Friday, August 15, 2025

John E. Steinbeck- CALIFORNIA PHÍA BÊN KIA SA MẠC


Ta chưa hề thấy được một quang cảnh như thế này đây!


CHIA TAY VỚI GIA ĐÌNH WILSON 



    Cánh đàn ông lo bỏ đồ đạc lên xe. Bác John ngồi trên xe, phía dưới mấy người khác chuyền đồ lên cho ông. Bổn phận người bác, phải lo xếp mọi thứ thật cẩn thận, gọn gàng giữ mặt trên cho thật phẳng.


    Còn góc tư thùng thịt heo muối Má đổ hết vào cái chảo lớn, Tom và Al đem hai cái thùng dầu không ra sông rửa sạch xong cột chúng vào thành xe. Tiếp đến lấy gàu múc nước sông đổ đầy vào thùng. Hai người còn lấy vải bạt cột miệng phòng nước trào ra ngoài lúc xe chạy. Còn lại tấm bạt lều và nệm của bà Nội còn chờ đưa lên sau cùng.


    Tom lo ngại:

                            -Chở nặng thế này, máy xe chắc chắn phải nóng lắm. Chúng ta cần mang thật nhiều nước mới được.


    Trong lều, Má lo vớt mớ khoai tây vừa luộc ra hết, xong bà đem ra nửa túi khoai luộc cùng nồi heo muối. Cả nhà đứng ăn, bàn chân nhúc nhích, hai bàn tay ai đều thay nhau chuyền củ khoai nóng lần lượt qua, lại cho khoai nguội bớt…

    Má  bước nhanh tới lều ông Wilson, nói gì ở đó khoảng mười phút, xong bà bước ra vẻ mặt trầm buồn.


                -Thôi giờ nhà mình lên đường được rồi.


    Đàn ông lo bước tới lều. Bà Nội vẫn còn ngủ, miệng còn há rộng. Họ cùng nhau đỡ nguyên tấm nệm cùng Nội đang nằm trên đó: cố nâng thật êm cho tấm nệm lên phần trên cùng của chiếc xe. Hai ống chân khẳng khiu của Nội thò ra ngoài, bà chau mày trong giấc ngủ nhưng thật may, Nội không tỉnh thức.

    Bác John và Pa lo cột chặt tấm bạt trên một cái giá chữ thập tạo thành cái lều nhỏ trên nóc đống đồ, xong neo xuống hai thành xe, buộc chặt nó. Mọi thứ đã xong, Pa lấy trong ví ra hai tờ bạc giấy nhàu nát. Ông đi lại lều của người bạn Wilson và chìa ra:


                        -Cả nhà chúng tôi mong bạn hãy cầm tạm chút quà này cùng…


Ông chỉ vào mớ thịt và khoai vừa luộc …thứ này ăn tạm!


    Ông Wilson lắc đầu lia lịa:


                        -Tôi không lấy đâu. Các bạn không có nhiều mà phải làm như vậy?


Pa khẩn khoản:

                        -Chúng tôi có đủ để tới đó mà. Chúng tôi đâu phải có chừng này là hết. Chúng tôi sẽ đi làm ngay mà bạn.


   Ông Wilson vẫn cương quyết:

                    -Tôi không nhận đâu, bạn làm thế sẽ biến tôi thành thứ bần tiện mất thôi.


    Má nghe vậy liền lấy hai tờ bạc trong tay Pa, gấp lại ngay ngắn, xong bà dằn cái nồi thịt heo lên trên:


                        -Chúng tôi xin đặt ở đây nhé. Nếu bạn không nhận cho thì kẻ khác lại lấy mất nghe ông Wilson.


    Ông Wilson, đầu vẫn cúi xuống, quay người lại lều; ông bước vào bên trong, khoảng hở tấm bạt buông lại sau lưng ông.


    Toàn gia đình Tom Joad lặng lẽ chứng kiến phút giây chia tay, chợt Tom lên tiếng:


                        -Thôi chúng ta lên đường, chắc là gần bốn giờ chiều rồi!


    Cả nhà leo lên xe. Má ngồi trên cao cạnh Nội. Tom, Al, và Pa ngồi ở ghế phòng lái. Winfield được ngồi trên đùi Pa. Connie và vợ Rose of Sharon ngồi dựa lưng vào thành phòng lái. Thầy Casy với bác John cùng Ruthie ngồi trên đống đồ hỗn độn sau xe.



    Pa kêu thật to:


                -    Tạm biệt Ông Bà Wilson nhé!


    Chẳng có tiếng trả lời từ mái lều còn lại. Tom mở máy, chiếc xe tải rùng rục, loạng choạng lên đường. Vừa khi chiếc xe bò được lên con đường gồ ghề hướng về Needles để ra Xa Lộ, Má vẫn ngoái nhìn lui.


    Má nhìn thấy- Wilson đứng yên trước lều, tay cầm mũ, chằm chặp nhìn theo xe. Ánh chiều buông trên nét mặt ông. Má vẫy tay chào lần nữa, Ông vẫn lặng yên không chút gì đáp lại.


    Tom cho xe chạy số hai trên con đường lổm nhổm để bảo vệ cho bộ nhún của xe khỏi hư. Tới được Needles, Tom ghé xe vào một tiệm sửa xe kiểm soát lại hơi trong mấy cái bánh xe cũ sờn, coi lại cái bánh xe dự phòng cột chặt đằng sau. Anh còn lo đổ đầy bình xăng, còn mua thêm hai thùng xăng loại 5 gallon dự phòng, cùng một thùng loại hai gallon dầu máy. Anh lo đổ đầy két nước, kiếm một bản đồ cùng nghiên cứu đường đi...





   "BỌN OKIES"


 Có một cậu thiếu niên giúp việc cho trạm sửa xe, trong bộ đồng phục trắng. Nét mặt thật khó chịu cho đến lúc trả tiền xong, nét mặt kia mới hết.

                        - Đi như thế các người chắc chắn KHÔNG SỢ à?


    Tom đang chăm chú trên tấm bản đồ:


                        -Cậu nói thế có ý gì thế?

                        -Ô, sắp vượt qua sa mạc trong chiếc xe ‘cà tàng’ này sao?

                    -Cậu có qua lần nào chưa?

                    -Có chứ, qua nhiều lần rồi nhưng không đi bằng chiếc xe hư nát như vậy đâu!


    Tom chống chế:

  

                      -Nếu xe hư có thể có người giúp đỡ thôi.

                        -Ồ, hi vọng thế. Nhưng người ta ai cũng sợ ngừng xe ban đêm để giúp ông lắm. Chính tôi cũng ghét ngừng như vậy. Bởi vì chúng tôi rất sợ.


    Tom cười:


                    -Khi người ta không thể làm gì hơn thì không còn phải sợ nữa. Dù sao cũng cám ơn cậu cho hay. Chúng tôi phải gắng mà lết thôi.


        Nói xong, Tom lên lại xe lái đi.




    Cậu thiếu niên trong bộ đồ trắng bước vào trong căn nhà làm việc bằng tôn. Bên trong còn có một cậu khác đang bận rộn với đống hóa đơn:

    

            -Lạy Chúa, bọn họ ăn mặc trông khó coi quá!


            -Phải bọn Okies không? Chúng nó trông bần hàn quá!


               -Lạy Jesus, tao rất ngán đi trên chiếc xe ‘gà tàng’ như thế.

  

                  -Ồ, mầy và tao đều có ý thức. Nhưng bọn “chết tiệt” Okies kia biết ý thức là cái quái gì đâu? Bọn họ không còn là người. Nếu người thì không ai phải sống như thế. Con người có ai chịu được cái cảnh dơ dáy và thê thảm thê như vậy? Bọn chúng quả là một 'đám khỉ đột' không hơn không kém đó thôi!


                    -Tao cũng nghĩ giống mầy , tao rất mừng là chưa hề vượt qua cái sa mạc trong chiếc xe khốn khổ Hudson Super-Six như thế? Ôi nghe tiếng máy chiếc xe chẳng khác gì cái máy xay lúa không bằng?!


        Nói xong cậu khinh miệt kia, hắn lại tiếp tục dò lại tập hóa đơn. Một giọt mồ hôi khá lớn lắn theo ngón tay dò tìm của y, rơi xuống tờ hóa đơn màu hồng.


                        -Mầy biết, bọn họ không gặp nhiều tai nạn. Bởi do chưa gặp tai nạn nên bọn chết tiệt đó chưa biết thế nào là nguy hiểm. Lạy Chúa Toàn Năng, Bởi vì bọn họ chỉ biết có ngần ấy thôi nên chưa thấm. Thế thì bận tâm làm gì.


                    -Tao chẳng bận tâm, chỉ đặt vào trường hợp mình thôi. Nhưng tao sẽ không bao giờ muốn thế.


                    -Cũng do mầy hiểu biết hơn. Bọn họ thì chẳng hiểu biết chút nào vậy thôi.



        Nói xong, hắn lấy tay áo chùi giọt mồ hôi còn đọng trên tờ hóa đơn màu hồng đó.


***

VƯỢT QUA SA MẠC


     Chiếc truck lái vào con đường rồi bắt đầu leo lên dãy núi dài, xuyên qua nhiều vách đá nứt nẻ, nham nhở. Máy xe nóng lên thật mau, lập tức Tom giảm tốc độ cho xe chạy thư thả. Vượt lên con dốc dài những cơn gió xoáy, giật từng hồi thổi qua một vùng đất chết, cháy xám bạc phếch, cơ hồ không còn một sinh vật nào sống nỗi trên vùng đất này. Tom liên tục cho xe nghỉ trong ít phút để máy nguội bớt xong tiếp tục chạy lại. Họ lên được đỉnh đèo vừa lúc mặt trời còn cao, mọi người đều có cơ hội nhìn xuống sa mạc trước mắt. Trước mắt họ xa nhất là một rặng núi đen ngòm, môt sa mạc màu xám đang phản chiếu lại ánh vàng rực của mặt trời. Sa mạc chỉ có vài bụi cây thưa thớt sóng sót, cây bông sô và vài bụi cây họ dầu greasewood in vài cái bóng đậm lẻ loi trên nền cát xen kẽ vài miếng đá vụn rời rạc đó đây. Ánh nắng chói chang vẫn chiếu thẳng xuống đỉnh đầu. Tom giữ tay lái trước khi mắt nhìn rõ mọi vật trước mắt.  Họ đã vượt qua đỉnh núi và khi xe thả dốc giúp máy xe bớt nóng. Con dốc đổ xuống chạy dài cho đến khi chạm mặt sa mạc đến lúc này cái quạt động cơ bắt đầu chạy ngược giúp làm nguội két nước. Trong băng ghế tài xế, Tom, Al và Pa cùng em nhỏ Winfield đang ngồi trên đùi Pa đều ngắm được ánh mặt trời chói chang đang hạ dần, tất cả con mắt đều trơ lại, những khuôn mặt cháy nám ướt đẫm mồ hôi. Những vùng đất cháy nắng, những mãng đồi nham nhở lan xa làm cảnh vật trở nên ghê rợn hơn trong ánh nắng đỏ loét của mặt trời đang thấp dần.


Al buộc miệng:


                    -Ôi lạy Chúa, thật là vùng đất khủng khiếp. Làm sao con người có thể đi bộ qua đây được?

                    -Thế mà có người vẫn qua được, nhiều người quá bộ qua đây. Nếu họ đi được thì chúng ta vẫn có thể đi được.

    -Nhưng phải có lắm người chết chứ.

    -Ồ đương nhiên phải chấp nhận thôi, có khó khăn nào mà không mất mát đâu?


    Al im lặng một lúc, sa mạc đỏ hoét lần lượt quét qua. Al lãng qua chuyện khác:


                    -Chắc chúng ta khó gặp lại gia đình Wilson quá anh Tom hả?


Tom thoáng liếc vào đồng hồ đo dầu.


                -    Anh có linh cảm sao sao sao,  do không thấy Bà Wilson, Anh linh cảm chắc có điều gì chẳng lành cho bà cũng nên?


    Winfield chợt kêu to:


                    -Pa ơi! con muốn đi ngoài…

Tom liếc qua đứa em út:


                    -Chắc mọi người nên xuống xe một lát trước khi chúng ta tạm nghỉ để chuẩn bị chạy đêm nhé.’


    Nói xong anh cho xe chậm lại và dừng hẳn. Winfield vội bò ra ngay để đi tiểu bên đường.

Tom thò đầu ra gọi:

                    - Có ai muốn đi nữa không?

    Bác John trả lời ngay:

                    -Mấy người trên này nín tiểu lâu rồi đây!

    Pa bảo cậu út:

                        -Winfield còn trèo lui sau ngồi, con ngủ trên chân ba lâu quá rồi.


    Đứa nhỏ vâng lời, vội cài nút cái quần treo xong dùng hai tay và đầu gối nó trèo lui sau, leo lên đống đồ, bò qua tấm nệm Nội đang nằm, tới ngồi với Ruthie.


    Chiếc truck tiếp tục chạy suốt buổi chiều, mặt trời đang xuống phía chân trời chuyển sa mạc trở thành màu đỏ rực.


    Ruthie lên tiếng hỏi anh:


                    -Sao chúng ta chưa dừng nghỉ ở đây hả?

                    -Anh chưa muốn, do đây không bằng phẳng chút nào khó ngả lưng nằm lắm em à.


    Chợt Ruthie tỉ tê bên tai tài xế:

   

                     -Ô sao anh Tom không giỡn với em một chút? Giả tiếng kêu hay nói chuyện cho em ngủ. Em muốn ngủ một giấc tỉnh dậy là tới nơi rồi. Anh Tom nói nhà mình sắp tới một nơi thật vui và rất đẹp mà.


    Mặt trời xuống thấp, chiếu một vầng hào quang vĩ đại trên bầu trời. Bên dưới tấm bạt, ánh sáng tối hơn, chỉ thấy thấp thoáng vài vệt sáng dài xuyên qua chiếu thành những hình tam giác phẳng ở phần cuối cùng.


    Connie và Rose of Sharon dựa lưng vào cabin xe, ngọn gió nóng xuyên qua tấm lều tạt vào sau đầu hai vợ chồng. Tiếng tấm bạt vẫn phần phật bay trên đầu hai người. Hai vợ chồng nói chuyện nho nhỏ với nhau cố ý chen giữa tiếng phành phạch của tấm bạt để chẳng ai nghe được câu chuyện của họ. Khi Connie nói thì anh ghé miệng vào tai vợ mình; đến phiên Rose nói thì cũng y như vậy. Nàng nói với chồng:


                    -Xem chừng nhà mình không làm gì chỉ lo chạy thôi. Em mệt quá rồi.


    Anh chồng quay đầu nói vào tai vợ:


                    -Có lẽ vào sáng mới dừng được. Thế nào em thích yên một mình hả? 


    Lợi dụng ánh hoàng hôn anh chồng sờ soạng vào hông vợ…


                        -Đừng anh, anh làm em nổi điên nghe, đừng anh.


    Và nàng tiếp tục quay đầu nghe chồng trả lời:


                -Có thể đợi… lúc mọi người ngủ đã.

                -Có thể, nhưng đợi cho đến lúc mấy người kia ngủ. Anh làm em điên mất, rồi họ cũng hết ngủ luôn thôi.

                -Anh khó ngưng tay quá…

                -Em biết. Em cũng thế. Thôi hãy bàn khác, chuyện khi chúng ta tới đó xem? Giờ thì anh bỏ tay ra không em nổi điên lên đây nghe.


    Anh chồng chỉ dời tay đi một ít.

   

                         -Ồ. Anh sẽ đi học đêm ngay lập tức khi tới đó.


    Nàng thở dài:

   

                         -Anh sẽ xin phiếu giảm học phí và mua sách để học.

                        -Anh nghĩ chừng bao lâu?

                        -Bao lâu gì?

                        -Anh phải học mất bao lâu trước khi đi kiếm nhiều tiền và chúng ta làm được đá lạnh?

            -Anh không thể nói trước được.


    Giọng anh chồng ra vẻ quan trọng:


                        -Thật sự không thể nói ngay bây giờ. Thường thường một người cần phải học cho xong trước Giáng Sinh.

                        -Như vậy anh phải học cho xong cách chế ra đá lạnh và vài thứ khác nữa.


    Anh chàng chắt lưỡi:

                        

                    -Ở đây trời nóng quá. Mà em cần đá lạnh vào mùa Giáng Sinh này làm gì vậy?


    Cô vợ cười khúc khích:


                        -Đúng thế, lúc nào em cũng thích làm đá lạnh. Nhưng bây giờ thì không. Anh làm em phát điên mất.


*** 


    Hoàng hôn lịm tắt, nhường chỗ cho bóng tối và các vì sao trên vùng trời sa mạc bắt đầu xuất hiện trên nền trời êm dịu hơn. Những ánh sao nhấp nháy, nhọn hoắc, cùng những chớp sáng quanh chúng. Bầu trời êm dịu lại như nhung, sức nóng đã thay đổi nhanh chóng. Ban ngày khi mặt trời lên thì sức nóng gay gắt bùng phát bay lượn khắp nơi, nhưng ban đêm thì sức nóng chỉ đến từ lòng đất, nên dày đặc, nghẹt thở. Rồi đèn xe trờ tới, ánh đèn chỉ đủ chiếu sáng một đường mờ nhạt đằng trước xa lộ, cùng hai vạt nho nhỏ hai bên con đường. Thỉnh thoảng mắt người hướng theo luồng sáng nhìn xa về trước nhưng chẳng thấy con vật nào cả. Giờ đây phía sau chỉ là vùng tối đậm đặc dưới tấm bạt. Bác John và thầy đạo nằm co giữa xe, gối đầu nghỉ ngơi vào khuỷu tay mình. Họ nhìn chằm chặp vào khoảng sáng hình tam giác của tấm bạt phía sau xe. Hai người nhận ra hai thân người nhô lên của Má và Bà Nội nằm quay lưng ra ngoài. Má họa hoằn lắm mới dám nhúc nhích, bóng đen của cánh tay bà dựa ra ngoài.


Bác John bắt đầu tâm sự:


                    -Thầy Casy,  tôi biết thầy là một người biết nhiều…

                    -Biết nhiều nhưng về vấn đề gì mới được chứ?


    Người bác lúng túng:


                    -Tôi chẳng biết nói sao nữa?

                    -Ồ, vậy thì chẳng có gì với ta cả.

                    -Tốt, thầy là một người giảng đạo.

                        -Nghe đây, John, ai cũng cách biệt với ta bởi nghĩ rằng ta là người nhà thuyết giáo. Nhưng không, người thuyết giáo không là gì cả, ông ta cũng là một con người mà thôi.

                    -Đúng, nhưng ông ta là một loại người, nếu không thế ông ta không thể nào là một người giảng đạo được. Tôi muốn hỏi thầy—vâng, thầy có nghĩ rằng một người có thể mang lại vận xui cho kẻ khác chăng?

                    -Ta không biết.


Thầy lập lại lần nữa:


                 -Ta chẳng biết.

                -Ồ, thầy thấy đó, tôi từng có vợ. Tốt, nàng là người con gái hiền lành. Có một đêm kia nàng lên cơn đau trong bụng. Nàng kêu ta ‘anh đi kêu bác sĩ mau lên’ nhưng ta lại nói, ‘Rõ khổ, do em ăn nhiều quá đó thôi’


    Trong bóng tối, Bác John đặt tay lên đầu gối thầy Casy và kể tiếp:


                    -Nàng nhìn tôi và rên rỉ suốt đêm, cho đến chiều hôm sau thì nàng mất!


Nghe ngang đây, vị thầy lẩm bẩm gì đó. Bác John tiếp tục…


                    -Thầy thấy đó, tôi đã giết nàng. Bởi vì vậy tôi gắng làm cho tốt nhất là đối với bầy con nhưng tôi lại thất bại, tôi lại say sưa và tệ hại nhiều hơn nữa?


                    -Mọi người  ai có lúc bị điên dại như thế, ta cũng vậy.


                    -Thầy nói đúng, nhưng thầy không tội lỗi như tôi đâu.


    Tiếng vị thầy từ tốn trả lời bác John:


                        -Ta chắc chắn từng mắc tội, ai cũng từng có lần mắc tội. Tội lỗi đó đến bất ngờ mà người đó chẳng bao giờ chắc chắn rằng biết được hết. Có những loại người họ thường cho rằng mình hoàn toàn không có tội lỗi gì? Ồ, nếu ai nghĩ thế thì họ chỉ là thứ “chó đẻ” thôi. Giá ta là Chúa Trời ta sẽ đá đít bọn họ ra khỏi thiên đàng ngay! Ta không thể chấp chứa hạng người này.


    Bác John nói như ân hận:


                    -Tôi có cảm giác tôi là người mang điều chẳng may theo với gia đình với bà con mình hôm nay. Tôi có cảm giác rằng phải tự mình trốn đi để cho người nhà tôi hôm nay được mọi sự an lành. Tôi thật áy náy trong lòng khi cứ đi theo như vầy?


    Thầy Casy lập tức phản ứng:


                    -Ta hiểu điều này—một người phải làm những gì đáng làm. Ta không thể bảo ông, không thể bảo ông điều gì. Nhưng ta không cho là cả nhà này đang gặp điều may hay xui xẻo. Có một điều trong thế gian này ta cho là chắc chắn đó là không một ai có quyền làm xáo trộn cuộc đời người khác. Người đó chỉ có quyền quyết định đời mình mà thôi. Có thể giúp người nhưng chớ bảo người ta phải làm điều này điều nọ.


    Bác John thất vọng:


                    -Thầy vẫn không hiểu.

                    -Ta không hiểu ư?

                    -Thầy nghĩ đó là tội lỗi do tôi để vợ tôi chết như vầy?

                    -Ồ, có người rằng cho do đó chỉ là điều sai lầm, nhưng nếu ông cho là Tội Lỗi thì đó là Tội Lỗi. Ngay từ lúc đầu người ta ai cũng có tội rồi.

                    -Thôi hãy bỏ qua chuyện này đi!


    Người bác trở người, hai đầu gối cong lên tiếp tục ngủ lại.


                            *** 


    Chiếc xe tiếp tục chạy nhiều giờ trên mặt đường nóng bỏng. Ruthie và Winfield đã ngủ. Connie kéo chiếc mền trong đống đồ che cho mình và vợ. Dù nóng nhưng hai vợ chồng vẫn tiếp tục nín thở ‘lục đục’ với nhau. Một lúc sau Connie phải bỏ mền đi,  làn gió nóng bên ngoài thổi qua nhưng vẫn mát cho hai tấm thân ướt át mồ hôi của hai người.


                                                                 NỘI TRỞ BỆNH TRÊN XE

    Phía sau xe, Má nằm trên tấm nệm cạnh Bà Nội. Trong đêm mắt không thấy gì nhưng bà vẫn cảm nhận được một tấm thân bên cạnh đang phấn đấu,và trái tim đang cố gắng sinh tồn; một hơi thở nghe như thổn thức bên tai. Má cứ tự nhắc với mình:


                -Tốt lắm, vậy là tốt lắm!


    Giọng Má khàn khàn:


                    -Nội biết cả nhà chúng ta cần phải vượt sa mạc, Nội biết mà…


    Bác John nghe tiếng vội hỏi:


                    -Có chuyện gì không?


    Một thoáng sau có tiếng Má trả lời:


                        -Tốt rồi, có thể khỏi canh Nội, tôi cũng cần ngủ một ít.


    Sau một lúc đợi bà ngủ yên, Má mới an lòng nằm yên.


                                          TRẠM KIỂM SOÁT NÔNG NGHIỆP

    Những giờ trong đêm tiếp tục qua đi, chiếc xe tiếp tục lầm lũi chạy trong màn đêm đen nghịt. Thỉnh thoảng mới có vài chiếc xe khác chạy qua mặt họ, cùng chạy về hướng tây. Thỉnh thoảng có vài chiếc xe tải thật lớn chạy ngược chiều, qua mặt họ chạy rầm rập về hướng đông. Vài ánh sao từ từ chìm xuống tận chân trời hướng tây. Gần đúng nửa đêm, chiếc xe sắp tới trạm Kiểm Soát Nông Nghiệp của Daggett. Con đường giờ đây tràn ngập ánh đèn. Có một bảng đề hàng chữ lớn được chiếu sáng vào đêm:


LÁI THEO BÊN PHẢI VÀ DỪNG LẠI




    Vài nhân viên lui tới trong văn phòng làm việc, họ bước ra hàng hiên đứng đợi sẵn khi Tom cho xe dừng lại.

Một nhân viên kéo bảng số xuống để mở nắp mui xe lên. Tom liền hỏi:

                    -Đây là trạm gì đây ông?

                    -Trạm kiểm soát nông nghiệp. Chúng tôi muốn kiểm tra đồ đạc các người. Có đem theo cây cỏ hạt giống gì không?

                    -Không.

    Má nặng nhọc trèo xuống. Gương mặt bà nặng nề, đôi mắt mệt mỏi bơ phờ.

                    -Thưa ông hãy xem, chúng tôi có một bà già đang bệnh cần đi gấp để tìm vị bác sĩ chúng tôi không thể nán lâu được?

    Giọng bà tuồng như bắt đầu giận dữ, sắp đốp chát đến nơi:

-                       -Các ông không thể bắt chúng tôi chờ lâu được.

-                   -Gì? Ồ nhưng chúng tôi phải kiểm tra các người?

Má kêu lên:

                -Tôi thề chẳng mang thứ gì cả. Tôi thề đó. Bà chúng tôi nặng quá rồi!

            -Bà xem chừng mất bình tĩnh quá

 rồi?

     Người nhân viên có vẻ e sợ.

    Má thụt lùi vào sau xe, dỡ phăng tấm chắn bằng cả sức mình bà nói lớn:

                    -Hãy nhìn đây!


    Nhân viên chiếu đèn rồi nhìn thấy tận mắt một khuôn mặt già nua teo tóp:

                -Lạy Chúa, bà ấy nói thật. Bà đã thề không có mang hạt giống hay giống cây, rau, bắp cùng cam phải không?

                -Không, không có. Tôi thề!

                -Thôi hãy đi đi. Các người tới Barston sẽ có bác sĩ. Cách đây tám dặm thôi, đi mau lên.


    Tom leo lên xe lái đi ngay.


    Người kiểm soát quay sang đồng nghiệp:

    

                -Ta không nỡ lòng giữ họ lâu được.

                -Có thể trò bịp đó thôi?

                -Ôi lạy Jesus, không thể vậy được. Ông nên nhìn vào mặt bà đó, không bịp gì đâu!


***


    Tom tăng thêm tốc độ cho xe mau tới thị trấn nhỏ Barstow và dừng lại. Anh bước ra chạy vòng lui sau xe:


    -Bà có đau nặng lắm không?


Má thò đầu ra:

                    -Không sao cả. Do má không muốn mất thì đằng chỗ kiểm soát do sợ không còn thì giờ vượt qua sa mạc đó con.

                -Tốt, nhưng  Nội sao rồi?

                -Bà cũng khỏe…à cũng được thôi. Hãy lái tiếp đi, chúng ta cần vượt đêm nay.


Tom lắc đầu bước lui lại. Chợt anh bảo Al:


                        -Al, anh tới đổ xăng xong, em lái phụ anh nha?


Nói xong,  anh cho xe tới trạm xăng đêm đổ đầy bình xăng và két nước, cùng dầu hộp số. Al xê qua ngồi giữ tay lái, Tom ngồi ngoài cùng cho Pa ngồi giữa. Chiếc xe lầm lũi đi xuyên đêm, dãy đồi thấp phía Barstow nằm lại phía sau họ.


Tom lo lắng:


                    -Con không biết có chuyện gì lòng Má không? Má trở nên bực tức cáu kỉnh và nóng nảy bất thường lắm. Đúng ra cũng không nên ngồi lâu trên đống đồ như thế? Lúc thì Má nói Nội đau dữ lắm lúc thì Má nói Nội khỏe rồi. Má trở chứng gì rồi? Có thể chuyến đi làm Má quẫn trí cũng nên?


Pa giải thích:

                    -Hành động của Má con y như thời con gái. Có lúc Má con rất dữ. Bà chẳng sợ gì cả. Ba cho rằng tất cả các con đều cùng nhau can ngăn Má con mới được. Ba từng nói với con ba không muốn mình làm người can ngăn má con nữa.

                    -Con không hiểu tâm trạng má con. Có thể má con quá mệt mõi mới sinh ra vậy.


    Al chen vào:

                        -Em đang lái chiếc xe ‘cà tàng’ này đây, đừng để em nghe chuyện bực mình như thế nữa!

                        -Tốt thôi, muốn thế hãy gắng cho mau để đi kiếm cái nghề hái trái thế là chúng ta thoát không còn rắc rối chút nào với chiếc xe này.

                     Mojave City 1930s


    Trời nóng nực nhưng mọi người phải đi xe một cách nhàm chán như vậy suốt đêm. Vài con thỏ đất đứng khựng một lát do đèn chiếc xe dọi tới, xong vội nhảy đi. Ánh bình minh bắt đầu hé lên sau họ. Trong lúc ánh sáng của thị trấn Mojave còn hắt lên trời đằng trước. Ánh bình minh lên cao dần soi rõ rặng núi phía tây trước mắt họ. Tới Mojave họ đổ thêm nước và dầu, xe tiếp tục bò lên dãy núi, lúc này ánh sáng bình minh đã lên lan tới mọi người.


    Tom kêu to:

                        -Lạy Jesus, chúng ta qua rồi. Al, Nhờ Ơn Chúa! Chúng ta qua sa mạc rồi!


Al thố lộ:

            -Em hồi hộp và lo lắng hết sức.

            -Muốn anh thay lái chưa?

            -Chưa anh, chút nữa.





    Xe họ lái xuyên qua Tehachapi trong buổi sáng, mặt trời bắt đầu lên cao phía lưng họ, thình lình một thung lũng rộng lớn xuất hiện trước tầm mắt mọi người. Al gài thắng và dừng xe giữa đường, anh ta buộc miệng:

                    -Lạy Chúa, nhìn kìa!

    Không biết bao nhiêu là vườn nho, vườn cây ăn trái khác trải dài khắp một thung lũng bằng phẳng, rộng bao la. Một màu xanh đẹp mắt, vô số hàng cây trồng thành hàng thẳng tắp, thấp thoáng những mái nông trang nhô lên.


    Pa trầm trồ:


                    -Tạ Ơn Đức Chúa Toàn Năng!


    Vài thành phố xa xa, ẩn hiện vài thị trấn nho nhỏ sau những vườn cây, bao la bát ngát trải dài dưới ánh mặt trời, cả một thung lũng vàng xuất hiện dưới tầm mắt của người mới tới. Người ta bóp còi sau họ. Al lo cho xe tấp vào bên đường, xong đậu lại:


                    -Con muốn ngắm cho thỏa cảnh thung lũng này trước đã.


    Những đồng lúa mì vàng rộ lên dưới ánh mai, những hàng liễu trải dài, những hàng bạch đàn ngay hàng thẳng lối.

    Pa thở ra:

                            -Ta chưa hề thấy được một quang cảnh như thế này đây!


    Rất nhiều cây đào cùng những bụi hồ đào, và nhiều rừng cam trùng điệp với nhau thành một màu xanh lục đậm. Những mái nhà màu đỏ lấp ló giữa những hàng cây. Lại có nhà kho –những nhà kho sung túc trong đó. Tom bước ra xe, duỗi chân cho khỏi mỏi.

     Chợt cậu ta gọi:

                -Má ơi, lại ngắm này. Chúng ta tới rồi!




    Ruthie và Windfield lo nhảy xuống trước, xong đứng yên im lặng sửng sốt chúng bối rối trước quang cảnh của một thung lũng vĩ đại. Càng về xa cảnh càng nhạt nhòa, lan tỏa bởi sương mù, mặt đất càng xa trông càng dịu dàng hơn. Có cái cối xay gió xa xa lấp loáng dưới ánh sáng mặt trời, mấy cánh quạt gió lấp lánh ẩn hiện chẳng khác gì tín hiệu thông tin bằng ánh sáng nào đó ở phía xa xa.  Ruthie và Winfield vẫn đứng yên nhìn. Ruthie chợt thì thào:

-                           -Tới California rồi!

Winfield nhúc nhích môi, âm thầm sửa soạn nói ra một thanh âm nào đó. Chợt cậu bé la to:

                -Trái cây tha hồ  ở đó!

    Thầy Casy, Bác John, Connie cùng Rose of Sharon giờ bắt đầu leo khỏi xe. Họ đứng lặng yên. Rose of Sharon, tay nàng lo vuốt tóc lui lại phía sau, mắt ngắm quang cảnh thung lũng, bàn tay nàng từ từ buông xuống cạnh hông.


                            NGỦ VỚI XÁC BÀ 




    Bỗng Tom kêu to:


                        -Má đâu rồi má ơi? Con muốn Má ra ngắm cảnh nè! Nhìn này Má, lại đây!


    Má chậm chạp leo xuống, người cứng ngắc, chợt buông người dựa vào thành xe. Tom thoáng nhìn thấy:


                -Ôi lạy Chúa! Má sao rồi? Má bệnh hả?


    Mặt Má cứng đờ, trắng bệch. Đôi mắt như chìm sâu vào đầu; mí mắt đỏ ửng, mệt mỏi. Chân tuy chạm đất nhưng tay Má phải níu vào thành xe mới đứng được.


    Má thều thào:


                    -Con nói chúng ta qua sa mạc rồi ư?

    Tom háo hức chỉ về hướng thung lũng:

                    -Má nhìn kìa!


    Má xoa đầu nhìn, miệng hơi hé ra. Ngón tay Má nhẹ lần lên cuống họng, bấu một ít da vặn nhẹ:

                    -Cám ơn Chúa! Vậy là nhà ta tới rồi.

    Má cong đầu gối lại, ngồi xuống bàn đạp chiếc xe.

                    -Má bệnh hả Má?

                    - Không, Má chỉ mệt.

                    -Có thể Má không ngủ chút nào cũng nên?

                    -Không phải thế đâu con.

                    -Bà Nội có tệ lắm không?



Má chỉ nhìn xuống đôi bàn tay nắm chặt như những gì thân mến nhất trong đùi mình:

                        -Má vừa mong có thể ráng sức đợi, không nói cho cả nhà cho đến giây phút này đây. Má vừa mong tất cả đều qua trót lọt êm xuôi cho đến giây phút này đây…


    Tiếng Pa nóng ruột:

                        -Nhưng, nhưng Bà Nội ra sao, có mệt lắm không?

    Má ngước nhìn lên, nhưng lại hướng về hướng thung lũng:

                                       -BÀ QUA ĐỜI RỒI!!!

    Cả nhà đồng loạt nhìn sửng vào Má, Pa hỏi lớn:

                                -LÚC NÀO!?

                            -Trước lúc họ dừng xe chúng ta lại để kiểm tra, tức là đêm qua.

                            -Sao bà không muốn cho cả nhà tới nhìn bà lần cuối?

                            -Tôi sợ cả nhà chỉ lo chuyện Bà Qua Đời mà không còn khả năng vượt qua sa mạc. Tôi có nói thật với Bà rằng nhà mình đã hết sức nhưng chẳng còn cứu Bà được nữa. Gia đình phải VƯỢT cho được sa mạc. Tôi đã nói với với Nội trong giây phút Bà hấp hối. Chúng ta không thể dừng giữa sa mạc; còn có tụi nhỏ nữa—Rosasharn sắp sinh em bé. Tôi đã nói hết với Nội.


Má úp hai bàn tay lên mặt một lát rồi tiếp:

-                               -Bà phải tới đây để được an táng tại một nơi xanh tốt…  


Giọng Má dịu trở lạimột nơi có cây cối và xinh đẹp. Bà phải đến cho được California như lòng bà mong đợi.    

    Cả nhà đứng yên nhìn Má cùng kinh hãi sức chịu đựng cùng tinh thần mạnh mẽ của Má.


    Tom buộc miệng:

    

            -Lạy Chúa! Má chịu đựng nằm yên bên XÁC Bà suốt đêm trường như thế đó ư?


    Tiếng Má khổ sở:

                        -Gia đình ta phải VƯỢT sa mạc con à.


    Tom lại gần đặt tay lên vai Má. Nhưng Má hất đi:


                        -Đừng chạm vào Má,  Má sẽ lấy lại tinh thần nếu con không đụng vào Má. Hãy để Má yên như vậy.


    Pa giờ lên tiếng hối thúc:

                        -Chúng ta phải đi ngay bây giờ, phải đổ đèo gấp.

    

    Má nhìn lên người chồng:


                    -Có thể cho tôi ngồi trước được không? Tôi không thể về ngồi chỗ cũ được nữa, tôi có mệt mõi, quá suy nhược trong người rồi?


    Họ trèo trở lại trên đống đồ nhưng tránh một cuộn tròn dài đang bó lại bằng tấm vải trải giường. Họ về lại vị trí trên xe nhưng cố tránh không dám nhìn cái bó vải kia: nơi cái phần nhô lên đó có thể là cái mũi  hay cái phần nhô ra của cái cằm của Bà. Họ đều lãng mắt nhìn nơi khác, do họ không thể nào nhìn được. 

    Ruthie và Winfield, ôm lấy nhau đằng một góc xe tránh xa cái xác của Bà Nội chừng nào hay chừng đó, cứ nhìn chằm chặp vào cái bó vải kia. Tiếng Ruthie thì thào:


                    -Nội nằm kia, nội chết rồi!


    Winfield gật đầu một cách cứng rắn:

                        -Nội không còn thở nữa chút nào. Chắc chắn là nội chết thật rồi.

    Rose of Sharon thì thầm với Connie:

    

                    -Giờ Bà ra đi chính là lúc chúng ta đang làm …'chuyện ấy' đó.

    -Sao chúng ta biết chắc như thế được?


    Giọng anh chàng như an ủi vợ mình.


    Al bò lên đống đồ do nhường chỗ cho mẹ mình. Anh chàng đã bớt vênh váo đi do có phần nào ân hận.  Anh trườn tới cạnh thầy Casy và Bác John:


                    -Ồ, Bà quá già, đã đến lúc bà phải đi thôi. Mọi người ai cũng phải ra đi vậy cả.


    Thầy Casy và Bác John đều nhìn Al với ánh mắt vô cảm, một cách nhìn áng chừng như cậu ta đang nói chuyện một cách vô duyên trơ trẻn lạ đời.


    Vị Thầy hỏi gặn, mắt nhìn nơi khác:

                    -Ồ, phải vậy chăng?

    Vị thầy cặn vặn hỏi Al nhưng mắt hướng đi nơi khác khiến Al. cảm thấy trơ trẻn, bối rối.


    Thầy đạo thốt lên lời nói đầy thán phục:


                            -Suốt một đêm dài nhưng bà Má vẫn kiên gan chịu đựng một mình như vậy? Bác John ta chưa thấy một người đàn bà nào trên đời này lại có một trái tim can trường vĩ đại đến thế? Sự vĩ đại đó đã đe nạt ta, khiến cho ta phải sợ hãi hay ghen tị là đằng khác.


 Bác John  thắc mắc:


                    -Chuyện vừa qua có phải là tội lỗi không thầy? Có phần nào trong đó thầy có thể cho là một tội lỗi không thưa thầy? Tôi chưa bao giờ làm ra chuyện gì mà từ đó gọi là một phần tội lỗi cả.


    Nói vậy nhưng mắt bác lại hướng về cái bó đang quấn người bên trong.


    Phần Tom, Má và Pa ngồi ở băng ghế trước. Tom cho xe lăn bánh và bắt đầu vô số mạnh. Chiếc xe tải nặng nề ì ạch di chuyển xuống đèo; tiếng máy nghe lạch cạch và lộp bộp trên đoạn đổ dốc. Mặt trời bây giờ nằm hướng sau lưng họ. Một thung lũng  màu vàng và xanh lục dần dần hiện rõ trước tầm mắt. Má nhẹ lắc đầu bên này sang bên kia:


                    -Thật tuyệt đẹp, Má từng ước ao Ông và Bà  đều tới được đây và thấy được nơi này!


Pa cũng lên tiếng theo:

                    -Ta cũng thế.

Tom vừa lái vừa vỗ nhẹ tay lái:

                        -Tội cho Ông và Bà quá già yếu. Tuy nhiên ông Nội lúc còn trẻ đã từng thấy cảnh đẹp thảo nguyên tại các bộ lạc Injuns rồi còn Bà Nội thời xưa ngôi nhà đầu tiên bà từng ở một vùng như hôm nay. Chỉ mừng cho lớp trẻ như Ruthie và Winfield lần đầu tiên được thấy nơi này.


Pa tán thành cùng khen con trai:


                    -Hôm nay Tommy nói chuyện hay quá, giống y là một người đã trưởng thành. Chuyện còn hay chẳng khác gì thầy giảng đạo không bằng.


    Phần Má mĩm cười buồn bã:


                        -Tommy đã lớn rồi..lớn đến nỗi giờ Má không còn ôm hôm con được như xưa nữa.



    Chiếc xe lẹt đẹt đổ đèo, con đường dốc uốn quanh co qua lại khiến khung cảnh thung lũng thỉnh thoảng bị khuất trong tầm mắt mọi người, phải cố gắng nhìn mới bắt gặp lại. Mọi người bắt đầu cảm nhận hơi nóng mang theo mùi lá cây từ thung lũng bắt đầu hắt vào họ; xen vào đó còn có mùi cây sô và cây hắc ín. Dọc con đường mọi người còn nghe tiếng dế kêu. Một con rắn rung chuông bò ngang đường bị xe Tom cán ngang lưng để lại một đống vặn vẹo phía sau.


    Tom nói:

                                -Con nghĩ chúng ta phải tới gặp nhân viên thẩm tra để báo cáo với họ. Chúng ta phải an táng đàng hoàng cho bà Nội. Con bao nhiêu tiền hả Pa?

                                -Khoảng Bốn Mươi đô la con ạ.

    Tom cười:

                        -Lạy Jesus! chúng ta bắt đầu sạch túi rồi đây! Chắc chắn chúng ta tới đây là sạch sẽ không còn mang theo gì được cả.


    Nụ cười của Tom chỉ trong thoáng giây, xong mặt anh nhanh chóng nghiêm chỉnh trở lại. Kéo phần trước mũ thấp xuống để che bớt tầm mắt, anh tiếp tục cho xe lăn bánh đổ đèo đi vào vùng thung lũng vĩ đại dưới xa./.



 John Steinbeck 1939


(đề bài của người dịch)

dịch và edit by Đinh Hoa Lư 15/8/2025


TỪ THA LA XÓM ĐẠO TỚI HẠNH HOA THÔN QUẢNG TRỊ TRONG MỜ PHAI KỶ NIỆM

 


CHÀO BẠN ĐỌC,

    Tha La Xóm Đạo  ở Trảng Bàng Củ Chi Tỉnh Hậu Nghĩa nhưng lạ làm sao mỗi lần người viết nghe lại bản nhạc đó lại nhung nhớ, mường tượng về hình ảnh một xóm đạo ngày xưa nơi tôi sinh ra và khôn lớn. Người kể chuyện xin tạm nhắc một Hạnh Hoa Thôn trong Bóng Mờ Dĩ Vãng trong trí nhớ như hiện về cùng thanh âm xa vời từ hồi chuông họ đạo Trí Bưu -Hạnh Hoa những cái tên từng nghe quen trong quá khứ xa mờ... 


Đây “Tha La xóm đạo”
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh...



...

  Người viết xin kể lại thời còn thụ huấn quân trường cũng là lúc Hiệp Định Paris 1973 được ký kết. Thời gian này tất cả SVSQ tất cả các quân trường VNCH đều phải đi Công Tác Thông Tin Tuyên Truyền  nhằm giải thích cho dân về Hiệp Định. Vùng tác giả bài này ở gần xã Trảng Bàng, "Tha La Xóm Đạo""cái bài hát của Dzũng Chinh nghe thơ mộng, nhưng chẳng ai trong toán đi thông tin này dám mò qua. Thế là 'mù trớt' tôi gần mà chẳng biết "người em xóm đạo" là chi. Ngày đó có một danh từ gọi là "vùng 'xôi đậu" của Quận Củ Chi tỉnh Hậu Nghĩa. Đi ra đường là ánh mắt canh chừng, 'ngày mình- đêm họ', đây là sự thật. Sự dằng co càng nhiều khi hòa bình tạm thời đã ký. Nhưng lằn ranh có phân định rõ ràng đâu, thế là càng thêm rắc rối cho dân. Tôi làm gì được "tung tăng, thoải mái" đi chơi như mấy đứa bạn đồng môn Nguyễn Hoàng đã vào các khóa SVSQ và được đi "chiến dịch" ngoài trung. Nói cho cụ thể là vùng hoạt động tại các trại tạm cư chiến nạn là Trung Tâm Hòa Khánh 1973. Chúng tôi ở gần Trảng Bàng nơi có Tha La xóm Đạo trong thời gian đó là vùng không an ninh. Như thế gần mà xa, ngày ngày tôi bó gối trong căn nhà trống, công tác ít ỏi, chẳng dám đi xa và mất một dịp quý báu trong đời là tới thắm Tha La dù qua đó chỉ vài cây số...


============================== 



ngày xưa cứ mỗi lần về nhà ông Lê Diễn, người anh chú bác của bà ngoại, tôi còn là đứa nhỏ phải đi ngang nhà thờ Hạnh Hoa. Con đường đất trước nhà thờ nối dài từ cái giếng nước uống trong bài viết ngang nhà thờ và chạy nắp theo đám ruộng ngó. Con đường đó qua bên ruộng là con đường tỉnh lộ 555 từ góc Bầu về Ba Bến cùng biển Gia Đẳng 


Hướng về quê cũ, Thành Phố QT nơi có Hạnh Hoa Thôn cạnh thôn Đệ Tứ nơi tôi sinh ra cho đến lúc giã từ nó đúng mười chín tuổi. Một mùa hè đỏ lửa 1972 chắc suốt đời có lắm người QT chẳng có ai quên.


cái giếng nước uống có dấu ngôi sao màu đỏ (đây là sơ đồ Quảng Trị chứ ko phải bản đồ thật nguồn FB Đồng Môn Nguyễn Hoàng)

***
Vào Bài

     Thương về một thuở hồn quê 

Gần nhà thờ của Thôn Hạnh Hoa có cái giếng nước uống lâu đời mà ai sinh ra sống cận kề con đường Lê văn Duyệt hay thôn Đệ Tứ mới biết. Người viết sinh ra và lớn lên nơi đây và sống nhờ miếng nước uống của cái giếng nước quý hóa đó mới nhớ và kể lại cho bà con cố cựu nghe chơi.

                     hình minh họa lại cái giếng

    Từ Cửa Hậu hay cửa Lao xá nếu người xóm Hậu chúng tôi muốn tới giếng đó thì phải men theo con đường Lê v Duyệt đi về hướng góc Bầu. Gần tới nhà Ông Quản Lợ rẽ xuống con đường kiệt vào nhà Cô Hoàng, Bà Nhớ mẹ của Nguyễn Văn con đường thấp dần sẽ tới thôn Hạnh Hoa tức là gặp cái giếng. Từ cái giếng này đi theo con đường trong thôn một đoạn ngắn là tới Nhà Thờ Hạnh Hoa.  Nhà thờ Hạnh Hoa ngó ra là con đường tỉnh lộ từ Góc Bầu chạy về Ba Bến…Thâm Triều, Anh Kiệt, Tả Hữu Phương Lang về nữa là đến Biển Gia Đẳng


Chuyện người viết xin thưa là bà con Hạnh Hoa và Thôn (Phường) Đệ Tứ không phải không có giếng nào mà quý cái giếng nước Hạnh Hoa do mạch nước bao năm vẫn cung cấp duy nhất cho bà con gánh về mục đích duy nhất là UỐNG.


khạp đựng nước uống 


Đúng vậy gánh về tới nhà, hai thùng nước này chỉ đổ vô cái khạp đựng nước uống mà thôi. Chuyện nước rửa thì ai cũng có giếng gần rồi. Gánh về rửa ráy thậm chí ra quanh giếng tắm giặt gần đó không ai phiền hà chi.


Không những từ Cửa Hậu mà xóm trên xa hơn garage ông Trương Long ông thân người bạn Trương Sừng của người viết tức là xóm nhà ông Đội Lạp, ông thân các anh Ngô Tùng, Ngô Dũng và Ngô thị Sáu. Xóm này cũng là xóm gần ngõ kiệt của bạn Tống thị Huê nhà Đại tá BĐQ Tống viết Lạc và vô nhà chị Thu Ba và chị Tha. Người viết kể lân la như thế là muốn nhắc lại hình ảnh một người đó là anh Báu. Nhà anh Báu tuy xa nhưng hàng ngày anh vẫn siêng năng lên tận cái giếng Hạnh Hoa này để gánh nước uống về giúp mạ. Anh Báu tuy là thanh niên trai trẻ nhưng chẳng bao giờ 'ô ngai' khi đi gánh nước đường xa. Ôi người viết cứ nhớ mãi và chưa quên khuôn mặt anh Báu. Anh là một người trai trẻ hiền lành, chăm học. Mạ anh bán buôn gánh gồng cực nhọc, anh Báu hàng ngày giúp mẹ bằng cách đi gánh nước uống tận Hạnh Hoa thôn.  Người viết nhớ và thương làm sao dáng gánh nước của Anh sao thấy "dẻo queo"!  bước chạy nhịp nhàng, trông rất đẹp mắt. Cặp thùng sắt vuông loại chứa dầu hỏa trước kia, đựng nước đầy anh Báu không quên để vào trên mặt vài miếng lá chuối để nước khỏi tròng trành. Thật lạ, chỉ có mình anh Báu từ xóm nhà ông Đội Lạp dám về tận đây để gánh cho được thứ nước giếng này. Nói gì chăng nữa, Anh quả đúng là người con có hiếu, thương mẹ già tần tảo nuôi con.


Thôn, vùng tôi ở, thông thường cứ dầu mỗi con đường kiệt hay có cái giếng. Xóm vào nhà bạn Tống thị Huê, xóm anh Báu, xóm Cửa Hậu, xóm vào nhà  bạn Trần Tài chi đều có giếng. Nhưng chỉ là nước giếng giặt rửa, không có cái giếng nào có thứ nước uống quý như cái giếng Hạnh Hoa Thôn. Thời sau này bắt đầu có nước máy nhưng nước máy chỉ lanh quanh ở phố Quảng Trị chưa thể về đến con đường Lê văn Duyệt. Sau này nước máy về đến mút cuối con đường Trần Hưng Đạo tức đối diện với miếu Âm Hồn ngó chếch qua là xóm Heo, mới có cái giếng máy bà con trên đó ra lắc lắc lấy nước về dùng hàng ngày. Lũ tôi đi học trường Nam tiểu học, trên đường về cũng lắc lắc vài cái nhưng nước lên khó quá cũng bỏ qua không 'thèm' chơi nữa...

Dù không thiếu nước nhưng từ con kiệt vào nhà anh Báu cho đến góc Bầu bà con cố cựu thôn Đệ Tứ ai cũng nhớ thứ nước uống từ cái giếng Thôn Hạnh Hoa này. Mỗi  lần về Hạnh Hoa người viết thường đi trẹ cho mau tức là rẽ xuốn con kiệt cạnh nhà ông Quản Lợ. Kiệt này có nhà hai bạn Nguyễn Kiệt (cháu cô Hoàng) và Nguyễn Văn (anh cô cậu với Mỹ Tín, chị Thạnh vợ đại úy Nguyễn Bích em Đại tá Bé) đều ở con kiệt này. Ngoài đường là nhà họp của Thôn Đệ Tứ có nhà mệ Cửu Mình và nhà Bác Vọng  hay đi chiếc mobylette. Người mình có những luật lệ bất thành văn nhưng bà con tôn trọng một cách tự nguyện. Đi ngang cái giếng không ai canh giữ, chẳng ai coi chừng nhưng tuyệt nhiên chẳng có ai héo lánh tắm giặt làm mất vệ sinh. Thật quý hóa cho tinh thần tự giác và tôn trọng giềng mối xóm làng của bà con mình thời đó. Nhu cầu nước uống chỉ gánh về để cất dùng không ai tham lam giành giựt làm chi. Thế nên đi ngang cái giếng, tôi luôn thấy quanh cảnh yên lặng, vắng vẻ. Tại sao mà giếng uống này lại vắng vẻ? Dĩ nhiên tôi phải hiểu ra bà con trong hai thôn Đệ tứ và Hạnh Hoa chỉ gánh về để uống mà thôi.


              Đám tang một người lính VNCH trước 1972 tại nhà thờ Hạnh Hoa 

    Có đôi lúc tôi mệ (bà) ngoại tôi sai đi về nhà ông Lê Diễn (có con trai là cậu Lê Thành mất trong vụ 1.11.1963),  người anh chú bác với mệ ngoại tôi. Mệ ngoại tôi họ Lê (Lê thị Xấu ) người gốc Cổ Thành. Thật ra Thôn hay Làng Cổ Thành rộng hơn so với Hạnh Hoa. Bản đồ vẽ lại ở đầu bài cho chúng ta thấy rõ. Có thể Hạnh Hoa là thôn mới lập, mới đặt tên sau này  chăng. Lúc mới sinh ra đời, sau này tôi chỉ nghe làng Trí Bưu làng Cổ Thành thôi, hay do tôi không để ý. Hạnh Hoa Thôn do mới nên nhà thờ Hạnh Hoa kiến trúc rất mới so với nét thâm u cổ kính của nhà thờ Trí Bưu. Hạnh Hoa qua Trí Bưu không xa nhưng phải vào bên kia con đường tỉnh lộ 555 và vào nhiều lớp hàng tre kín mít nên tôi thời đó quá nhỏ nên làm biếng đi chơi vô cùng. Đi ngang nhà thờ Hạnh Hoa tôi chỉ đứng ngoài nhìn. Thú thật vào thời đó, con người ngoại đạo đó là 'rào chắn' ngăn trở cho tôi vào thăm nhà thờ. Không ai cấm đoán tôi cả, tôi biết thế. Một nhà thờ an bình trong tầm tay, với những kiến trúc giản dị bình thường không cầu kỳ hay hoa mỹ tây phương, sao tôi không vào chơi cho biết để giờ đây hối tiếc. Sự hối tiếc muộn màng cho đến cuối năm 1973 về đơn vị tại Ba Bến chiếc GMC tiểu khu từ Diên Sanh ra ngang qua họ đạo, thôn xóm đìu hiu hoang tàn đổ nát. Ngọn gió mùa giáng sinh 1973 về trong hoang lạnh buồn tênh của một nơi thiếu bóng dân về...


    Biết cái giếng nước uống Hạnh Hoa nhớ nó và nguồn nước mát ngọt quý hóa kia từng luân lưu trong bao người dân trong thôn xóm trong đó có tôi. Ngày đó tôi còn nhỏ tuổi, thật tình tuy thương mẹ nhưng chẳng hề có sức mạnh để về tận Hạnh Hoa Thôn gánh nước như chú Báu trên xóm ông Đội Lạp (có các anh Tùng, Dũng và Sáu). Bao năm rồi thế mà người viết chẳng hề quên hình ảnh chú Báu, người con trai hiếu thảo, hàng ngày gánh nước uống giúp mạ cùng cái giếng nước uống Hạnh Hoa thôn.  Những cảm xúc chân thành của tôi để viết về cảnh cũ người xưa hầu mua vui cùng bạn đọc hôm nay, nhất là những ai từng có một thời sống ở Hạnh Hoa Thôn.





    Khoảng thập niên 1960 nếu ai mê sách nhất là truyện võ hiệp kỳ tình dã sử VN chắc còn nhớ những bộ truyện Người Đẹp Thành Phiên Ngung,  Lửa cháy Thành Tây Đô và trong ký ức người viết có một cuốn mang tên là  Hạnh Hoa Thôn Phục Hận của nhà văn Sơn Linh. Một sự ngẫu nhiên và chắc chắn là ngẫu nhiên do tác giả chẳng có hàm ý gì về một "Hạnh Hoa Thôn" của Quảng Trị cả. 


    Hơn nửa thế kỷ qua đi, cái tên Hạnh Hoa Thôn đã nằm yên trong ký ức của nhiều trái tim hoài cổ. Người thành phố Quảng Trị năm nào, nhớ về thôn xưa làng cũ rồi thương cho một xóm đạo hiền hòa, cùng mái nhà thờ thân yêu lấp ló bên lũy tre làng.

     Khói lửa chiến tranh lướt qua một Tha La xóm Đạo nhưng rồi Xóm Đạo Tha La vẫn được hồi sinh sau cơn binh lửa. Chỉ còn Hạnh Hoa Thôn nay không còn nữa? Một xóm đạo hiền hòa đã đi vào lịch sử của lãng quên. 

    Hôm nay, nếu có ai về qua thôn cũ, có ngọn gió chiều nào phất phơ qua lũy tre làng, nếu có ai hỏi ba tiếng Hạnh Hoa Thôn chắc chỉ nhận được một tiếng thở dài ảo não đó thôi./.


edition by 

ĐHL  15/8/2025


Thursday, August 14, 2025

TẬP "CÀ NHẮC" XE ĐẠP - MỘT THỜI TUỔI THƠ

 



TẬP LÉN XE ĐẠP- NIỀM VUI TUỔI THƠ

Ngày xưa đó mỗi dịp có vị khách nào tới thăm nhà Ngoại đó là dịp cho thằng bé như tôi tập xe đạp.
Ôi sướng quá và mừng quá khi Bác hay Chú nào đó vừa dựa chiếc xe đạp bên thành cái am đi vào thăm ngoại đó là một dịp "thần tiên" cho tui có dịp tập nhắp chiếc xe đạp quanh cái vườn bông trước sân nhà.

    Chắc bạn đọc nào đồng cảm mới hiểu được niềm vui hay nỗi sung sướng một ngày còn bé khi "đạp được xe", nó chẳng khác chi là một thành công to tát?

    Xin bạn đọc chớ cười hay cho người viết "cường điệu" mà thật sự ngày đó nó "sướng" thật tình. Người viết thấy khó để diễn tả cho hết một sự vui sướng tuy rằng nhìn lại giờ đây ai cũng cho rằng quả là quá đơn sơ và chân chất. Quả đúng, do đó là một thời tuổi nhỏ cùng một thời vật chất chưa phát triển dồi dào.


    Nếu khách đi xe đạp đầm thi là điều quá may do ta cứ ngồi và giữa mà "nhắp nhắp" chiếc xe đạp chạy quanh cái vườn trước. Mà xe đầm là gì? và đạp "nhắp" là chi?

    Chữ đầm có thể do chữ "dame" là đàn bà phái nữ mà ra.

Đạp "nhắp" là gì? phải giải thích chứ?
Đạp "nhắp" là chỉ "nhịp nhịp" cái pedal cho cái dây sên (chain) tới một chút thôi, do chưa đi được hoàn toàn, khác với người lớn chân dài đi vững đạp luôn một vòng.
Thế thì sao gọi là xe đạp giàng?
Theo google thì cho là "có thể do đọc trại từ hãng xe GIANT mà ra?"
Nhưng nói thế không đúng, do hãng xe GIANT Đài Loan mới thành lập sau này đó là 1972 thôi?
Còn trước đây vào thập niên 1960 chính chúng ta kể cả người viết đã quen gọi xe giàng / xe đầm rồi?
Có thể chữ "giàng" là do bộ giàn tức là khung chắc chắn mà ra. Nhìn chiếc xe đạp giàng ai cũng thấy chắc chắn và chỉ dành cho đàn ông đi thôi.


                tập xe đạp đầm (dame) thì dễ hơn xe giàng nhiều

tập xe đạp giàng thì khó quá nhất là cho bé gái



    Khó và khổ cho thằng bé nếu có vị khách nào dưới làng lên chỉ đi chiếc xe đạp giàng?
Dưới làng, bà con hay đi xe giàng do nó cứng cáp chở đồ, chịu đựng lâu dài. Khác với thành phố người thanh thị đi xe đạp đầm, thanh lịch hơn. Dĩ nhiên chỉ có đàn ông đi xe giàng ít ai thấy đàn bà đi xe giàng cả?

xe đạp đầm có thể do chữ dame nên giành cho phái nữ như sau này người ta gọi xe honda dame vậy
                một honda dame thời 1960-1970


Tập chiếc xe giàng thì thò một chân qua bên đạp 'cà nhắc' nghiêng hay oẹo người là xong. Cái thế này xưa kia quê mình gọi là tập đi kiểu "cẳng chó".



Lại thắc mắc, sao gọi là tập đi "cẳng chó"? theo người viết, có thể do hình ảnh giống con chó đứng nhếch một chân lên cao mỗi khi nó muốn đi 'tè' cũng nên? Quý bạn xem hình trên xem có giống hình ảnh tập xe giàng chăng?



Tập xe giàng, thật ra cừ khôi hay nói cho đúng hơn là giỏi hơn tập xe đạp đầm.

Ôi nhớ đạp oẹo người như thế nhưng phải đi ra cái đường kiệt trước nhà ngoại con đường mới thẳng. Cái thế tập đạp xe giàng đi quanh vườn hoa khó và dễ té hư cây.

Dần hồi chi, tập xe đạp hai loại đã xong và biết đi xe đạp là cái thời học lớp nhì lớp nhất.
Sự sung sướng càng cao khi buổi nói chuyện của vị khách càng lâu cho ta tập đạp xe...
Cho đến khi đạp xe vững vàng thì thành phố vẫn nhiều xe đạp. Một thời honda chưa có ngoài trừ mobillete của các chú, velo solex của các cô hay lambretta, vespa của các phú gia...


Tuổi thiếu niên, lúc người viết đạp xe đạp vững vàng là lúc chiếc xe và tôi từng giúp ích được mẹ mình khá nhiều. Nhớ sao cái quán bán hàng tạp hóa trước ngõ kiệt thân yêu ngày trước. Quán mẹ tôi luôn đầy đủ các mặt hàng đó là do hàng ngày người viết đạp chiếc xe giàng lên mua hàng tận phố Quảng Trị mang về....

Giờ đây quá khứ đã qua rồi. Quê hương đổi mới. Xe đạp là mốt thể thao, thời thượng. Nếu là phương tiện cho các em đi học thì muôn hình vạn trạng đủ loại đủ kiểu tha hồ lựa chọn...

xe đua VN hiện nay

thời nay học sinh tha hồ các loại xe đạp


    Thế nhưng đố ai còn cảm nhận được đầy đủ một cách hoàn toàn niềm vui của những phút giây tập ...cà nhắc cà nhắc xe đạp một thời con nít ngày xưa?

Giới trẻ hiện nay, cảm nhận hay chúng ta lớp phụ huynh muốn diễn tả lại cho đúng được niềm vui từ những hình ảnh bình dị đơn sơ ngày xưa đó há dễ có mấy ai?


Đinh hoa Lư


ĐOẠN TRƯỜNG DI DÂN (phần chót)




NHỚ NGƯỜI VỪA KHUẤT BÓNG


    Hai gia đình ngồi trên mặt đất, cùng ăn món khoai nấu với thịt heo. Tất cả im lặng, mắt chăm chú nhìn vào đống lửa. Ông Wilson, dùng răng xé miếng thịt heo, ông vừa thở vừa khen:


                    -Món heo này ngon thật!

     Pa giải thích:

                        -Ồ, nhà tôi có cặp heo con. Chúng tôi nghĩ phải ăn chúng vì không thể nào nuôi thêm được nữa. Thời gian chúng tôi ra đi trên đường, Má bầy nhỏ phải lo bánh mì. Đó là lý do. Trên đường có hai thùng thịt heo đem theo trong xe tốt quá đi. Thế còn các bạn ra đi bao lâu rồi?

    Ông Wilson đưa lưỡi làm sạch lại hàm răng, xong và nuốt:

                        -Chúng tôi không may, chúng tôi rời nhà đã ba tuần nay rồi. 

                -Sao vậy? Lạy Chúa Toàn Năng, chúng ta trù liệu tới Cali nội trong mười ngày hay ít hơn mà?

    Al chen vào:

                    -Con không chắc đâu Pa. Chở nặng như nhà mình thì chúng ta không thể nào tới đó được đâu. Và nếu còn vượt núi thì khó lòng đi nổi. 

    Họ im lặng gần ngọn lửa. Tất cả ngó xuống, ánh lửa soi rõ tóc cùng vầng trán họ. Xa xa ngoài ánh lửa, vài ánh sao của một đêm hè bắt đầu lấp lánh rời rạc, sức nóng của ban ngày nguội dần. Bà nội còn nằm trên nệm, quay lưng với ánh lửa, miệng rên nho nhỏ như con chó con. Mọi người đều quay đầu về phía bà.

    Má lên tiếng nhờ con gái:

                    -Rohsharn con là con gái giỏi nhất , gắng giúp má nằm cạnh bà đi con. Bà giờ cần có người vì bà đã biết lại rồi.

    Rose Sharon đứng dậy tiến lại chiếc nệm đoạn nằm cạnh bà cụ. Hai bà cháu nằm nói nho nhỏ với nhau trên tấm nệm, âm thanh như trôi dạt lan dần đến gần bếp lửa.

Noah thố lộ:

                    -Nghĩ cũng ngộ làm sao? mất ông nội mà mình không thấy khác gì hết. Mình cũng chẳng buồn hơn trước.

Thầy Casy giải thích:

                    -Chính là do cái cảnh đều cùng y nhau. Ông nội và chỗ ở trước của ông đều giống y nhau.




    Al nhắc:

                    -Có lúc nghe nội nói chúng ta cũng hổ thẹn vô cùng... nội mơ có một  ngày nội sẽ tự tay bóp nho chảy nước ròng ròng xuống râu, và nhiều điều mơ ước có đời sống nay mai sung túc như thế ...

THẦY CASY 

    Thầy Casy ra vẻ thông hiểu:

                        -Ông cụ phải luôn tự đánh lừa mình. Ta nghĩ là ông biết chuyện đó. Và ta nghĩ rằng Ông cụ không phải đêm nay mới chết, ông chết từ cái phút ông bị bứt rời nơi ở của ông kìa.

                    -Thầy chắc vậy không? Pa hỏi giọng đau khổ.

                    -Tại sao? không thế đâu. Ông nội vẫn thở mà. 

    Thầy Casy giọng trầm đều:

                            -Tuy vậy, nhưng ông cụ đã chết. Linh hồn ông là quê hương, chính trong lòng ông cụ cũng biết thế.

    Bác John giờ mới chen vào:

                        -Thế thì thầy làm sao biết ba tôi đang chết?
                    -Vâng, ta biết và hiểu điều đó.

    Bác John nhìn đăm đăm vào thầy, mặt ông thoáng nét lo sợ... 
                -và thầy chẳng nói với ai cả sao thầy ?
                    -Làm thế có tốt gì chăng ? người thầy Casy hỏi gặn lại.

                        -Nếu thầy nói --có thể chúng tôi đây sẽ làm điều gì rồi...
                    -Điều gì ?
                    -tôi không rõ, nhưng ...
                    -Không có đâu. Các người không làm được gì đâu! Hướng đi của các người đã quyết và ông nội chẳng có dự phần quyết định được. Ông không còn đau khổ nữa ngay sau tai biến sáng này. Đúng ra ông cụ phải ở lại quê huơng, ông cụ không thể nào rời quê huơng được.

 Bác John thở dài thườn thượt.

Ông Wilson chợt nhớ ra gì đó, chen vào:

                -Chúng tôi cũng đành bỏ anh Will mà ra đi như vậy đây.

    Nhiều khuôn mặt đồng loạt quay về hướng ông Wilson.

                    -Ông anh và tôi đều mua loại đời 1940. Chưa ai biết lái xe lần nào. Tuy thế khi bán hết mọi thứ. Đều đầu tiên là anh Will vào mua ngay chiếc xe. Thế mà họ đưa thằng nhỏ ra tập cho cách chạy. Chỉ ngay trưa trước khi nhà chúng tôi ra đi thì anh ấy gặp nạn rồi Mới lái qua khúc quanh anh tôi la oai oái , xe lũi vào hàng rào. Anh tôi lại la oai oái chân đạp vào chân ga thế là xe xuống hố. Ông anh không còn gì để bán và chẳng còn xe để chạy. Lạy Chúa, thật tình chẳng phải cái tội của anh tôi. Anh nổi tam bành lên và bỏ cuộc chẳng cần đi với chúng tôi nữa, cứ bám lại đó để chửi đời thôi.

                -Anh ông có định làm gì không?

                -Tôi chẳng biết. Anh ta chắc điên thêm. Vợ chồng tôi thì hơi sức đâu mà đợi. Chúng tôi chỉ vỏn vẹn tám muơi lăm đô la làm vốn lên đường. Chúng tôi không thể chia sẻ cho ai, ngoài cái chuyện phải ăn. Thế rồi chưa đủ một trăm dặm thì phần răng sau bị gãy, chúng tôi phải sửa hết ba muơi đô la. Thay xong một cái lốp xe thì bu gi bị hỏng , rồi đến Sairy vợ tôi bị bệnh. Mười ngày rồi lại dừng ngay đây. Giờ chiếc xe chết tiệt này lại  nằm vạ ở đây nữa, quý bạn thấy đó chúng tôi đã cạn tiền. Tôi chẳng biết còn tới được California không nữa? Tôi ước gì sửa được xe , nhưng tôi đâu có rành về xe đâu?

    Al xem chừng quan tâm:

                        -Xe ông hư ra làm sao?
                        -Ôi! nó không chịu chạy. Chạy rồi ngưng , rồi lại ngưng cứ từng phút. Anh xem, nó chạy một chút rồi cái máy lại lịm dần rồi ngừng luôn.
                        -Cứ chạy được từng phút thôi ư?
                        -Vâng đúng vậy cháu ạ. Tôi bơm bao nhiêu xăng nó vẫn ì ra đấy. Càng lúc càng tệ. Giờ tôi không thể cho nó nhúc nhích thêm chút nào nữa.

    Al xem chừng hãnh diện với câu nói đỉnh đạc của mình:

                    -Cháu cho là xe ông bị nghẹt ống xăng, tôi có thể giúp thông nó giúp ông.

 Tiếng Pa  hãnh diện
:

                        -Con trai tôi khéo tay về xe lắm đó.
                        -Ô thế thì còn gì bằng , tôi thật đội ơn các bạn. Tôi như đứa con nít chẳng biết làm gì ráo. Tới California chắc nhà tôi phải mua chiếc xe tốt. Lúc này chắc chẳng còn hư lên hư xuống nữa.

Pa có vẻ không tin:

                    -Liệu chúng ta tới đó, có an bề hay có nỗi rắc rối khác?
                    -Ôi, nhưng chiếc xe này đáng vứt như vậy thôi.
Wilson giọng nghe giả lả.



                    -Tại sao tôi đây tin thế? vì những tờ rao việc các người thấy đó, họ cần người hái cam lương hướng lại ngon lành nữa. Tại sao tôi tin? xem hình ảnh người đứng dưới bóng cây họ đang hái, thỉnh thoảng lại cắn một miếng ăn chơi khi họ thích. Tại sao tôi tin? vì họ chẳng quan tâm bạn ăn bao nhiêu vì họ có quá nhiều . Và đồng lương thoải mái một người có thể tậu thêm miếng đất để kiếm thêm lợi tức. Tại sao? quái gì đâu, một người nội tong hai năm ,tôi đoan chắc họ có thể mua nơi ăn chốn ở cho chính họ.

    Pa, tiếng phấn chấn:

                    -Chúng tôi trông vào quảng cáo, có một tờ đây nữa.

Nói xong ông rút bóp, lấy ra một mẫu tìm người màu vàng đã gấp làm hai. Có dòng chữ in đen:

-CẦN NHÂN CÔNG HÁI ĐẬU TẠI CALI , LUƠNG CAO LÀM MỌI MÙA - SỐ LUỌNG NHÂN CÔNG CẦN 800

Wilson tò mò nhìn:

                    -Tại sao thế này? giống y như tôi đã thấy trước đây, y chang. Ông bạn có tin rằng họ đủ 800 nhân công từ lâu rồi chăng?

Pa giải thích:

                -Đây là một nơi nhỏ hẹp, một phần bé tí teo đối với Cali. Tại sao chúng ta nghĩ vậy, vì đây là tiểu bang lớn thứ hai mà chúng ta sẽ tới. Dù cho họ có đủ người, thì chán khối gì nơi khác. Có gì tôi cũng có việc hái trái ở đó thôi. Giống như ông bạn diễn tả vừa rồi, cú đứng dưới cây mà hái thì ngay cả con nít cũng kiếm ra việc mà.

Chợt Al đứng dậy tiến tới xe của ông bà Wilson. Anh nhìn thoáng vào xe một lát đoạn trở về lại, ngồi xuống.

                        -Cháu không thể sửa nó trong đêm nay hả? 
Wilson hỏi vẻ lo lắng.
                        -Cháu biết thế ông à. Sáng mai cháu sẽ sửa ngay thôi.

        Tom chăm chú nhìn đứa em trai:
                    -Anh có nghĩ ra một cách giải quyết , theo ý anh...

    Noah chen vào:
                            -Hai em nói chuyện gì thế ?
Cả hai im lặng, chờ  nhau câu trả lời người anh. Cuối cùng Al hối Tom:
                -Anh trả lời giúp đi.
                -Ồ, không biết ý kiến này có giống ý của Al không? Anh nghĩ xem chiếc xe này đây . Trong lúc xe chúng ta chở quá nặng thì xe hai ông bà Wilson nhẹ hều. Nếu ai trong chúng ta nhảy qua làm tài xế cho hai ông bà cùng cầm theo ít đồ  nhẹ bớt cho xe chúng ta đi thì xe chúng ta vừa khỏi gãy díp nhún vùa leo được đèo. Al và em đều sửa được xe, và hai chiếc xe đều chạy được cùng nhau. Chúng ta vừa chạy vừa giúp nhau dọc đường, anh nghĩ ý kiến này có hay không?

 Nhà Wilson nghe vậy reo lên:

                        -Sao? Sao? cách đó à ? chúng tôi hân hạnh biết chừng nào. Em nghe không Sairy?
                    -Thật là ý nghĩ tuyệt vời!
 Sairy thán phục.
                    -Nhưng có làm phiền các bạn lắm không? bà chợt e ngại.

    Pa nghe vậy trấn an:

                    -Ồ, không đâu, Lạy Chúa ! hai bạn chẳng phiền hà gì cho chúng tôi đâu Chính hai ông bà từng giúp đỡ chúng tôi mà. 

    Chợt Wilson lo ngại:

                        -Tôi e rằng... 
                        -Sao, ông bạn không muốn à ?
                        -Ông thấy đó, vợ chồng tôi chỉ còn ba mươi đô la, tôi không muốn làm gánh nặng cho quý bạn chút nào.

    Má giờ bắt đầu góp ý kiến:

                    -Hai ông bà chớ quá lo, không là gánh nặng cho nhà tôi đâu. Chúng ta giúp nhau lúc hoạn nạn để cùng nhau tới cho được California mà. Sairy còn biết cách giúp đỡ bà chúng tôi khỏi phải nằm liệt như thế nữa kìa. 

    Má ngưng nói để lại một mối tình thân ái tràn ngập lên mọi người.

    Al reo lên:
                    -Xe đó chở 6 người dễ thôi. Hãy để con lái. Rosharn và Connie, Bà,  theo con mang theo đồ thật nhẹ nghe.  Và cứ thế hai xe cứ trao đổi đều với nhau. 

    Giọng Al nghe khá lớn, bao lo lắng như trút hết bao nhiêu lo nghĩ.

    Cả đám người cùng ngó xuống đất mĩm cười ý vị. Pa lấy đầu ngón tay vẽ lên trên nền đất vừa nói:

                    -Má các con mơ một căn nhà sơn trắng , quanh trồng đầy cam y  như trong bức tranh tấm lịch vậy.

                    -Nếu tôi đau lại, các bạn cứ tiếp tục đi. Vợ chồng tôi không muốn cản trở quý bạn đâu. 

    Sairy chợt nói như tiên liệu điều gì bất trắc.

    Má chợt nhìn kỹ Sairy, đây là lần đầu bà khám phá ra cặp mắt từng chịu đựng cơn bệnh hành hạ; một khuôn mặt nhăn tụm trong nỗi ám ảnh do đau.

                -Chúng tôi sẽ chăm sóc bạn. Đó là tự bạn nói mà thôi, có ai mà chẳng giúp nhau khi cần nhau bao giờ đâu.

 Sairy lặng nhìn bàn tay nhăn nheo của mình soi bên ánh lửa:

                    -Thôi đêm nay chúng mình cần phải ngủ một ít đi. 

Nói xong, bà đứng dậy.

                    -Ông Nội y như đã mất một năm rồi ...Má lẩm bẩm .

    Hai gia đình vừa ngáp dài vừa uể oải đi tìm nơi ngủ. Má còn pha một ít xà phòng chùi lại mấy cái dĩa thiếc.


     Bếp lửa dần dà lịm tắt, sao trời thấp dần. Vẫn còn vài chiếc xe chạy vụt qua vào khuya. Chen vào đó, có vài chiếc xe tải hạng nặng chạy qua, tiếng rầm rập y như động đất. Trong ánh sao lờ mờ, khó nhìn ra hai chiếc xe của họ nằm im lìm dưới con muơng. Có tiếng con chó giữ nhà nào tru lên ở trạm xăng nào đó tận cuối đường. Hai gia đình im lìm ngủ. Mấy con chuột đồng táo bạo mon men tới gần giữa mấy tấm nệm. 

Chỉ còn Bà Wilson đang thức. Bà vừa nhìn chằm chặp lên bầu trời tối thẩm vừa gồng mình chống lại cơn đau ập đến./.

John E. Steinbeck

Dịch và edit by ĐHL

14/8/2025



HẾT 

BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT- THẢM NẠN MỌI MẶT MÀ TRUMP GIEO CHO NƯỚC MỸ KHÓ BỀ HÀN GẮN

thưa bạn đọc Trước bầu cử 2024 có nhiều nhà phân tích chính trị đã cảnh báo cho nước Mỹ về những biến loạn cho Mỹ và cả thế giới nếu Tru...