu, vại bằng đất nung. Tôi thấy nhiều nhất là dĩa nhỏ.  Nói chung những thứ này không giá trị  lắm. Mấy người lính trung đội tôi quê ở vùng này thì cho biết rằng: người dân vùng biển có tục lệ phải cúng trước khi ra khơi đánh cá nên họ có thật nhiều dĩa nhỏ, còn lu vại thì để làm mắm hay ruốc. Những lu vại nào tốt thì để đựng nước mưa . Dân vùng biển quý nước mưa, chỉ để dùng khi giỗ chạp thôi.


 .


         Ngày đầu ra mạn biển, thứ chúng tôi cần nhất là nước. Đừng cho chúng tôi đóng quân sát biển là ngồi chịu cơn khát hành hạ.  Chúng tôi chỉ cần đào lên một hố xấp xĩ một mét là có nước ngọt ngay. Điều này cũng dễ hiểu khi mặt bằng của biển ngoài kia thấp hơn mặt đáy túi nước ngọt đọng dưới lớp cát chúng tôi đang đóng. Thế - lính truyền tin- găp may. Thế 'vớ' đâu ra đươc nửa tấm tôn cũ , rồi Thế uốn cong lại làm thành giếng. Cuối cùng trung đội tôi có được một giếng nước ngọt quý giá . Nón sắt làm gàu; chỉ cần với tay tôi có ngay một gàu nước ngọt ,thơm tho không lẫn mùi phèn như cái giếng trong chốt đại đội. Nhưng, chúng tôi không dám tham lam đào sâu thêm .  Chỉ sâu thêm ít nữa là giếng sẽ bị nhiễm mặn ngay. Tôi chợt nghĩ đến Linh- trung đội trưởng súng nặng- có lẽ cái số nó dính liền với "chữ nặng" nên người nó "không được cao lắm" ! Cái thằng ! miệng khi nào cũng ồn ào.  Dù sao nó cũng được lòng đại đội trưởng Chung hơn tôi nhiều!

   
-Chừ thì mi làm sao thoải mái bằng tau hả Linh? Tau

    chừ ở xa ‘mặt trời’ (ám chỉ đại đội trưởng), tau lại có 
   nước trong - có cả biển thơ -biển mộng nữa đây nghe 
    Linh !
 
    2 trung đội trưởng Lê văn Linh và  Đinh trọng Phúc gặp lại nhau lần đầu tiên sau 40 năm xa cách tại ngày Hội Ngộ Thừa Thiên Huế tại San Jose CA ngày 10/3/2013

 Tôi cười thầm cho ý nghĩ là lạ của mình .


     Tôi lại nhớ đến mấy thằng bạn khác đều mới ra trường như tôi,  lại cùng về chung một đại đội 2 này. Nào Tùng, nào Ngọc cũng là dân Huế như thằng Linh. Tùng và Ngọc thì ít nói hơn, trầm  hơn. Bốn trung đội trưởng chúng tôi cùng xếp áo thư sinh tòng quân sau Mùa Hè đỏ Lửa 1972, lại cùng gặp nhau nơi tuyến đầu Quảng Trị này. Trong khi "dân Nguyễn Hoàng" như Thái Đào cũng khoác áo 'ka ki' một năm nhưng lại phục vụ ngược vào xứ Huế. Số phận Thái Đào thiếu may mắn! chỉ một thời gian ngắn ra đơn vị Đào đã trở thành phế binh mất một chân.

   Chuyện thực tế tiếp đến là củi. Lính chúng tôi chỉ dám thu dọn rồi gom lá dương khô mà nấu ăn thôi. Chúng tôi phải gìn giữ mấy tàng cây rậm để ngụy trang ẩn nấp. Hơn nữa, đất ven biển cần mấy hàng dương này để chống nạn cát lấn dần vào phía trong. Chốn biển vắng vẻ buồn tênh.  Đôi khi tôi có một ít cảm hứng khi ngồi một mình ngắm trời mây, tai lắng nghe tiếng dương reo theo  gió. Trời vào hạ rồi đây. Mấy tuần này gió Lào bắt đầu thổi mạnh. Sóng biển ban ngày bị gió Lào thổi ra cản lại nên chỉ thấy lăn tăn. Chiều về, trời trở Nồm.  Gió vào lại đất liền sóng mới lớn hơn. Lúc này tôi nghe rõ tiếng sóng vỗ bờ , thêm làn gió mang đầy hơi biển mát lạnh khoan khoái vô cùng! 


Vĩnh Huề thôn , có vòng tròn đen tháng 4/1974


 
Đùa chơi với sóng nước

     Biển sát  tầm tay. Trung đội tôi lo xong chuyện ‘cơ ngơi’ mớ rủ nhau ra tắm biển.  Một toán ‘đực rựa’ lột phăng hết áo quần để trở về với "thời nguyên thủy". Dĩ nhiên ở vùng hoang vắng này làm gì có bóng đàn bà để phải ngượng ngùng. Cả toán đàn ông, dàn một hàng ngang ra hụp lặn, đùa chơi với sóng nước. Khi đang nhấp nhô với sóng biển, tôi chợt nhận ra một đám nuốt, trông tựa những cánh bèo trắng , bập bềnh theo sóng dạt vào bờ. Chẳng suy nghĩ, tôi chụp một con đưa vào miệng, nhưng tôi vội phun ra ngay vì nó cay và rát miệng vô cùng !

    - Nuốt lửa đó ,Chuẩn úy ơi !
   Lợi dân làng Hà Tây gần đây nên rành những thứ ở biển.
  Qua làn nước biển trong xanh, tôi thấy rõ từng đàn cá lướt qua vun vút. Giờ đây, tôi tưởng chừng bọn tôi đang ở tại một hoang đảo nào đó.  Mà ở đây hoang vắng chẳng khác gì một hoang đảo đâu?  Cố nhướng mắt nhìn ra khơi,  thấp thoáng phần chóp trên của Hòn Cỏ một hòn đảo không có trên bản đồ trung đội nhưng tôi biết qua hỏi han và tìm tòi.


 Hưởng xong  cái "thú tắm biển" chúng tôi lại "dàn một hàng ngang" về lại vị trí . Xong  chúng tôi dội lại nước ngọt từ cái giếng của trung đội . Riêng tôi được ưu tiên hai gàu nước.  Mỗi người còn lại chỉ một gàu thôi thì giếng đã cạn khô rồi, phải chờ nửa buổi nữa giếng đầy lại.

Bình mình rực rỡ trên vùng biển quê hương chưa có dân về



  Cuộc vui nào cũng qua mau, cảnh tĩnh mịch lại trở về với chúng tôi. Càng trưa ngọn gió Lào càng thổi ra mạnh. Cát bay khắp nơi, nhìn dọc theo bờ biển, gió cát tạo thành từng lớp mây vàng nhạt. Tôi vội lấy nửa tấm poncho cũ che cho chiếc máy truyền tin PRC 25. Tôi rất quý chiếc máy truyền tin này vì nó là
 nguồn liên lạc là mạng sống của cả trung đội. Chiều buông xuống thật lẹ. Tôi nhìn về hướng tây, dãy Trường Sơn in đậm nét trên nền trời của một buổi chiều vàng. Tôi lại ngoái nhìn ra khơi, mặt biển từ từ tối dần lại. Lác đác vài cánh chim còn uể oải bay men theo bờ. Thật ra nồm đã trở đưa ngọn gió mát rượi vào đất liền từ lâu. Trong những khoảnh khắc sảng khoái của một chiều tà ven bờ biển vắng, tôi cùng Lợi lấy miếng xốp khá lớn, bị sóng đưa vào bờ lúc sáng sớm, đem ra đẽo thành một chiếc thuyền nhỏ. Hai chúng tôi còn làm thêm cánh buồm do Lợi  lấy miếng tôn rách làm nên. Xong, tôi không quên thêm vào một bánh lái đằng sau, phía trước tôi viết hàng chữ "Cửa Việt River Mouth "’.

  Sáng dậy, chờ cơn gió Lào thổi ra khá mạnh, hai đứa chúng tôi đem thả con thuyền nhỏ ra biển. Thuận buồm xuôi gió, chiếc thuyền bé tí của chúng tôi theo làn gió đưa ra tít ngoài khơi. Một chút tưởng tượng, tôi chống nạnh đứng nhìn theo chiếc thuyền đồ chơi kia từ từ mất hút. Lòng tôi nửa hãnh diện như đã làm được một công trình 'vĩ đại', nửa như lưu luyến một người bạn vĩnh viễn ra đi. Tôi thầm ước mong một bến bờ nào đó có ai vớt được thuyền tôi.   Hàng chữ ghi trên thuyền họ sẽ biết nơi phần đất này còn có sự hiện hữu của bọn này
.
  Cá ơi là cá! quá nhiều cá đi!

    Mùa tháng hạ, cánh đồng trũng nước khô đi nhanh chóng. Cá nước lợ thiếu nước nằm chờ chết khắp nơi. Mới mấy năm dân bỏ đi khỏi đây, cá sinh sôi nảy nở nhiều vô số. Lúc này đàn chim biển tha hồ bay vào bắt. Từng đám cá nhỏ nước lợ dãy đành đạch trên mấy thảm cỏ nước khô dần. Tuy vậy, Lợi hứa sẽ dẫn trung đội đi hốt cá chứ không thèm ra bắt mấy thứ cá nhỏ kia. Lợi - tôi cùng một vài lính trung đội men theo mép biển đi về hướng nam. Chừng ba cây số thì gặp một bàu nước lớn nằm cách bờ biển chỉ vài trăm mét. Lợi hướng dẫn mọi người dùng xẽng đào một đường hào dài và sâu hơn nửa mét. Đường mương này cạnh bàu nước hướng nhìn ra biển. Đào xong đường hào thì trời đã xế chiều.  Lợi bảo tất cả ra về chờ khuya sẽ đi "hốt cá". Tôi nghe thì nghe vậy nhưng trong lòng vẫn nghi ngờ?




   Chờ tới khuya khoảng một giờ sáng (*) Lợi đánh thức cả bọn dậy đi hốt cá thật. Lợi không quên đem theo ba cái bao lớn nữa. Tôi kiểm soát lại vọng gác thật đàng hoàng rồi theo Lợi hướng về bàu nước. 

Chúng tôi lầm lủi đi trong đêm. Trời về khuya khá lạnh, không gian chỉ nghe tiếng sóng vỗ rì rào. Chúng tôi cứ theo mép sóng mà đi. Sóng biển ban đêm lấp lánh ánh lân tinh. Bầu trời thỉnh thoảng có vài ánh sao băng xẹt ngang. Tôi vừa đuổi theo cho kịp bọn vừa ngắm ánh sao băng, chúng như đang chui vào lòng đại dương vậy. Gió đêm càng về khuya càng lạnh dần. Đêm nay chúng tôi đang đi trong chiến tuyến an bình vì không nghe một tiếng súng nào. Đi hơn nửa giờ thì chúng tôi đã đến con mương cạnh bàu nước chiều qua. 


-Trời ơi! Cá ơi là cá! quá nhiều cá đi! 

Tôi không ngờ cá nhiều đến như thế! cá chen chúc nhau dưới đáy con hào. Toàn là cá tràu. Bọn tôi vui sướng thi nhau hốt cá đựng đầy 3 cái bao gạo không do Lợi mang theo. Chúng tôi thay phiên nhau vác mấy bao cá nặng chĩu về chốt. Trên đường về Lợi mới giải thích cho tôi hiểu: thì ra mùa hạ nước trong bàu cạn dần, mấy chú cá nhất là cá tràu và trê, ban đêm chúng "cảm nhận" theo tiếng sóng biển ‘cằn’(trườn) ra và rớt hết xuống con mương đào sẵn này. Tôi thực sự phục kinh nghiệm của Lợi, một người dân sinh ra cùng lớn lên từ vùng biển. Chung tôi đem cá nhốt ngay vào cái thùng phuy mà Lợi kiếm đâu ra từ lúc nào. Cá trê và rô thì bị nhốt riêng ra vì mấy cái ngạnh nhọn hoắc của chúng biến chúng thành mấy tên ‘sát thủ’ đáng sợ - chỉ cần sơ ý để đám này lẫn lộn vào đám cá tràu một lúc thôi thì đã có mấy con tràu chết lật ngửa bụng trắng hếu!

Mong chờ xe tiếp tế




 Ban chỉ huy trung đội gồm: tôi- binh nhất Thế , mang máy truyền tin PRC25- trung sĩ nhất Thản, trung đội phó của tôi. Tôi hay gọi trung sĩ Thản là "Bố Thản" vì ông đã gần 20 năm lính, dấu chân ông cũng lội gần khắp vùng I. "Bố Thản" cũng sắp đến tuổi về hưu. Cuối cùng là hạ sĩ Sơn- Sơn lo chuyện nấu ăn nên hay lo xa- cá nhiều quá ăn không hết thì đem phơi khô.



    -Sắp đổi lên núi rồi  Chuẩn Uý! 

   Sơn nói với tôi.


  Hạ sĩ Sơn cũng thuộc loại lính khá kỳ cựu trong trung đội nên chu kỳ đổi quân như thế nào thì Sơn kinh nghiệm lắm. Đồng bằng ra biển, chặng thứ ba thì lên núi chứ có nơi nào khác đâu!  Chúng tôi đóng một nơi vài ba tháng là hoán chuyển thôi. Sơn kinh nghiệm rằng lên núi chỉ lo thủ chốt cho kỹ nên không có "mưu sinh" như ở đây được. Thể là hai tuần nay tôi bắt đầu để ý lên hướng núi. Ban đêm hướng Trường Sơn, núi đang bị cháy liên tục, làn lửa dài như con rắn vàng cứ cháy leo lét. (**)

- Ngày mai có tiếp tế rồi!
  
Tiếng Sơn nhắc nhở làm tôi thấy vui hẳn lên.  Thật ra ai nấy trong đơn vị này đều cùng chung một tâm trạng giống tôi. Anh em ai cũng mong ngày tiếp tế mau về. Đóng quân lâu ngày ở một nơi hoang dại anh lính nào cũng mong mau thấy lại bóng dáng chiếc xe tiếp tế của tiểu đoàn. Tuy chiếc xe đã ' ọp ẹp' nhưng lại là niềm vui cho đơn vị. Cách hai tuần nó về một lần tiếp tế thực phẩm cho chúng tôi.

Một ít tưởng tượng, tôi cho rằng xe đang mang theo một ít 'hơi hám' nào đó từ chốn "thị thành" ra đây? Diên Sanh, Mỹ Chánh ư? hay Phò Trạch? mà nếu là Huế thì càng tốt. Cách Huế không xa,nhưng  hình ảnh phong kẹo mè xững- cái tên Song Hỷ giờ sao quá xa vời?

 Chiếc xe GMC đó còn mang ra chốn này những niềm vui cho lính.  Những cánh thư gia đình hay người yêu của mấy anh lính trẻ. Tôi thì cô đơn hơn!  mới ra trường, hai mươi mốt tuổi đời. Thực ra tôi chưa có mối tình đầu nào làm "hành trang mang vai" để nhớ thương cả!


Basto Luxe 

   Sáng dậy, quả đúng là một "ngày hội" cho đại đội 2 này. Mỗi trung đội chỉ cắt vài người  ra bãi biển chờ đồ tiếp tế.  Thế nhưng, khi tất cả tập trung sát mé biển cạnh chốt của tôi, thì sao mà ồn ào nhộn nhịp. Tiếng cười tiếng nói, "mày tau- í ới" lẫn tiếng văng tục ‘loạn xà ngầu'? Chốt tôi ở sát mép biển, xe sẽ tới chờ cạnh đó nên thong thả hơn, chỉ cần đi vài ba bước là đến chỗ đợi. 



   Bastos xanh trước 1975


Đứng sát mép biển tôi hướng mắt trông về hướng nam. Chiếc GMC vừa đổ hàng xong cho BCH Tiểu đoàn 105 ở Ba Lăng. Xe đang theo mép biển đi ra hướng chúng tôi. Lúc đầu nó chỉ là một chấm đen, trong thoáng chốc càng  lúc càng cáng rõ dần.

      -Xe đến rồi tụi bây ơi !

Có tiếng anh lính nào reo lên. Trung Sĩ Nhất 
Thỉu, Hạ Sĩ Quan tiếp tế đại đội, nhảy xuống xe. Anh Thỉu dáng khô khan, nước da ngâm đen, vừa phân phối thức ăn vừa nói lớn để mọi người cùng nghe:
   - Kỳ ni đồ ăn tươi là bính ngô và thịt heo thôi nghe!

Thức ăn tươi chia về từng tiểu đội độ nửa ký thịt heo và góc trái bí ngô, chỉ trong ngày đầu là hết sạch. Còn lại gồm hai ba lon thịt heo, thịt ngựa của quân nhu, thêm ít ruốc và 'vị tinh' ( bột ngọt). Mấy thứ này thì phải tiết kiệm, ăn làm sao cho đến giáp vòng tiếp tế khác. Gạo thì chia: cứ mỗi đầu người/ một ngày/ một ca ‘y-nốc’ (inoxidable) -


ca inox và bình nước nhựa 

 




ong Đầy- Gạt Sát" là gì?

Thưa bạn có hiểu bốn chữ trên chăng? Một ca inox này vun lên thì vun nhưng người phát gạo gạt bằng ngang miệng là khẩu phần ăn về gạo cho một người lính trong một ngày. Nó tương đương với 700 gram gạo chứ không có cân như tại chợ...

 Thế là xong, đơn giản lắm!

   -A! còn một ít thư cho anh em đây! 


   Tr. Sĩ Nhất Thỉu đưa thư xong, lo chuyển đồ cho BCH
   đại đội. 

  Giờ mới đến lúc chúng tôi lo chuyện "đổi chác" thùng 'phuy' cá, 
kết quả sau những đêm hốt cá từ mấy bàu nước lợ nói trên.  Sau khi "kỳ kèo- thêm bớt", Tr. Sĩ Thỉu chịu đổi thùng phuy cá với 2 ‘tút’ thuốc lá Bastos luxe. Chúng tôi chê  Bastos xanh hút không "phê".

   -Nhưng phải chờ kỳ tiếp tế sau mới có đó 

   nghe!


 Anh hứa với chúng tôi.
 

Gần cả Trung đội 3 lay hoay, hì hục... cuối cùng thùng cá nặng nề cũng lên được chiếc xe đang trống phía sau. Tôi thở phào nhẹ nhõmthà chịu thiệt một ít mà có thuốc chia nhau hút còn hơn ôm hết cá mà ăn thì chỉ có ngồi đây mà ngứa "gãi sưng" cả người thôi!

-Nhớ mấy tút thuốc nghe Trung Sĩ? chúc bồ mua may bán đắt, vào chợ Diên Sanh mà ‘thẩy’ (bán vứt) nó đi nghe?

  
Một vài anh lính đại đội đến kỳ về phép có dịp may nhảy lên đi 'ké' chiếc xe tiểu đoàn để về TKQT đang đồn trú tại Diên Sanh. Chiếc xe GMC chạy rồi tôi còn đứng nói vói theo. Lính xa nhà chia ngọt xẻ bùi, có nhau từng điếu thuốc, thân thiết như anh em, nhất là cùng mang thân phận làm lính sát cánh bên nhau trong thời chinh chiến. Tôi hơi tức cười khi nhớ lại lời nói ngắn gọn " kiểu nhà binh " khi chúng tôi nghe chung một chiểc radio bé nhỏ: 
-Mở cái đài -sang ngang !-không Thúy ...thì Tuyền!

Tôi cũng xin giải thích câu này cho rõ ý: lính chúng tôi muốn nói là "mở cái máy radio , sang băng không có Thanh Thúy thì Thanh Tuyền"
 Tôi cười một mình khi nhớ đến tiếng nói hồn nhiên chất phát của mấy người lính trẻ mới về đơn vị, vừa ngó theo bóng chiếc xe tiếp tế chạy xa dần, khuất hẳn trong màn gió cát vàng nhạt.

 Chúng tôi mang thức ăn vừa được tiếp tế về lại chốt. Lòng tôi như ấm lại khi nhìn mấy nửa trái  bí ngô trồng vừơn nhà ai trong Diên sanh. Miếng lá chuối còn xanh, gói miếng thịt của con heo nào đó  được nuôi lớn từ ruộng đồng Hải lăng.  Bao gạo đã vơi bớt. Vui nhất cho ai có thư nhà. Riêng tôi thì không, lính độc thân đúng nghĩa. Hôm nay Lợi, Phê. Sơn lo vá lại mấy mãng lưới rách đã từng bị chôn vùi trên bãi biển này. Tối nay chúng tôi sẽ đi kéo tôm tại mấy bàu nước lợ gần vị trí chúng tôi ở. Tôm thì tha hồ! chỉ đi dọc theo bàu cạn vét lên là có ngay mớ tôm nhảy long chong, lấp lánh dưới ánh trăng đêm.
  Một không gian hoang vắng tiếp nối  trên một thôn làng ven biển đã mất dấu từng có tên Vĩnh Huề Thôn. Chúng tôi có một thời gian đóng quân mạn biển đó để ban mai có dịp chiêm ngưỡng cảnh mặt trời lên huy hoàng trên mặt biển. Chiều về, chúng tôi lại còn có lúc ngắm ánh tà dương từ từ khuất dạng sau dãy Trường Sơn hướng tây. Rặng núi trên kia đang ngóng chờ những gót giày tiểu đoàn 105 chúng tôi nay mai trở lại.

    Ngoài kia biển một màu xanh ngắt, SÓNG BIỂN QUÊ HƯƠNG mãi còn vổ nhịp nhưng chẳng còn ai đứng đó. BIỂN MẶN như giọt mồ hôi của ngư dân những người đi xa chẳng hẹn ngày về. Người lính năm xưa có một lần đứng ngắm một vùng sóng nước mênh mông như đợi dân về - BIỂN NHỚ./.

TÔI LÀ LÍNH ÂM THẦM TÔI NGHĨ THẾ THÔI

Tôi là lính xa nhà đi trấn Sơn Khê Hai mùa mưa mây mù che nẻo đường về Đêm rừng núi lạnh buốt mái pon cho Súng cầm canh nhịp từng giờ Trái c...