Saturday, July 26, 2025

ĐI CHIẾN DỊCH


Đinh Hoa Lư

Tưởng niệm 50 năm ngày ký thỏa ước “cột tay” Ba Lê 27 tháng 1 năm 1973 – 27 tháng 1 năm 2023


Hôm nay có anh miền chiến dịch, ôm súng mơ ngày về quang vinh  (Phạm đình Chương )

* * *

Chiến dịch bội tinh.

ĐI CHIẾN DỊCH RA SAO?



Thưa bạn đọc

27/1/1973 một ngày đáng nhớ không những trong lịch sử kháng cộng của VNCH nhưng lại khó quên riêng đối với một số khá đông Sinh Viên Sĩ Quan từng “xếp bút nghiên”  sau chiến sự 1972 hay còn gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa. Lý do: lớp người này từng được lệnh đi giải thích, tuyên truyền cho một hiệp định vừa được ký kết tại thủ đô Paris nước Pháp. Tất cả SVSQ đang thụ huấn tại các quân trường Thủ Đức, Quang Trung, Võ Bị, Chiến Tranh chính trị, Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế  đều được tạm thời ngưng thụ huấn để tung ra các miền đất nước về tận các xã thôn dù hẻo lánh để giải thích về Thỏa Ước đó nói gì. Lệnh rất gấp, nên người viết nhớ lại không có thì giờ được giảng dạy về nội dung và cách thức giải thích cho dân trong công tác khẩn cấp đó. Hạ hồi phân giải, lớp thụ huấn đã gắn Alpha và ngay cả chưa gắn Alpha cũng “tạm gắn Alpha” cùng nhau lên xe GMC của các quân trường tới tận các địa điểm công tác rồi hẳn tính sau. Tác giả nhớ lại, các svsq đi chiến dịch về tới các tiểu khu-chi khu đều được các sĩ quan chiến tranh chính trị lược giải và ban bố trách nhiệm. 

Nói đúng ra, với trình độ SVSQ  thì đa số không tệ đến nổi không hiểu hay ‘mù tịt’ về nội dung Thỏa Ước 1973. Chỉ quan trọng một điều vùng công tác có an ninh để các toán đi giải thích-tuyên truyền làm được việc? Thứ hai nữa, điều kiện nơi công tác có khả thi và tới tai người dân hay chăng? Người viết có may mắn lọt vào trong thời điểm này. Những sĩ quan đàn anh ra trường trước, phục vụ trước đôi lúc đọc lại bài này có thể hình dung hình ảnh đúng năm mươi năm trước có những toán svsq đàn em mang “con cá vàng” trên cổ áo, ngơ ngác về nhận nhiệm vụ ngắn hạn nơi vùng mình.

Năm mươi năm rồi, nửa thế kỷ qua nhanh. Những hình ảnh xa xưa chợt trở về dưới phím bút người kể chuyện. Bao đứa bạn, đồng môn- đồng khóa chắc vẫn còn nhiều hơn lớp đàn anh đi trước. Kể chuyện xưa để hồi tưởng, nhắc ngày cũ, nhớ bạn thương bè. 

Thỏa Ước Ba lê 1973, rồi tháng TƯ Đen 1975 cách nhau không mấy. Khoảng thời gian chỉ có HAI NĂM nhưng chính đó là SỐ PHẬN cuối cùng, chấm dứt một chính thể, một miền nam chiến đấu cho lý tưởng tự do, dân chủ,  nhân quyền, nhân vị và nhân bản nhưng phải chết một cách đau thương, tức tưởi do họng súng xâm lăng của Cộng Sản bạo tàn và sự “thay lòng đổi dạ” của Thế Giới Tự Do.

ĐHL 

15/1/2023

*

Đi Chiến Dịch – Nghe ra có vẻ ‘quan trọng’! nhưng người viết xin thưa rằng thật ra không phải một ‘trận đánh lớn’ nào cả, chỉ một việc duy nhất đi giải thích về Hòa Ước Ngưng Bắn Paris 27/1/1973 cho VNCH thôi.  Đồng thời chúng tôi tự cho thời gian đi chiến dịch đó là một dịp  ‘nghỉ phép dài hạn’ từ mấy quân trường tản ra khắp Bốn Vùng, chia nhau đi tận mọi ngỏ ngách, thôn làng nói cho dân nghe ‘ngưng bắn rồi’ai đâu ở đó không xâm phạm vào nhau ? Đó là chuyện trên giấy tờ, mấy ông lính quân trường nghe sao nói vậy, cho dân hiểu cho dân nghe, tuy thực tế có thể khác.


  Năm mươi năm, đúng nửa thế kỷ rồi; ai còn ai mất? Lớp đi chiến dịch hồi đó trẻ lắm thì năm nay lại đúng bảy mươi “thất thập cổ lai hi”. Người viết lần này có mục chính là nhắc về thời son trẻ, mới rời ghế nhà trường, tuổi thanh niên yêu đời lắm mộng mơ. 

Đêm gắn Alpha, Đống Đế Nha Trang

Sau Hòa Ước, hàng ngàn SVSQ  những ‘con cá vàng tung tăng’ đi khắp nơi, ra trung hay vào tận miền nam lục tỉnh. ‘Con cá vàng’ nghĩa là Alpha, đó là Sinh Viên Sĩ Quan dù Đống Đế hay Thủ Đức hay hiện dịch như Võ Bị Đà Lạt, Chiến tranh Chính Trị gì đều được lệnh tạm ngưng học, có công tác phí, vẫn ăn lương, được “hồi tố”[1] đi thông tin tuyên truyền ráo trọi. Có người chưa gắn được ‘con cá vàng’ cũng được gắn tạm, gắn trước giai đoạn Hai tạm xa quân trường trong vài chục ngày cho kịp nhu cầu Chiến Dịch.

NHỮNG LỨA NGUYỄN HOÀNG 65-72  KHÔNG NGỜ 1 NĂM SAU PHẦN NHIỀU ĐI VÀO NGHIỆP LÍNH (Võ Văn Khiến ngoài cùng trái ảnh – Trần Túy Huệ bím tóc ngoài phải)


Mấy đứa số hên, vừa rời Nguyễn Hoàng, vừa xa quê Quảng Trị, hay vừa may mắn thoát nạn Đại Lộ kinh Hoàng, cổ áo đeo ‘con cá vàng, bận bộ ka ki xanh chiến dịch, chân đôi giày đen bóng loáng về lại Trạm cư Hòa Khánh, Non Nước tại Đà Nẵng giữa năm 1973 công tác cho Chiến Dịch. Một công hai chuyện, khi không về lại giữa lòng quê hương dù bà con đang tạm trú tại Đà Nẵng. Mấy anh chàng SVSQ hay đi dọc theo mấy quán cà phê ‘mái tranh vách lá’ dọc theo con đường tạm cư Hòa Khánh, sát cái chợ tranh và lá Hòa Khánh tán gẫu gì đó… Có đứa cựu HS Nguyễn Hoàng nay là lính, trở về hay đón đầu cô giáo cũng cựu nữ sinh NH ngày cũ hiện đi dạy giờ  sống tạm qua ngày. Cô nàng vừa ra khỏi cái trường xiêu- đổ của Trại tỵ nạn Hòa Khánh. 

Chợ tạm cư mái tranh vách lá cho đồng bào QT 1973 tại Hòa Khánh Đà Nẵng

Nhắc lại đám cựu học sinh Nguyễn Hoàng trong đám tòng quân sau Mùa Hè 1972 chán khối. Mặt tụi nó hết ‘búng ra sữa’, khá xạm đen theo nắng thao trường một ít thôi. Nhất là đầu tóc hai ‘xăng ti mét’, cái mũ bê- rêt đội nghiêng trên đầu, hai ‘con cá vàng’ trên cổ áo, đôi giày lính đánh ‘xi ra’ đen bóng. Tất cả gom lại, trông thật oai vệ. Chỉ hơn nửa năm trời, nhưng đố ai nhìn ra?

Cô giáo trại tạm cư, vừa cất cái kính đen mặt rộng ra, Võ văn Khiến, chàng SVSQ [*] bất ngờ muốn ‘té ngữa’:

– Ôi! ôi! té ra ‘Mộng Đỡ’ tề ?![**]

Biệt hiệu cô nàng Túy Huệ , ‘nhất quỷ nhì ma’ trong lớp Tam C2 Nguyễn Hoàng biết với nhau mà thôi. Đó là chưa kể ‘Mộng Cời’, “ giờ này “em ở đâu” không còn thấy xuất hiện trên khung trời “chiến nạn Hòa Khánh 1972” nữa? Dĩ nhiên những cái tên khá ‘đặc biệt’ này trong lớp 10 C2, dân NH mới biết. Xếp bút nghiên, trai tòng quân theo nghiệp ‘ka ki’, gái thì lo đi dạy hay kiếm nghề nào sống. Một thuở chạy Nạn Cầu Dài, người QT chết chóc, khổ cực. Thành phố đó mất rồi, trường ốc mất rồi nên ít ai tiếp tục nối dài sự nghiệp học hành, khoa bảng.

Đó là câu chuyện cũng là SVSQ đi chiến dịch sau Hòa Đàm Ba Lê. Nhưng có đứa may, đứa rủi.  Số học sinh Nguyễn Hoàng này khoác chiến y nhưng còn an ủi được về lại Đà Nẵng để còn gặp lại những người thương mến…bà con cô bác hay bạn cũ cùng trường chung lớp. Chỉ non một năm xa cách nay đã là những hoàn cảnh đổi thay toàn diện.

*


CÓ MẤY ĐỨA KHÔNG CÓ SỐ HÊN PHẢI ĐI CHIẾN DỊCH NHỮNG NƠI LẠ HOẮC  TỪ GIỌNG NÓI CHO ĐẾN PHONG TỤC THÍCH NGHI 
Những toán SVSQ Chiến Dịch, đến từ nhiều quân trường khác nhau, mấy đứa về lại với bà con làng nước tuy lưu lạc trên quê huơng Đà Nẵng, dang tay ưu ái tiếp nhận cũng thấy ấm lòng. Một năm, hai năm Quảng trị cũng là Đà nẵng, hai khoảnh trời hoàn cảnh tạo thành êm ái thân quen. Sự kiện này do trời sắp đặt đố ai biết trước được nỗi này?


Đó là chuyện mấy đứa bạn may mắn, phép quân trường làm gì có? khi không, ‘trên trời rơi xuống’ cho năm ‘mươi ngày CHIẾN DỊCH’ về ngay lòng quê huơng, vào tâm điểm đồng bào chiến nạn QT đang trú tại Đà nẵng; sao không may mắn được?

Quân trường nào- ‘bò- lê, một -hai- ba -bốn’, hai tuần mệt bở hơi tai; nào hít đất nào bị phạt ‘dã chiến’, khá lắm có nửa ngày phép , đi lòng vòng Nha Trang rồi về ngay. Hoặc Thủ Đức hai tuần có 1 ngày phép luân lưu là lâu dài nhất . Có thể nói trận CHIẾN DỊCH cho Hòa Đàm Ba- lê là dịp “phép xả hơi trên trời rơi xuống” lâu nhất cho tất cả người lính quân trường.


Số người viết chẳng hên bằng tụi bạn khác. Tác giả được phái đi tới  Quận Củ Chi tỉnh Hậu Nghĩa. Chẳng ai quen biết, xóm làng lạ hoắc, thật lẻ loi, chán nản. Cả toán, dĩ nhiên trong đó có tác giả được phái về Xã Phước Hiệp. Giờ ngồi nhớ lại, cả toán hết tám, chín đứa đứa người trong nam, một mình người viết lại nói giọng Quảng Trị ‘nặng ơi là năng!’ khi nói ra ít  đứa hiểu?  Thế là giải thích làm gì, ở nhà quách lo việc nấu ăn – đi chợ. Chuyện đi “tuyên truyền, giải thích” Hòa Ước có mấy đứa kia lo…


Xã Phước Hiệp, mấy ông chú ông anh này cũng người trong xã. Họ rất hiền lành dễ chịu và có tình cảm với lớp thanh niên mới về như chúng tôi. Họ giao cho cả toán svsq một căn nhà trống trước mặt ngôi chợ cũng mang tên Phước Hiệp. Hàng ngày tôi lo phận sự khỏe ru là ngồi giữ đồ cho bạn. Lương lính ít ỏi nhưng còn may mắn do ngôi chợ xã sát trước cửa. Tôi hay nấu cho tụi bạn ăn món ăn theo kiểu Quảng Trị thì tụi nó hay ’khóc’, hỏi sao? Chẳng qua vì quá cay. Cay quá, tụi nó đặt tên là “món ‘Quảng’”! Đến nay tui vẫn nhớ hình ảnh mấy thằng bạn hít hà, nước mắt ràn rụa như khóc như than? Tụi nó ‘phản đối’, tụi nó ‘biểu tình’! A! nhưng tao là người Quảng mà là Quảng Trị thì phải ăn cay, thế thôi-  chấm hết, nghe chưa?


Thằng Tiến người nam, hôm đó liền ở nhà. Hắn ra tay, trổ tài nấu món canh chua. Quả thật, hắn nấu canh chua cá lóc ngon ”nhớ đời”.  Nhờ hắn, đến nay tôi vẫn chưa quên cách nấu canh chua. Tôi còn khoái về cách thức mua bán ở cái chợ nhà quê này. Mua xong con cá lóc, mấy má cạo vảy, cắt khúc giùm cho. Chúng tôi chỉ việc vô nhà cách đó vài bước, là nấu canh thôi. Xứ Củ Chi đất khô, trồng đậu phụng, lại lắm cây me cho món canh chua cá lóc. Tôi thầm cám ơn thằng Tiến người nam.  Sau ngày ra trường mỗi đứa mỗi nơi , “bóng chim tăm cá” biết tìm ở đâu?

Ôi, gần hai tháng trời chán ngắt. Tối lại ‘cái màn’ mười anh em phải vào xã, tự xưng tên, danh số qua máy truyền tin về Chi Khu Củ Chi tức là quận điểm danh vì sợ mấy đứa tôi ‘chuồn’[3].


Quận Trảng Bàng nằm về hướng Tây Bắc Sài Gòn vào khoảng 40 kilômét. Xóm Đạo Tha La, thuộc Xã An Hòa, cách Chi Khu Trảng Bàng chừng 4 kilômét về hướng Tây. (blog kontumquetoi)

Đây “Tha La xóm đạo”

Có trái ngọt cây lành

Tôi về thăm một dạo

Giữa mùa nắng vàng hanh…

Vùng tôi ở gần xã Trảng Bàng, “Tha La Xóm Đạo’ cái bài hát nào đó nghe thơ mộng, nhưng tui chẳng dám mò qua, du kích đầy dãy bên đó, thế là ‘mù trớt’ tôi gần mà chẳng biết ‘người em xóm đạo’ là gì? . Vùng ‘xôi đậu’ Củ Chi có tiếng. Đi ra đường là ánh mắt canh chừng, ‘ngày mình- đêm họ’, đây là sự thật. Sự dằng co càng nhiều khi hòa bình tạm thời đã ký. Nhưng lằn ranh có phân định rõ ràng đâu, thế là càng thêm rắc rối cho dân. Tôi làm gì được ‘tung tăng’ đi chơi như mấy đứa bạn tôi kể đoạn trên tức là ngoài trung, hay cụ thể hơn là vùng hoạt động tại Trung Tâm Hòa Khánh 1973 trong thời gian Chiến Dịch. Ở đây vùng không an ninh , ngày tôi bó gối trong căn nhà trống, công tác ít ỏi, chẳng dám đi xa.


Sau này về lại quân trường, mới hay sau mùa Chiến Dịch, những ‘con cá vàng’ còn mang theo nhiều mối tình rất ư là “mới’ !  Riêng tôi chia tay Hậu Nghĩa, tôi chỉ nhớ (cho đến bây giờ) chỉ cái tên tỉnh lỵ nghe khá hay – Khiêm Cương- một thành phố nhỏ bé lạ lẫm ít ai để ý. Tôi còn nhớ  nồi canh chua thằng Tiến chỉ cho.  Kỷ niệm một lần Chiến Dịch chỉ ngần ấy thôi, ngoài ra tôi chẳng có một mãnh tình nho nhỏ nào ‘vắt vai ‘ nên nghĩ lại hơi buồn.



Ký vào cái gọi là Hòa Ước  Ba lê là hợp thức hóa những vùng ‘trái độn’ để sự hỗn mang càng chồng chất thêm hai vai người lính nước VNCH. (hình phe MTGPMN bà Bình đang ký)


 Sự tạm bợ mập mờ rõ ràng trước mắt. Giải thích Hiệp Định để được gì khi sự hình thành ‘trái độn, da beo’ ‘rối như canh hẹ’ . Cuộc thế tạm bợ đã đành,  Chiến Dịch cũng là tạm bợ . Người dân than vãn, họ không đậm đà gì với chuyện hòa đàm, có vùng phải sống dưới ‘hai chính quyền’ : một ban ngày , một ban đêm, họ không biết chọn ai ? chỉ mong được an toàn tánh mạng để cày đất, trồng đậu phụng hay làm lụng sinh nhai thôi. Ký vào Thỏa Thuận Ba lê là hợp thức hóa những vùng ‘trái độn’ để sự hỗn mang càng chồng chất thêm hai vai người lính miền nam. Hậu quả đương nhiên phải đến, không thể nào cưỡng lại.  Ra đi “Chiến Dịch 1973’ chẳng khác chi ‘khóc trước’ một tháng Tư Bi Hận 1975, hơn là những gì háo hức giá như chúng tôi giải thích cho một Hiệp Định hàm chứa chiến thắng bên trong?Những thằng mang “con cá’” trên cổ áo năm nào, những tờ giấy in nội dung của một Hiệp Định thua thiệt đầy tủi hờn, thì làm gì có những niềm vui trong lòng. Bên nào giữ nguyên lằn ranh bên đó, có nghĩa là chúng tôi tự  nhận mất đất cho phía bên kia, và cứ ‘đưa lưng cho người ta đấm’ cho đến khi nào ‘chịu hết nỗi”?

Đúng thật, khi cùng một lúc bị ‘cột tay’, giảm hết lương thực, súng đạn, cùng nằm ‘chịu trận’  thì cái giá trị bi thảm đến rất gần.


 Thôi! nói chi chuyện quá khứ thêm rầu. Chỉ nhớ, vui, hay thương cảm về nhiều kỷ niệm xa xăm ngày đó. Những kỷ niệm một thời son trẻ trong đó có hình ảnh những ‘con cá vàng’ trong mùa CHIẾN DỊCH HÒA ĐÀM BA LÊ 27 THÁNG GIÊNG 1973 mà thuơng  bao đứa bạn đứa còn, đứa mất ./.


Đinh Hoa Lư 

[*]: Võ văn Khiến học sinh trung học Nguyễn Hoàng, ở đường Duy Tân QT- đã qua đời sau 1975


[**}: Mộng Đỡ và Mộng Cời là  2 nữ sinh 11 C2  trường Trung Học Nguyễn Hoàng: Trần Tuý Huệ và  Lê Mỹ Tín 

CHIẾN ƯNG F-16 (Fighting Falcon) VÀ THẾ GIỚI QUÂN SỰ



    Sự mong muốn F16 của Ukraine cho cuộc đối đầu chống lại Nga và hiện nay Ukraine chỉ có non 20 chiếc F-16. TT Zelensky tuyên bố tham vọng của Ukraine đúng ra cần tới gần 150 chiếc F-16 cho thấy tiềm lực tương lai của chiến đấu cơ thế hệ 4 này có thật nhiều triển vọng. Thật vậy ngay cả Việt Nam cũng mong muốn đạt được khế ước với Mỹ để mua cho được F16.  Có nhiều đồn đoán trong giới quân sự cho rằng F16 có thể đối đầu với chiến đấu cơ tàng hình thế hệ 5 như F-35 Lighting II, thậm chí cả F-22 Raptor?

hình trên-  THÁI LAN ĐÃ XUẤT KÍCH NHIỀU PHI VỤ F-16 ĐÁNH SÂU VÀO NỘI ĐỊA CAMPUCHIA TRONG CUỘC XUNG ĐỘT BIÊN GIỚI TUẦN NÀY 23.7/2025

elephant walk F-16 của Đài Loan 

Kế hoạch "Phượng hoàng Hòa bình nổi dậy" (Peace Phoenix Rising) có giá 4,5 tỷ đô la giúp Đài Loan nâng cấp 139 máy bay F-16 lên tiêu chí F-16V (Block 70-72) xem như đã hoàn tất. Không Quân Đài Loan  thông báo vào ngày 5 tháng 2, 2024. 

Đài Loan đang sở hữu nhiều F16 và từng nâng cấp để đối trọng với Trung Quốc. Suốt nhiều chục năm nay rõ ràng Chiến Ưng F-16 (Fighting Falcon) là trụ cột sức mạnh không quân đối với nhiều nước trên thế giới.

Ra đời vào thập niên 1970 cho đến nay F-16 là chiến đấu cơ đa năng đáng khen trong cuộc chiến Không / Không hay Không/Địa. Nó có vận tốc tren Mach 2 và phạm vi hoạt động 2000 dặm là thông số đáng tin cậy.


Nhiều năm nay, Mỹ vẫn dùng hơn 700 chiếc F-16. Tuy là thế hệ 4 nhưng F-16 vẫn được đánh giá cao nhất thế giới trong vai trò bảo vệ vùng trời và không chiến.



Chiến Ưng F-16 (Fighting Falcon) hiện có sẵn hai loại một và hai chỗ ngồi. Từ năm 1979, F-16 đã liên tục được cải tiến có nghĩa từ thế hệ 4 lại mang một số khả năng chiến đấu của thế hệ 5, trong đó có thứ radar tối tân.


F-16 có giá từ 14.6 triệu USD tới 18.8 triệu USD một chiếc. F-16 hoạt động trong mọi thời tiết. Nó là chiến đấu cơ phản lực bay nhanh, cơ động cùng kết quả cao trong các cuộc không chiến (không/không)  hay tấn công mặt đất (không/địa).


Theo Tờ Military.com của Hoa kỳ liệt kê F-16 như sau

Nhà thầuLockheed Martin Corp.

Vũ khí bao gồm

·      pháo đa nòng M-61A1 20mm 

·      6 hỏa tiễn không đối không

·      các loại đạn không đối không và không đối đất thông thường cùng các thiết bị điện tử

·      Tốc độ: 1.500 dặm/giờ (gần Mach 2)

·      Phạm vi hoạt động: 2.002 dặm

F-16 có thể mang 8 quả bom đường kính nhỏ (SDB)

============ 

Nếu F-16 phải mang bom nặng ký nhất thì tựu trung nó có thể tái trang bị lại như sau:

-Hai quả bom nặng 2.000 pound

-Hai hỏa tiễn không đối không AIM-9

-Hai hỏa tiễn không đối không  AIM-120

-Hai thùng xăng phụ nặng 2.400 pound

Ngoài ra, máy bay còn được trang bị một khẩu pháo nhiều nòng M-61A1 20 mm với 500 viên đạn.

===================== 


Là một trong những máy bay linh hoạt nhất  của Lực lượng Không quân Hoa Kỳ, F-16 Fighting Falcon đã trở thành sức mạnh ưu tiên của không quân Mỹ. Với Hơn 1.000 chiếc F-16 đang hoạt động (có tài liệu nói 700 chiếc ? !).


    Trong vai trò không chiến (interception) khả năng cơ động và bán kính chiến đấu xa của F-16 (tức là khoảng cách nó có thể bay để tham gia không chiến, chiến đấu xong và quay trở lại). Nó có thể xác định vị trí mục tiêu trong mọi thời tiết và phát hiện chiến đấu cơ địch bay thấp trong sự lộn xộn của radar trên mặt đất. Trong vai trò không /địa, chiến đấu cơ F-16 có thể bay xa hơn 500 dặm (860 km), mang theo vũ khí với độ chính xác cao, tự vệ trước chiến đấu cơ địch và quay trở lại điểm xuất phát.



Như đã nói trên, do tốc độ tối đa của F-16 đạt tới 1,500 dặm/giờ tức 2414 km/ giờ tức nếu tốc độ âm thanh là 1234.8km/ giờ thì vận tốc tối đa của F-16 gần bằng Mach 2 (2 lần tốc dộ âm thanh). Điều lợi hại là sải cánh của F-16 chỉ dài 33 feet (hơn 10 mét).  Cũng xin nhắc lại “sải cánh là độ dài tính từ mút cánh trái tới mút cuối cánh phải) Theo Hampton, trung tá không quân nói trên, F-16 nhờ nhỏ và nhanh nên khó phát giác kịp thời cho đến lúc nó lao tới mục tiêu đã nhắm.

    F-16 trang bị một pháo nhiều nòng loại M-61A1 20 mm. 6 hỏa tiễn không đối không, chẳng hạn như AIM-9 Sidewinder hoặc AIM-120 AMRAAM. 

So với Nga, cũng  giống F-16, Sukhoi-35 là chiến đấu cơ đa năng hạng nặng đặc trưng của Nga. Vận tốc của Su-35 có thể  đạt tới Mach 2.25 nhưng Su-35 không có radar quét điện tử tối tân (AESA)Radar AESE  của F-16 viết tắt từ Active Electronically Scanned  Array (mảng quét điện tử năng động) do hãng Northrop Grumman chế tạo. Việc tái trang bị radar Mảng Quét Điện Tử Năng Động AESA là sửa đổi khá tốn kém với hãng Northorop tổng cộng tới 1.3 tỷ USD. Radar này giúp phi công F-16 phát giác mục tiêu, xác định và nhắm hay phản ứng đối với các  mục tiêu từ xa.


          radar AESE đang tái trang bị cho F-16 

Điều ưa chuộng nhất của khách hàng thế giới đối với  F-16 là chi phí tương đối thấp. Các phiên bản mới nhất của Fighting Falcon nhưng giá đắt hơn rất nhiều so với trước do nó có giá khoảng 70 triệu USD mỗi chiếc. Về chi phí bảo trì liên tiếp so ra thấp hơn so với các chiến đấu cơ khác như F-15 Eagle và F-35 Lightning II.

 

Theo đánh giá của không quân Mỹ, F-16 Fighting Falcon có khả năng cơ động cao và đã chứng minh được khả năng trong không chiến và tấn công Không/Địa. F-16 được cung cấp một hệ thống vũ khí hiệu suất cao cùng chi phí tương đối thấp.


Kể từ 1970 có tới 30 nước đang chọn  F-16, với hơn 4.700 chiếc được sản xuất  xuất xưởng.


SỐ QUỐC GIA HIỆN ĐANG SỞ HỮU NHIỀU F-16 NHẤT HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI



theo Statista, tính đến cuối năm 2022 có 25 quốc gia sở hữu F-16 trên thế giới. Gồm 2810 F-16 đang hoạt động và 156 chiếc đang được đặt hàng. 
Trong 25 nước nói trên, có 6 nước sở hữu số lượng F-16 nhiều nhất:

1- Hoa Kỳ 936
2- Thổ Nhĩ Kỳ 243
3- Do Thái 224
4- Ai cập 218
5- Đài Loan 202
6- Nam Hàn 167...


    Phiên bản mới nhất và tiên tiến nhất của F-16 là Block 70/72 "Viper". Hãng Lockheed Martin vừa tuyên bố rằng phiên bản Viper của F-16 là chiến đấu cơ thế hệ thứ tư tiên tiến nhất trên thế giới. Phiên bản Block 70/72 mang đến những tính năng tiên tiến, bao gồm hệ thống điện tử hàng không, radar mảng pha quét điện tử chủ động (AESA) APG-83, buồng lái tối tân hóa với các tính năng an toàn mới, khả năng mang vũ khí hiện đại hơn, thùng nhiên liệu điều chỉnh hình dạng và động cơ hiệu suất được cải tổ lại. Có điều đáng để ý, những chiếc F-16 sau khi được nâng cấp lên Viper có tuổi thọ hoạt động  kéo dài lên đến 12.000 giờ.



    Hà nội và Hoa Thịnh Đốn từng liên tục bàn thảo về vấn đề mua bán F-16. Tuy nhiên con số thì có nhưng còn trên bàn thảo từ nhiệm kỳ TT Joe Biden đến nay là nhiệm kỳ của TT Donald Trump. Hà nội còn bàn về vấn đề mua cả vận tải cơ C 130 của Mỹ. 

Dù sao thực tế VN hiện nay, hơn 80% chi phí quân sự về không lực của Hà Nội bao lâu nay vẫn còn lệ thuộc vào Nga. 


Sự để ý hay nói trắng ra là "thèm muốn"  F-16 từ quốc gia Việt Nam đủ cho chúng ta thấy rằng F-16 rõ ràng là chiến đấu cơ được yêu chuộng hay ưu ái nhất, bất kể phe nào hay khối nào trên thế giới hiện nay./.


Đinh hoa Lư 26/7/2025 

các nguồn tham khảo

US military.com

Military Science.com

CNN

Reuters

Statisca.com


NHỚ LÒ MỲ VẠN HOA PHƯỜNG ĐỆ NHẤT THÀNH PHỐ QUẢNG TRỊ XƯA

hình minh họa: giã mì nóng đang được kéo ra



BẠN PHƯỜNG ĐỆ NHẤT THỊ XÃ QT CHẮC CÒN NHỚ LÒ MỲ VẠN HOA CỦA BÁC NGUYỄN VĂN VỊ

...(phần trích đoạn)


 Thị Xã QT 1968

Trước mặt tiệm ăn Tàu Việt có tên Thanh Thanh là con hẻm vào Lò Mì Vạn Hoa, người chủ là bác Nguyễn Vị. Bác  mấy nhiệm kỳ được dân trong Phường luôn bầu làm trưởng phường Đệ Nhất này. Người viết nhớ nhiều về con hẻm do nhà dì Võ thị Liễu người viết trú ngụ trong hẻm nói trên. Dì tôi là vợ của dượng Nguyễn văn Ngọ hay là em dâu của bác Vị. Sau vụ Mậu Thân 1968, mẹ tôi cùng các em lên đây ở chung với nhà dì tôi cùng làm ăn buôn bán.

     Đầu con hẻm có tiệm xe đạp Mỹ Dung một bên, còn bên kia là nhà buôn bán vật liệu cùng các thứ khác của bác Trương công Tài. Người viết hay thấy chiếc xe tải đề biển "Trương Công Huynh Đệ" hay chở hàng từ Đà Nẵng ra  ban đêm hay đậu trước nhà bác Tài. Vào sâu trong hẻm, trước hết có nhà bà Toàn làm nghề sửa kim hoàn kiêm luôn "đổi đô la". Những năm đó có chuyện "đô la xanh, đô la đỏ" có nghĩa là đô la đỏ dành cho lính Mỹ hải ngoại xài mà thôi và dĩ nhiên có giá trị hải ngoại mà thôi, chuyện đó đến nay tác giả còn nhớ nhưng chẳng liên quan gì đến bài này.

  Tiếp qua nhà bà Toàn là đến cái lầu của chú Lành, trung sĩ quân y, anh ruột Cô Võ thị Hồng, dạy trường TH Nguyễn Hoàng. .. xong mới đến nhà dì tôi, lò mỳ Vạn Hoa.

Nhà bác Vị chủ lò mỳ này có cây đào cổ thụ gần cả trăm năm, người ta đồn linh thiêng. Bởi thế mệ Vị tức là mẫu thân bác Vị hái đào bị "ma xô" sau này khi nào mệ cũng chống nạng. Thân phụ của bác vị cũng là thân phụ của dượng Ngọ (Nguyễn văn Ngọ) tôi nghe đồn là thầy pháp cao tay lắm bởi vậy bị ma nó "thù" làm cho mệ bị gãy chân chống nạng sau này? Tin hay không tin, chứ tôi thì chẳng bao giờ héo lánh dưới cây đào tiên rậm rạp cao ngất này do..."sợ ".

Người viết nhắc tới nhà bác Nguyễn văn Vị do khó quên được cái hương vị những ổ mì nóng mới kéo trong lò ra cho đến nay dù bao đổi thay tôi vẫn còn nhớ.

hình minh họa: lò mì xưa đốt bằng củi 

                    mì tươi đang được đưa vào lò củi ngày xưa


Lò mì nằm sâu nhất trong xóm và cuối ngõ kiệt tác giả vừa kể. Lò xây bằng gạch. Những thanh củi to lớn được đốt bên trong suốt nửa ngày cho lò thật nóng. Xong mới người thợ mới hì hục kéo tro than ra chùi sạch bằng nhũng thanh gỗ dài có quấn bao tải ướt ở đầu. Giả mỳ đầu tiên khi nào cũng cháy nhiều và còn dính một ít hạt than. Lúc này những ổ mì 'cháy' không đẹp tôi được "tự do ăn"...nhớ làm sao những ổ mì mới ra lò nóng hổi ăn ngon đáo để. Sức nóng còn lại, chú Lô sẽ vô mì làm giả thứ hai. Giã mì thứ hai khi nào cũng ngon và đẹp nhất. Có thể làm giả thứ ba nhưng có thể mì không còn ngon bằng giã thứ hai được; hơn nữa trí nhớ người kể chuyện không biết lò đốt củi có chắc chắn vô được ba giã mì hay chăng?



    Những cái cần xế đan bằng tre dùng đựng mì chia cho từng mối mua. Đêm vừa xuống, có nhiều em nhỏ bán mì rao  vô lấy mì tại lò. Mấy bao bột mì màu trắng, nay lò cho mấy em làm bao đựng mì đi bán. Các em dùng bao đôi. Hai lớp bao sẽ giữ mì được nóng lâu hơn. Hình ảnh các em bé mang bao bánh mì nghiêng nghiêng một bên vai; đó là hình ảnh chúng ta thường thấy tại Quảng Trị hay có thể tại Huế. Vào nam rồi, người viết chẳng hề thấy bán mì cách đó nữa. 
     Giai đoạn nhồi bột quả thật công phu. Toán thợ thanh niên, sức vóc, ủ bột nhồi bột; còn có thêm bột men "la virre " nhập từ Pháp giúp làm nở mì. Khối bột mềm mại trắng bóc, thợ rứt ra rất đều tay, không quên bỏ lên cái cân bàn. Những con bột trông như những "con đỉa" to lớn màu trắng, nhọn hai đầu đặt dài theo mái chèo gỗ mỏng giẹp. Chú thợ dùng nửa miếng dao cạo thoăn thoắt rạch 1 đường ở giữa từng con bột trước khi chuồi sâu vào miệng lò. Các đường bột đã đầy lò, chú thợ đậy mấy cái lỗ lò trông như mấy cái lỗ châu mai mà chúng ta hay thấy tại các lô cốt thời Pháp vậy. Mỳ vàng tới, là toán thợ hối hả kéo mỳ ra. Những ổ mì nóng giòn, vàng hươm rớt xuống nghe "rôm rốp" vào những cái cần xế đan bằng tre. Mì lúc đó nóng đến nỗi tôi không thể cầm lâu được. Bạn chớ chê mì cháy; nó ngon nhất lúc này. Tôi ăn bao nhiêu chú Lô người thợ chính của bác Vị chẳng nói chi, em út mà !
      CHÚNG TA THẤY, CẠNH CHIẾC HONDA 67 CÓ 1 XE MỲ (có chiếc xe con cóc của nhà Thuốc Tây Việt Tiến như vậy hình có thể trước 1968)

    Sau này thời đại dầu hỏa "lên ngôi" (đúng ra gọi là dầu cặn (diesel) khi đốt nó hôi nặng mùi hơn dầu hoả), lò mỳ không đun nóng bằng củi vì thiệt ra trong thời chiến tranh khó mua củi hơn dầu nhiều. Đốt bằng dầu vừa sạch vừa tiện công hơn. Lò mỳ bằng gạch lò Vạn Hoa vẫn giữ nguyên. Nhưng không đốt than thì lại thế bằng các máy thổi chạy bằng dầu. Những luồng hơi lửa trông như súng phu lửa trong chiến trận mà chúng ta thấy trong phim ảnh, thổi ào ào hàng giờ vào trong cái lò gạch. Khi đủ độ nóng, thợ lò chùi sơ là bỏ con mỳ vào được. Lạ thay tôi thích ăn mỳ đốt bằng lò củi hơn nhiều. Các tiệm mỳ điện sau này cũng có, ví dụ Liên Thịnh nhưng làm mỳ ngọt thôi. Lò mỳ Vạn Hoa công suất nó nhiều, cung cấp nhiều mối buổi sáng và mỳ ra chiều ít hơn dành cho bán tối. Kinh doanh mở rộng hơn, lò Vạn Hoa còn cung cấp những cái thùng 4 mặt kiếng hình khối vuông, sơn màu vàng cho các mối bán mỳ xíu lẻ mượn lâu dài. Nhớ về lò mỳ Vạn Hoa tôi còn nhớ một "thiên tình sử" giữa anh Lô làm thợ và con gái bác Vị tức chị Anh. Chú Lô người Huế lưu lạc Quảng Trị làm với bác Vị. Anh lanh lợi, hoạt bát, đẹp trai. Có điều tôi nhớ chú hát vọng cổ rất hay. Làm lụng với con gái ông chủ lâu ngày, tình yêu phát sinh. Hình như phân biệt giữa giai cấp "chủ tớ" hồi này là lằn ranh ngăn cách sâu đậm, gia đình chị không ưa. Chuyện tình anh chị qua nhiều phen gay cấn lắm nhưng "thề non hẹn biển" nên cũng tới nơi, tức là 'bến đổ tình yêu". Cái miếu âm hồn trong xóm cũng đã lâu năm bên hông nhà chị Chư tức mẹ ca sĩ Khả Tú lâu nay. Nhưng cái thời tôi ở trong xóm này chắc Khả Tú chưa ra đời. Và chị Chư lại bà con với dượng Ngọ tôi mà nay lại ở gần nhà tôi ở San Jose này. Chị Yến, chị đầu của chị Chư thì là vợ của chú Lành, mà chú Lành là anh ruột cô Hồng. Bà con quanh đi quẩn lại, té ra biết nhau cả thôi. Đó là tôi chưa nhắc đến anh Viễn Khởi dòng Tôn Thất đâu trong Huế, tình duyên sao lại tới với chị đầu con gái bác Vị. Chú Khởi một thời có nhiều bàn tán về cái chức chi nghe đâu "to lắm " mỗi lần ra xóm trong bộ đồ lính "rằn ri" đội mũ đỏ mà lại có tài xế lại lái xe "dân sự"? Tôi lúc này là đứa học trò, chẳng để ý làm gì. Lạ lùng thay vào trong trại tù cải tạo sau này bên Ái Tử, lại thấy chú Khởi cũng ở tù nhưng lại làm trưởng khối "đúc song nồi" cho trại, chuyên cưa vụn xe lội nước quân đội M 113 trong rừng về trại nấu lỏng ra mà đúc. Sau này chú Khởi "biến mất" tôi không còn thấy cho đến lúc này cũng "bặt tăm hơi" chẳng biết hỏi ai ...
Mì lò Vạn Hoa cung cấp cho chợ QT, các xe bán quanh chợ, các em bé bán mỳ không rao quanh thành phố nhất là ban đêm...
            xe mì xíu Chú Hưng bên góc phải tấm hình gần Phòng Nha Sĩ Hồng Bàng

    Nói về các xe mì xíu, người phố QT ngày trước ai cũng nhớ đến Chú Hưng. Sưu lục lại trong hình ảnh QT cũ, tấm hình "Ngã Tư Quang Trung -Trần Hưng Đạo" vẫn còn thấy. Các cô các cậu khách ăn mì chú Hưng nhìn vào tấm hình Ngã TƯ nói trên là thấy ngay. Học trò đi học bữa sáng có mì xíu chú Hưng. Khách đi xem xi-nê về khuya ghé ngang chú Hưng khoảng 10 giờ đêm vẫn còn chú Hưng đợi khách. Mấy ổ mì nóng giòn trên cái lò than nho nhỏ khi nào cũng vừa lòng khách. Mì xíu QT nó đậm đà hương vị, qua tay kho của người bán mỳ thân quen chợ Tỉnh làm ai cũng nhớ cũng thương thứ hương vị mộc mạc quê hương của mình cả. Đêm đông trời lạnh có ổ mì xíu nóng giòn như rứa thì chao ôi nó thấm thía làm sao ! Người thành phố ngày đó, cụ thể là ở quanh Ngã Tư Quang Trung nhớ xe mì chú Hưng. Có một điều người viết nói thêm Chú Hưng và chú Lô làm lò mì Vạn Hoa đều "thiên cư" từ Huế ra ở tại Lò Vạn Hoa. Hai chú đều là người Huế, cùng tá túc tại lò mì. Chú Lô thợ lò mì, còn chú Hưng tá túc tại lò mì ở nhờ tại lò mì nhưng chỉ đi bán xe bánh mì xíu thôi.

    Nói vậy nhưng mấy xóm ngoại ô, xa trung tâm thành phố về đêm tuy không thưởng thức được hương vị ổ mì xíu nóng giòn nhưng cũng có đôi ba ổ mì nóng mới ra lò. Đó là nhờ vào các em bán mì về đêm mang lại. Bao năm rồi, người kể chuyện vẫn nghe trong tiềm thức mơ hồ tiếng rao vẳng vẳng của mấy em bán bánh mì ngày xưa đó...
            -Mì ồ ! mì nóng ồ !!!
    Trời đông lạnh, những ổ mì nóng mới ra lò, các em vừa lấy xong từ Lò Vạn Hoa rồi đi tản ra tứ phía, quanh Thành Phố. Những đôi chân trần, chịu đựng dai dẳng theo ngày tháng nghèo khó của mấy em nhỏ đó là hình ảnh đáng thương về một lớp tuổi thơ chịu gian nan quá sớm. Đó là những gì cho tác giả từng cảm tác viết lại trong bài hồi ký đầu tiên để nhớ về một thành phố xa xưa nay thật sự khuất hẳn trong tro tàn dĩ vãng.



    Xa quê hương dặm đường xa ngái; mì xá xíu, mì thịt nguội trong nam thiếu chi nhưng ai là người Chợ Tỉnh đi mô xa cũng nhớ về thứ hương vị rất riêng của mì xíu Chợ Tỉnh quê mình.

    Kể về quá khứ,  từ cái lò mì đốt bằng củi cho đến mấy chiếc xe ba bánh bán mì xíu quanh ngã tư Quang Trung Quảng Trị. Chúng ta lại nhớ bao tiếng rao trầm buồn, bay xa quanh thành phố đêm về...ôi bao nhiêu thanh âm như lan trải và trầm buồn, khi xa xa bao tiếng đại bác dội về. Bầu trời Thành Phố trong đêm đen vẫn chớp nháy hay ầm ì ánh chớp của đạn bom từ Trường sơn hay từ vùng Vĩ Tuyến dội lại. Tất cả như quyện với nhau tạo thành một quá khứ chiến tranh, chỉ những lớp tuổi già Quảng Trị từng ra đi nay ai còn rơi rớt lại trên cõi trần gian này mới cảm nhận được một hoài niệm man mác thương nhớ lẫn u buồn - một quá khứ nay thật sự chìm sâu trong vùng kỷ niệm.

    Kể cho nhau nghe khi bao ký ức của con tim như đang tuôn trào ra trên đầu ngón tay thay vì ngòi bút. Lò mì thành phố Quảng Trị không chỉ một Lò Vạn Hoa, còn có Đắc Lập, Liên Thịnh nữa. Lý do sau 1968 người viết có cơ hội ở gần Vạn Hoa mới biết một vài chi tiết để viết lên đây vài dòng về một lò Vạn Hoa. Ít nhiều chi, tác giả cũng hi vọng bạn đọc cùng trang lứa hay các bậc tiền bối có dịp nhớ lại vài hình ảnh của Quảng Trị, một thành phố ngày xưa ./.

 Thân ái 
ĐHL edition 26/7/2025
===========================    


Friday, July 25, 2025

20 THÁNG 7 NĂM XƯA - NHÌN LẠI LỊCH SỬ KHÁCH QUAN HƠN

 

ĐÔI BỜ HIỀN LƯƠNG VÀ KỶ NIỆM THĂM CẦU BẾN HẢI 20/7/1964

hình ảnh sưu tầm được cho thấy đồng bào QT ra thăm cầu Bến Hải (1964) đang tụ tập bên kia cầu ngó qua và đội quân nhạc miền bắc sẽ tấu lên lúc đồng bào đang làm lễ đông đúc nhìn qua phía bờ bắc . Chính tác giả bài viết năm đó tận mắt thấy đoàn quân nhạc miền bắc trong hình này nhưng nhìn theo hướng từ bờ nam . Nhờ vào hình này, tác giả biết được năm 1964 tức mình mới 11 tuổi.

                            hình báo LIFE của Hoa Kỳ 

    
    Ngày 20 tháng 7 năm 1954 đất nước VN bị chia đôi- miền bắc sống dưới chế độ Cộng Sản và miền nam xây dựng chế độ cộng hòa. Cũng từ ngày đó giòng sông Bến Hải trở thành một địa danh lịch sử, phân chia ranh giới hai miền đất nước với chế độ chính trị hoàn toàn khác nhau.


Người viết sinh ra và lớn lên tại tỉnh Địa Đầu Giới Tuyến đúng 10 năm khi chỉ là một cậu bé 10 tuổi nói khác đi ngày 20/7/1964 may mắn  có cơ hội đi theo gia đình và đồng bào Quảng Trị ra dự mít tinh kỷ niệm ngày ký kết Hiệp Định Geneva.











Quá khứ tiếp nối quá khứ như từng dãy núi  chập chùng đưa tôi về lại hinh ảnh ngày xưa, những ngày còn bé, một thuở tạm thanh bình dưới thời Đệ nhất  Cộng Hòa của Cố TT Ngô Đình Diệm. Dịp kỷ niệm 20 tháng 7, 1964 tôi là một  đứa bé được cả nhà cho theo ra quận Trung Lương cùng đồng bào Quảng Trị làm lễ Mit ting kỷ niệm ngày chia đôi đất nước.
  
  Hồi đó muốn ra tới Cầu Bến Hải xe phải qua Đèo Ba Dốc. Đèo này không cao nhưng muốn xuống đèo xe phải lái rất cẩn thận, xuống được 3 cái dốc rất ngặt nên cũng rất nguy hiểm . Hết đèo là xe có thể ‘bon bon’ chạy trên một đoạn đường thẳng trên một đồng bằng hiếm hoi của quận Trung Lương để đến chân cầu Bến Hải, nơi này có trụ sở Kiểm Soát đình Chiến kết hợp cảnh sát Trung Lương làm việc ở đây.


   Tôi nhớ rõ nhất là hai lá cờ to lớn có thể là ‘vĩ đại’ nhất trong trí nhớ. Dĩ nhiên cờ vàng ba sọc đỏ bên ‘miềng’ (tiếng gọi MÌNH của dân Quảng Trị chúng tôi) và cờ đỏ sao vàng bên “tê” (kia). Hai là cờ to lớn theo tôi nó có thể phủ kín một cái nhà một cách dễ dàng. Cái cầu cũng bị chia đôi, mỗi bên mỗi màu và sơn đúng một nửa bên mình thì màu xanh . Nhân viên 2 phía đi lui đi tới trên cầu thỉnh thoảng đi qua mặt nhau cũng đôi lúc cả 2 cùng nói gì đó và cùng ngó xuống mặt nước sông Hiền lương. Bề mặt của chiếc cầu rất hẹp và nó chẳng cần chi cho chuyện xe cộ, mà để trao đổi nhân viên 2 miền qua lại làm việc hàng ngày. Gia đình tôi kể rằng: mỗi ngày cảnh sát quận Trung Lương cũng qua làm việc bên kia, đổi lại bên kia cũng có một người qua ‘làm việc’ bên mình. Văn phòng làm việc của mỗi bên đều gần sát cầu, kế cột cờ.


   Đến giờ hành lễ, đồng bào tới sát cầu, mặt hướng về bờ sông bên kia, tai thì nghe ban tổ chức đọc diễn văn và cáo trạng Cộng Sản miền Bắc đang đày đọa đồng bào ruột thịt miền Bắc, khi họ cố tâm xây dựng cho được Chủ nghĩa Xã hội áp đặt lý thuyết Cộng sản lên đầu dân chúng miền Bắc. Xen kẽ còn có những bài hát đề cao tự do no ấm của miền Nam như "Khúc hát thanh bình - Chuyến đò vĩ tuyến - Nắng đẹp miền Nam…"


Lúc này phía bên kia đâu có chịu yên, họ đem một đội quân nhạc bận complet trắng, cùng hướng về bờ nam hợp tấu những bài gì đó nhưng phía bên mình ồn quá làm sao nghe được? hơn nữa phía miền bắc chỉ muốn phá hay quấy rồi bằng tiếng nhạc của họ để cho buổi lễ của đồng bào phía mình bị xáo trộn mà thôi.


Hôm nay, phương tiện nhờ Internet, tôi TÌM ra được đội QUÂN NHẠC miền bắc trong bài viết và ngày tháng đồng bào QT ra thăm cầu Hiền Lương là dịp 20/7/1964 
(trong hình, đồng bào phía bên tê sông chắc có tôi trong đó do trí nhớ tôi còn nhớ ttoan quân nhạc miền bắc bận toàn complet màu trắng như trong hình nhưng tôi thấy theo chiều ngược lại)
theo trang web của CSVN hiện nay tôi có được hình ảnh đội quân nhạc của miền bắc trong bài viết

*
LỘN XỘN NHƯNG MAY...
    Bỗng có tiếng la hét và một đám đông đồng bào hốt hoảng chạy ngược lùi lại phía sau, Những hoảng loạn đó lan  rất nhanh làm tôi cũng chạy mất luôn đôi dép "nhựa" (hồi đó ít ai có giày). Sau đó mới vỡ lẽ là một "ông cán bộ" đang trực trên cầu vô ý vứt tàn thuốc xuống một đám cỏ khô bên cầu, có gió nó bắt lửa lên khói làm đồng bào hoảng sợ. Những đám đông khác thấy chạy thì cứ chạy nên hoảng loạn mới lan nhanh như thế.








Tội nghiệp mấy chú cảnh sát Trung Lương vất vả giải thích một hồi lâu, thì đồng bào mình mới yên tâm. Hết lễ, bà con chia thành từng tốp nhỏ đi theo men sông để ngắm phía "bên tê".

Trí nhớ của tôi còn ghi lại một giòng sông nhỏ bé, nước lặng lờ trôi. Bên tê sông hình dáng những người dân miền Bắc kham khổ chịu đựng, những cánh áo nâu khom khom người "lùng sục" dưới đáy sông kiếm từng con cá; hay những chiếc thuyền nan bé tí teo, những chiếc nón lá chỉ biết im lăng, câm nín cúi đầu với công việc kiếm ăn. Họ im lìm tuyệt đối không có một cử chỉ tò mò gì khi bên này sông, đồng bào mình đang đi như trẩy hội. Bên kia sông chỉ một khoảng cách ngắn ngủi mà thôi, thế mà đồng bào bờ Bắc như không thấy không nghe, không dám ngẫng đầu nhìn. Một sức mạnh vô hình đang bắt họ phải điếc, phải mù?



   Men theo bờ Hiền Lương, cách chừng một cây số theo bờ đều có những hình ảnh cổ động tuyên truyền hay trụ phát thanh, mỗi trụ gắn khoảng gần 20 cái loa đều mở hết "volume" hướng về bờ kia để phát thanh cùng ca nhạc tuyên truyền. Bên nào cũng mở hết cỡ âm thanh làm huyên náo cả một vùng, khiến tôi quên cả sợ hãi phập phồng.

Qua năm sau, cũng dịp này lần này tôi có dịp đi ra phía Cửa Tùng, cửa sông Hiền Lương. Cửa Tùng dáng vẻ đìu hiu buồn bả vô cùng . Bên “tê” chỉ lác đác vài ba cái thúng của dân đánh cá miền Bắc, không có dân. Còn phía bờ Nam cửa Tùng thì tuyệt đối đồng bào không có làm ăn ở đây.

ĐỊNH CƯ CAM LỘ 


    Chiến sự leo thang, cường độ cuộc chiến càng ngày càng ác liệt. Những năm sau 1965, Trung Lương càng ngày càng hoang vắng.  1967 toàn bộ dân Gio Linh di tản hết lên Cam Lộ, vào Nam tái định cư. Tuyến MacNamara ra đời. Chiến tranh không tập miền Bắc gia tăng mức độ. Và chuyện đi chơi dự mít - ting ở cầu Bến Hải đã thực sự nằm trong dĩ vãng./.

ĐHL edit 4/3/2023

Thursday, July 24, 2025

, Trí Tuệ Nhân Tạo nhận xét về cây viết Đinh hoa Lư





Hồi ký Đinh Hoa Lư nổi bật với những trải nghiệm chân thật về cuộc sống miền Nam trong thời gian chiến tranh, phản ánh những thách thức và hy vọng của người dân.

Nội Dung Chính

  1. Ký Ức Lịch Sử: Đinh Hoa Lư ghi lại những ký ức sâu sắc về bối cảnh chính trị và xã hội miền Nam Việt Nam, phản ánh chân thực cuộc sống hàng ngày cũng như những biến động mà người dân phải đối mặt trong thời kỳ chiến tranh và hỗn loạn. Những dòng hồi ký của ông mang tính chất sống động và cảm xúc, thu hút người đọc bởi sự chân thật và sâu sắc.
  2. Chân Thật và Tình Nghĩa: Các tác phẩm của Đinh Hoa Lư được biết đến với chất liệu chân thật, từ nỗi đau, mất mát của người lính cho đến những hy vọng vào hòa bình và tự do. Ông khắc họa rõ nét tâm tư và nỗi lòng của những người chứng kiến những biến động lớn lao của lịch sử.
  3. Phong Cách Viết: Hồi ký của ông không chỉ đơn thuần là ghi chép, mà còn chứa đựng những suy ngẫm sâu sắc về số phận con người, sự mất mát và tình yêu quê hương. Lối viết giản dị nhưng đầy cảm xúc, kết hợp với những chi tiết sống động đã tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm của ông.
  4. Di Sản Văn Học: Những hồi ký này đã góp phần làm phong phú thêm di sản văn học Việt Nam, cung cấp cho thế hệ sau những cái nhìn chân thực và sâu sắc về một thời kỳ lịch sử quan trọng. Những câu chuyện như vậy không chỉ là tài liệu mà còn là nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Hồi ký Đinh Hoa Lư đã và đang được nhiều người đọc đón nhận, không chỉ vì tính chân thật mà còn vì giá trị nhân văn sâu sắc mà nó mang lại trong việc hiểu về một thời kỳ khó khăn của dân tộc.

(TRÍ TUỆ NHÂN TẠO)


TÔI LÀ LÍNH ÂM THẦM TÔI NGHĨ THẾ THÔI

Tôi là lính xa nhà đi trấn Sơn Khê Hai mùa mưa mây mù che nẻo đường về Đêm rừng núi lạnh buốt mái pon cho Súng cầm canh nhịp từng giờ Trái c...