Monday, August 18, 2025

NGÀY TÔI NHẬP NGŨ (tái đăng)


 


Nhạc Sĩ Song Ngọc (1943-2018)

Ngày tôi nhập ngũ giã từ tuổi học trò

 có người em gái nhỏ đưa tôi rời xa thành phố

Tôi ra đi vì yêu thương lên tiếng gọi

Nghìn ưu tư xin gửi lại cho người nhớ người thương 


Kỷ Niệm Ngày Nhập Ngũ -Nhạc Sĩ Song Ngọc)


***


      Cuối tháng 11 năm 1973, tôi mãn khóa 12/72B -SQTB tại Đống Đế Nha Trang. Lúc lên chọn đơn vị, không hiểu sao tôi lại chọn ngay Quảng Trị, trong lúc toàn bộ gia đình tôi đã tản cư vào tận Mỹ Tho từ hè 1972.  Giờ tôi nghĩ lại cũng là cái số, cũng có thể do lòng thuơng nhớ quê hương do đó người viết nóng lòng muốn trở lui phục vụ lại quê nhà dù quê cũ chỉ còn là đống gạch vụn.


 Phép mãn khóa 2 tuần gần hết, tôi phải giã từ gia đình, rời Mỹ Tho  lên đường xuôi trung ra đơn vị tức vào mùa Giáng Sinh 1973. Trước khi ra Diên Sanh, tôi không quên ghé Đà Nẵng thăm bà con đang còn tạm cư tại đó. Thời gian nhằm lúc Đà Nẵng đón Giáng sinh 1973. Quê hương mùa chinh chiến, có không khí nào để chiêm nghiệm được hình ảnh của Giáng Sinh ngoại trừ sự ảm đạm chia tay đó là lúc người chạy giặc Quảng Trị thêm một lần chia tay chuẩn bị đi theo CHƯƠNG TRÌNH KHẨN HOANG LẬP ẤP. 


TIỂU KHU QUẢNG TRỊ ĐÓNG TẠI DIÊN SANH 1974 (cái lầu là Trường Nguyễn Hoàng )


    Bao nhiêu là lưu luyến rộn ràng, chuyện xe cộ , chuyện đồ đạc và sau hết là chuyện đau lòng cho những tấm lòng người QT một số lớn phải "rứt ruột " ra đi lần nữa do CHẲNG CÒN ĐẤT SỐNG. 


Đời trai là đấy núi rừng lỡ hẹn rồi

Biết mình thương rất nhiều nhưng quê mẹ đang lửa cháy

Đêm đêm nghe ngoài xa kia vang súng trận

Thành đô hôm qua bỗng lạnh, hỏi lòng mình nghĩ gì đây...(nhạc)

    Bình Tuy ( 1975 làThuận Hải) : MỘT THỜI KHAI HOANG LẬP ẤP
từ trường phổ thông cơ sở 1 xã Sơn Mỹ -Hàm tân- ngó lên xa xa là ngọn Mây Tào - Long Khánh  (7/1995)

  Gần hai năm tạm cư tại Đà Nẵng, không có của đâu để người ta nuôi mãi? thế là phải đi, phải chia tay , một nửa vào Bình tuy theo chương trình Khẩn Hoang Lập ấp, một nửa hồi cư về lại quê hương. Người đi kẻ về , tất cả đều sắp sửa đương đầu với một tương lai bấp bênh phía trước ,trong khi chiến sự chưa yên, chưa có hòa bình thực sự. 

   Nấn ná ở Đà nẵng chơi vài ngày. Tôi qua Hòa Khánh thăm NGuyễn văn Bốn , hắn ra trường trước tôi chọn "rằn ri " tức là Biệt động Quân làm binh chủng giờ hắn liên đoàn 15 vùng Tây nam Huế. Hòa Khánh chắc người di cư QT khó quên ; những quán cà phê thấp lè tè một bên con đường của căn cứ nhà binh cũ, cái chợ lợp lá cũng tạm bợ 'lỏng chỏng' ba cái sạp tre. Con người ăn ở chen chúc nhau trong mấy cái nhà tiền chế của trại lính bỏ lại cho dân lánh nạn. Người QT không biết đi đâu,về đâu ? những tâm hồn lững lơ, những lứa thanh niên không biết đâu là tương lai sự nghiệp? Lứa của chúng tôi thì đã chọn rồi , đó là NGHIỆP LÍNH con đường phải đi cùng với quê huơng ngập tràn khói lửa. Tôi lại qua Non Nước , phi trường này cũng bỏ phế và cũng là chổ tạm dung thân cho người QT nhưng có liên hệ đến công chức và quân đội. Những đợt kiểm tra người , những lần hành quân kiểm soát , sự chạy đôn chạy đáo của những gia đình khai thêm hồ sơ để kiếm thơm mớ gạo , vài ổ bánh mỳ phát phụ ban chiều thấy cũng thảm hại làm sao. Ôi một quê huơng ngoài kia , bao sự nghiệp nát tan theo Mùa Hè Đỏ Lửa để vào đây 'kiếm năm ba ổ bánh mỳ  hay'đổi' lấy tương lai? Một sự đổi chác chắc hẳn rằng không ai muốn mà phải chấp nhận nghe sao quá đắng cay?

    Nghĩ lại phận mình, tôi chua chát nhận ra các bạn và tôi sự nghiệp học hành giữa đường 'đứt gánh'  không ai muốn mà phải khoác vào? Ngày về lại Quê Huơng, chỉ sau hơn một năm trời nay đầu tóc húi cao, áo quần trận màu xanh ô liu cộng thêm màu da sạm nắng do sau mấy tháng quân trường. Tự mình 'thấy lạ cho mình'trong niềm vui tái ngộ với bà con cô bác. Dù sao tất cả đều may mắn hơn bao bà con đã bỏ xác lại bên ĐOẠN CẦU DÀI, những cái chết oan khiên, giờ hồn oan vất vưởng nơi đâu?

hình ảnh cắt lại từ phim miền bắc - Khu Thị Tứ sau khi di tản 3/1975


   Nấn ná Hòa Khánh, Non Nước...đến khi tôi ra trình diện Tiểu Khu QT tại Diên Sanh thì tôi thật sự đã trễ phép gần cả tuần. Nhưng nhờ thế , tôi có dịp thăm lại Diên Sanh nơi Khu Thị Tứ QT xây dựngt trên cồn cát Diên sanh đối diện với Tiểu Khu. Tiếng là Khu Thị Tứ , nhưng là một vùng đất khô khan nghèo nàn. Những dãy nhà tôn sát cạnh nhau, không có lối sống như xưa nữa. Người dân ăn theo đồng lương lính, ngoài ra chẳng còn gì. Hết trợ cấp 6 tháng , ba bữa ăn tiết giảm còn lại 2 cũng còn chật vật.
Hồi Cư tiếng là vậy nhưng hết 6 tháng trợ cấp , chuyện mưu sinh trên một vùng đất trắng đang trở thành một "thảm nạn " cho bà con trước đây là dân thành phố  lại một sự "đổi đời " đắng cay cho những ai về trước?

 
QUA CỔNG TRƯỜNG XƯA 

HÌNH ẢNH TIỂU KHU QUẢNG TRỊ CẮT LẠI TỪ PHIM MIỀN BẮC KHI ĐÃ DI TẢN 3/1975


    
Tôi theo chiếc xe GMC tiếp tế ra trình diện tiểu đoàn cũng như sẽ về đại đội đang đóng quân ở cầu Ba Bến. Chiếc GMC ra đến xa lộ Đại Hàn thì quẹo phải hướng về thành phố Quảng trị. Khó diễn tả nỗi xúc động trong lòng tôi lúc đó, nó cứ dâng mãi không thôi. Mới hơn một năm giã từ QT trong cơn loạn lạc của chiến chinh, giờ thì tôi trở về trong quê hương với màu áo lính. Màu áo trắng vĩnh viễn không còn nữa nó đã bay xa và cuốn theo bao nhiêu mộng ước của tuổi học trò. Thực tại hôm nay chỉ là cảm giác nôn nao bỡ ngỡ của một anh lính trẻ ngày đầu về đơn vị mới. 

Chiếc xe đơn vị ì-ạch qua dấu vết cũ của ‘bót’ Long hưng, lắc lư chạy theo con đường Lê Huấn hoang phế hướng về Cổ Thành, rồi nó quẹo phải…Nguyễn Hoàng đây chăng? Trường cũ của tôi trước mắt chỉ là một đống gạch đá đổ nát hoang tàn. Tôi thật bàng hoàng vì cảnh tan nát của mái trường thân yêu vượt xa sức tưởng tượng của tôi. Ôi chiến tranh chỉ là tàn phá và hận thù. Tôi cố tìm lại vị trí của cái cổng trường nhưng giờ đây chỉ còn lại mấy lõi sắt cong queo. Chiến tranh đã xô đẩy biết bao nhiêu đứa học sinh Nguyễn Hoàng trôi dạt khắp mọi nẽo đường đất nước. Tôi trở về, bơ vơ bên ngôi trường thân yêu đã chết, cạnh một thành phố tan nát, đìu hiu lau lách . Tất cả đứng chịu tang trong cơn lạnh mùa đông nơi miền Giới Tuyến Địa Đầu.  

Ôi chiến tranh, chiến tranh hiện diện Trên quê hương tôi, hai mươi năm trường rồi Còn đâu biết tìm lại đâu, những dựng xây đổ nát...(nhạc)

  Quá khứ  qua mau như gió thoảng, 1972-1973 - chỉ một năm mà 'vật đổi sao dời' như  huyền thoại ?  Xưa, bà Huyện Thanh Quan thuơng cho cảnh đổi thay của thời bà mà khóc cho "lối xưa xe ngựa hồn thu thảo "; chỉ ngần ấy đổi thay  cũng đủ làm bà đau xót , thuơng cảm.
 Nhưng nay, nỗi đau của quê huơng nói sao cho vừa ?còn gấp nhiều lần đau xót của người xưa !  mẹ gánh con mệt đứt hơi qua làn bay đạn pháo ; ông ôm xác cháu huớng về nam sao còn cứu được mạng bé thơ? Đoạn Cầu Dài còn khắc ghi máu lệ , làm sao nhạt nhòa được chỉ với một năm ? 

Ôi quê hương, đất mẹ bây giờ những ngày vui mất rồi Còn tìm đâu hình bóng, ngọc ngà hoa mộng cũ Dấu đạn yên phố thị, tiếng cười ôi tiếng cười ngừng vui...


   Quá khứ như hiện về trong tôi... tiếng xôn xao của đám học trò chen nhau vào cổng. Hai cái cổng phụ bị ông phu trường lạnh lùng đóng lại cho "mấy cậu cô " đi trễ. Rồi những khuôn mặt ngơ ngác, ân hận, âu lo của những "tiểu thư" áo trắng hay 'quyết định vượt rào '  của mấy cậu nam sinh. Những hình ảnh tưởng chừng như hôm qua thôi! Thế mà giờ đây trước mặt tôi là sự hụt hẫng, những cảm xúc buồn bã nhớ nhung, một người đang háo hức về lại chốn xưa bị dội lại từ một thực tế quá phũ phàng.



Ngày tôi nhập ngũ có người yêu cúi mặt Tiếng đạn bom chiến trận đưa tôi rời xa nẻo tối Xin cho tôi bàn tay thiêng liêng thánh thiện Để xua tan bao oán hận cho dòng máu thôi rơi...


VĨNH ĐỊNH- MỘT DÒNG SÔNG QUÊ

  Đến cầu Ba bến chiếc cầu sắt nhỏ bắc qua con sông Vĩnh Định, chiếc GMC chạy thẳng vào sân BCH tiểu đoàn, tôi vội nhảy xuống xe lo ‘gôn’ quần , xắn tay áo cho đúng quy cách. Tôi cố gắng chuẩn bị tư thế nhà bình thật nghiêm chỉnh trước khi vào trình diện tiểu đoàn trưởng.
 Thật sự tôi đã trễ phép gần 2 tuần lễ, biết ăn nói sao với tiểu đoàn trưởng đây? hay là mình lấy lý do gia đình ở tận Mỹ tho tỉnh Đình tường, tôi còn phải thăm bà con chiến nạn đang tạm cư ở Đà nẵng nữa. Tôi hy vọng mấy lý do này cũng tạm ổn. 

                --Chuẩn Uý Đinh trọng Phúc, số quân 73/008310 trình diện đại uý Tiểu Đoàn Trưởng xin lệnh.


  Tôi đứng nghiêm chào, xưng tên họ, số quân, cấp bậc... bên ngoài tôi cố gắng làm ra dáng bình tĩnh nhưng trong bụng tôi thực sự run! Tiểu Đoàn Trưởng Hồ Văn Cầu đang ngồi ăn cơm với ông Tiểu đoàn Phó trong căn hầm chỉ huy "trợn mắt gằn giọng" hỏi lý do trễ phép? Ông Cầu to giọng phê phán tôi về vấn đề vô kỷ luật? Còn một vấn đề, tôi là một sĩ quan trẻ mới ra trường?

  Tội nghiệp thân tôi, ấp úng trình bày lý do trễ phép mong tiểu đoàn trưởng "thông cảm"? Hình như Ông Cầu thấy vẻ mặt và dáng dấp "búng ra sữa" của tôi ông cũng thấy "tội nghiệp", dịu giọng, Ông cho phép tôi ra ngoài chuẩn bị qua trình diện Đại Đội Trưởng đại đội 2 là Lê kim Chung.  Đại Uý Chung anh người gốc làng Bích Khê. Đại đội Hai của anh đang đóng bên kia múi cầu Ba Bến, ngó qua  BCH Tiểu Đoàn 105 phía bên này Cầu.


  Ra đứng tần ngần ở sân tiểu đoàn; cũng may, tôi gặp Đại Úy Trần quang Hiền, trưởng ban 3 tiểu đoàn.
  Đại Úy Hiền coi bộ thương cùng thông cảm cho khóa đàn em mời ra trường như tôi. Thật đúng với cái tên Hiền anh hiền lành vui vẻ, mới gặp anh lần đầu mà tôi đã thấy gần gũi, vững lòng lại sau khi bị tiểu đoàn trưởng khiển trách.
 



ngã ba sông: nhánh sông đào Vĩnh Định chảy qua cầu BA Bến


   Chia tay anh Hiền, tôi lại mang ba-lô súng đạn đi bộ qua lai cầu Ba Bến chiếc cầu mà mấy mùa vắng bóng dân đi. Bên kia ngã ba sông là thôn Nại cửu đó là làng ngoại tôi, một nửa làng nay thuộc về phía "bên kia". Thỉnh thoảng lại nghe văng vẳng tiếng kẻng liên hồi, có thể là tiếng kẻng giục dân ra đồng hay hội họp.  Giữa cầu trời vẫn mưa, thứ mưa phùn dai dẵng tiếp nối ngày này qua ngày khác. Đối với người Quảng Trị, ai cũng quen thứ cảm giác mưa lạnh sang đông. Bỗng lạ, sao hôm đó trong tôi cảm thấy nao nao? Phải chăng đó là tâm trạng khá buồn. Có chút gì lạc lõng của một người lính trẻ vừa hết cái phép đầu tiên và phải về trình diện đơn vị mới.  Tôi đang đứng giữa Cầu Ba Bến, bên kia là quê Ngoại, bao hình ảnh thân thương những ngày con nít, níu tay bà ngoại về làng, những người xưa cũ. Nay bên đó chắc hẳn chẳng còn ai, quê nhà lưu lạc tứ phương. Gia đình đông vui, ba mẹ anh em, bà con, bạn bè, người thương xóm cũ chưa vẹn 2 năm nay cách xa biền biệt tận miền nam. 


   Tôi nán dừng lại giữa cầu thêm một ít thời gian, lặng ngắm nhánh sông đào Vĩnh Định. Con sông vắng vẻ in bóng tre, đôi bờ đìu hiu, không một con đò. Dân chưa về hồi cư để cùng nhau xây lại nếp sống thanh bình với đồng lúa xanh cùng bóng mục đồng, hình ảnh ngày xưa tôi thường thấy mỗi lần về thăm làng ngoại. 


   VỀ ĐƠN VỊ

Sau khi trình diện đại đội trưởng Lê kim Chung , tôi được nằm chờ tạm ở một căn hầm nằm sát bờ sông để chờ ngày ra giữ trung đội. Đại đội 2 đóng phía bên này sông có nhiệm vụ bảo vệ cho Tiểu đoàn nên tương đối nhàn hạ hơn mấy đại đội khác. Đại đội trưởng Lê kim Chung tính trầm lặng. Hình như anh cũng thông cảm khóa đàn em. Có lẽ những cảm giác bỡ ngỡ đó cũng giống anh , những ngày đầu,  khi anh mới ra đơn vị ?  Trời vẫn mưa, những cơn mưa phùn dai dẳng, lê thê, tưởng như bất tận. Ánh sáng nhạt nhòa,  mấy cục pin xài lại từ máy truyền tin trong hầm trú ẩn, là cơ ngơi cho tôi ngày đầu tiên về đơn vị mới. Tôi may mắn được nằm trên một tấm ván ép Mỹ cũ kỷ, do lính đại đội lên tận Cổ thành đào, kiếm đem về. 

  Lính xa nhà, thú vui giữa các sĩ quan đại đội là bộ cờ quân đã cũ. Cái nền nhà và vài vách tường còn sót lại của ban chỉ huy đại đội là cơ ngơi cho tất cả mọi người ở đây. Bộ cờ quân là thú vui duy nhất cho anh Chung và mấy sĩ quan khác. Chiều mưa trung úy Ba, đại đội phó, anh người Huế dạo khúc đàn với bản nhạc "DONNA DONNA" tự nhiên lòng tôi sao bâng khuâng xao xuyến...



Lớp Đệ Tứ Ba Trường NGuyễn Hoàng niên khoá 1968-69  từ phải qua: Nguyễn Duy Thượng,(mất) Dương Văn Khôi (mất), Đinh trọng Phúc, Nguyễn tăng Phước, Lê thị Kim Lan, Nguyễn thị Nhạn, Lê Đức Mê 



Tình yêu là đấy mắt buồn xin gửi lại

Tiếng Việt Nam vĩ đại đưa anh lìa xa tuổi nhỏ

Quê hương ơi giùm thương cho anh lính trẻ
Từ nay chân đi khắp nẻo câu chuyện lòng nhớ lại thôi. (nhạc sĩ Song Ngọc)


Chẳng màng đến cởi giày, tôi nằm thừ trên miếng ván kê gần sát mặt đất nên tôi ngửi được cả mùi ẩm thấp và ướt át trong căn hầm. Ngày ra trường tôi tự nguyện chọn về đây kia mà! Tôi đã chọn quê hương Quảng trị vì tôi nhớ nó, vì tôi còn thương cả một vùng trời đầy ắp kỷ niệm. Tôi cố gắng lấy lại giấc ngủ sau một hành trình đầy lo lắng và cảm xúc. Trong cơn lim dim, tôi mơ màng thấy những khuôn mặt bạn bè năm xưa, mái trường Nguyễn Hoàng còn nguyên vẹn, những tà áotrắng xôn xao trước cổng trường cũng còn y nguyên. Mơ hồ trong giấc ngủ mệt mỏi, tôi nghe phảng phất một âm thanh nào đó của chợ Quảng trị ngày giáp Tết...tiếng máy cắt cẩm lệ, những sạp bán mứt , những gánh cải cay cuối năm, hoa hoa lốm đốm vàng...

  Tôi chợt mở mắt nhìn qua khe hở của căn hầm- mùa đông chiều xuống thật mau. Tôi nghe đâu đây, hình như dưới chân cầu Ba Bến có tiếng con chim bói cá kêu từng hồi buồn não ruột, trên mặt sông Vĩnh định màn mưa phùn theo gió lướt thướt bay ./.


ĐHL 

Sunday, August 17, 2025

Chuyện ngày xưa thôn cũ- THÔN ĐỆ TỨ XƯA

 

THÔN XƯA VÀ NHỮNG CÁI GIẾNG KHÔ NƯỚC


hình minh họa- hình ảnh 1 cái giếng khô nước và vài cái gàu rớt trơ lại ở đáy 


    Cái giếng ngày đó có từ lâu, trước con kiệt vô nhà Ông Đội Lạp. Tiếng thì cái giếng, người viết từ ngày còn nhỏ đi học ngang qua có để ý thấy nó. Nhưng điều đáng nói và thấy tội cho bà con trong Thôn do giếng cứ cạn queo, nước chẳng bao giờ có được đầy gàu?! Chỉ mừng cho ai khi không có nước thì đi móc gàu người khác bỏ lại cũng khỏi lỗ công đi vét nước. 
   Cái giếng  ngó qua là nhà Anh Nguyễn Lam. Nhà anh Lam sát cạnh Khuôn Hội Phật Giáo Thôn Đệ Tứ, ngó ra đường Lê văn Duyệt. Nguyễn v Lợi em trai út của anh Lam học lớp với tôi lên tận lớp Đệ Tứ sau đó không biết vì sao? bạn Lợi không học tiếp mà đăng vào quân đội, khóa trung sĩ nhưng tội nghiệp người bạn cùng xóm cùng lớp lại qua đời sớm do bạo bệnh. 

 
  Người kể chuyện nhắc cái giếng để nhớ nhà anh Báu con trai mệ Báu chuyên đi gánh nước cho mẹ già. Trong xóm không ai gánh giỏi hơn anh Báu. Nước phải về tận thôn Hạnh Hoa mới có. Lại là nước uống mới quý làm sao. Cứ thấy anh sáng sáng chiều chiều là gánh nước về cho mạ. Hai cái thùng dầu hỏa cũ, vuông, mấy lá chuối thả trên mặt thùng cho nước khỏi chao, anh gánh một mạch từ cái giếng nước uống đầu thôn Hạnh hoa về tận xóm nhà ông Đội Lạp. Khoảng đường khá xa nhưng hai chân anh chạy nhịp nhàng dẻo queo, thấy mà thèm cái sức và đôi vai chịu khó của anh Báu và nhất là anh quả là NGƯỜI CON CHÍ HIẾU

Kể ra trong thôn cũng có nhiều cái giếng khô nước như trên. Đầu con Đường Ngự, ngõ kiệt nơi người viết sinh ra và lớn lên từ cổng thành Cửa Hậu ngó thẳng về sông Vĩnh Định (An Tiêm). Giếng đó cũng chịu "số phận"  đến mùa hè là khô nước. Người viết nhớ cái giếng đó do nó gắn liền với những năm nhỏ dại như một đoạn trong bài hồi ký trước đây...

  "Ngày đó, bắt đầu con đường này là cái giếng lớn được xây từ thời Pháp. Cái giếng rộng và khá sâu dù không là giếng nước uống, nhưng lúc đầu có xây nắp đậy chỉ mở ra một nửa nên có hình bán nguyệt. Nước dùng cho cả xóm. Dì tôi, tên Thừa hay Lý  ngày nào cũng đem hai anh em tôi , xin lỗi "ở truồng" kỳ cọ tắm cho cháu... thời đó là lứa cùng anh Liệu anh Thăng a Sỏ con ô Cai Ngữ cùng cậu Võ Bình của tác giả, khi nào cũng thi nhau ai bạo gan hơn bằng cách lấy hai tay chống vào thành giếng hình bán nguyệt trên thả cả người xuống và đu lên!? Đến khi dân đông, giếng càng lúc càng không đủ nước, nhất là mùa tháng hạ phải vét. Mùa khác tức là mùa lụt lội thì nước sâu hơn nhưng chẳng còn ai cần nước nữa. Vui nhất là chuyện tìm gàu, có khi thả móc tìm gàu mình bị đứt lại được luôn "gàu người khác " . Sự vui mừng ngồ ngộ như thể tìm được của quí và người viết "lặng lẽ" ... đem về "làm của" luôn..."

        
Thật ra, theo con đường Lê văn Duyệt, ngõ kiệt nào cũng có một cái giếng cho bà con thôn xóm dùng cả. Đây là lợi ích công, một truyền thống có từ lâu. Điều đáng nói, xứ mình thiếu và cực mọi thứ cho đến cái giếng "ôn trời" chẳng hề hào sảng cho bà con. Nước giếng nếu có chỉ vào mùa mưa lụt thì còn hi vọng. Nhưng giếng nào cũng chẳng hề dùng để uống chỉ để rửa ráy. Con sông Thạch Hãn chẳng bao xa, nhưng có thể dòng sông quá cạn nên mạch nước của sông chẳng lan vào xa cho xóm thôn nhờ?

    Dù sao trời cao trên còn thương, Thôn Hạnh Hoa kế bên lại cho một cái giếng nước uống sạch sẽ thơm tho. Đó là lý do người viết kể lại Chuyện Cái Giếng Nước Hạnh Hoa Thôn- một thôn xóm Đạo ở giữa các Thôn Đệ Tứ, Làng Cổ Thành và Họ  Đạo Trí Bưu. (bài vừa đăng lại có tên TỪ  THA LA XÓM ĐẠO TRẢNG BÀNG TỚI HẠNH HOA THÔN QUẢNG TRỊ TRONG MỜ PHAI KỶ NIỆM)


    Ngồi nhớ lại chuyện xưa, ai là người Quảng Trị từng hình dung cơn nóng nam Lào vào hè mới thấy cơn "thèm nước" và sức chịu đựng của bà con mình ngày xưa quả gắt gao, khẩn thiết vô cùng. Khí hậu gay gắt mùa hè, cho đến gần nửa đêm nhưng khí trời vẫn nực nội, quạt phành phạch mõi cả tay...Sáng đi múc nước, cái cảnh mấy cái giếng nước đầu con kiệt  cạn khô thì quả là cơ khổ biết chừng nào?!



ĐỜI SỐNG NGHỀ NGHIỆP DÂN THƯỜNG THÔN XƯA, GẮN LIỀN VỚI LÁ CHUỐI






    Những người em kế anh Nguyễn Lam có chị Nghệ và anh Nguyễn Thảnh. Người kể chuyện hay tới nhà anh Lam phần nhiều là để mua bánh ướt. Cái thời, tôi là đứa con nít nhưng hay ăn hàng vặt. Được mạ cho hai đồng là đi bộ  tới nhà anh Lam để mua. Chị Nghệ em gái anh Lam đổ bánh ướt nhà dưới. Ngồi chổm hổm bên chị Nghệ chờ chị cuốn cho đủ HAI tì bánh ướt gói trong lá chuối, cộng thêm chút nước mắm nấu trong cái chén mang theo. Xóm anh Lam nghề làm bánh ướt còn có vài nhà nữa có thể cùng làng Phương Lang lên đây từ xưa. Phải kể, có nhà bạn Tống thị Huê, bạn cùng lớp cũng làm nghề bánh ướt nhưng tôi chưa bao giờ lên đó. Sau lưng nhà bạn Trương Sừng, xóm của bạn cùng lớp Nguyễn thanh Tâm có nhà bà bác của Tâm tức là vợ bác Nguyễn thành Ngô cũng làm nghề bánh ướt.  Bánh ướt đổ suốt ngày sáng hôm sau gánh lên chợ Tỉnh bán là chính. Trong xóm làm gì mua hết. Nhưng mình cần mua lẻ thì tới nhà ngồi chực một bên, mua vài đồng có bánh nóng đem về. Xóm làng ai mà từ chối?

    Tuy còn nhỏ tuổi nhưng người viết cũng còn nhớ như in trong đầu rằng lúc sinh ra đời thì đã quen với "cái thời lá chuối" chứ chưa có ni -lon.  Không có kiểu đựng bao ni lon như đời sau này. Mọi hàng ăn vặt đều lấy lá chuối làm chuẩn.  Kể thì kể cho hết:  hầu như mọi thứ hàng bà con mình đều gói lá chuối- từ bánh tét nem chả thì đương nhiên lá chuối là ưu tiên một. Ngay hàng ăn đêm khách mua vài ba cái trứng lộn đem về nhà, o bán trứng lộn cũng gói nhúm rau răm trong miếng lá chuối. Chai lọ có thể dùng lá chuối cuốn lại làm nút chai ...
một thời, tôi nhìn quanh mọi thứ hàng hóa phẩm vật phần nhiều có lá chuối cả?



năm 2012, Hội Ngộ cựu học sinh Nguyễn Hoàng anh Nguyễn Lam (bên trái) từ Tân Hà Bình Tuy có về thăm lại Quảng Trị 


    Anh Lam, ngang lứa với cậu Võ Hoa người viết nên đúng ra tôi phải kêu là chú.  Anh là con trai trưởng trong nhà. Trước đó anh đã đi dạy học. Anh ngang lứa với cậu Võ Hoa tôi, các chú khác cùng lứa như chú Trương Đá, Chú Ngô Tùng, Chú Thuận, Chú Thương, Chú Khanh ...rất nhiều chú trong thôn, người viết khó kể hết? Chuyện là các chú trong thôn đều chọn đường binh nghiệp chỉ có anh là giáo viên. Gần nhà anh có Chú Trương Lân cũng chọn nghề dạy học. Thế hệ anh Lam  trong thôn Đệ Tứ cùng nhiều người bạn ngang lứa như người viết đã kể ở trên chỉ còn lại anh là người duy nhất về hội ngộ Trường Xưa Nguyễn Hoàng vào năm 2012 và chỉ một lần duy nhất.

    Tui nhớ mái nhà anh Lam, cái nhà xưa thời kiểu thời trước còn lại. Cái chái dọc phía bên làm nhà bếp và làm bánh ướt. Xóm tui nhiều nghề, nhiều nhất là bánh ướt, đổ bún, hàng ăn, đậu hũ ...kể không hết. Chiều chiều có hai đồng mạ cho tiền ăn hàng không lên nhà anh Lam mua bánh ướt. Nếu mua bún, thì tới mụ Đạo hay mấy o nhà xóm trước mặt hồ đối diện xóm Trần Tài. Bún hay bánh ướt gì cũng mua tận bếp nên nóng hổi. Chủ lò cho chút nước mắm nấu sẵn, xong là "le te" đi về ...
 
    Kể chuyện xóm anh Nguyễn Lam để nhớ con đường kiệt vào sâu phía trong là nhà anh Ngô Tùng và Ngô Dũng tức là anh con Sáu bạn học ngang lớp tụi tui. Một thời tui hay lên tận xóm này chơi đá lon và hô la manh với con sáu thằng Lợi còn anh Dũng anh Tùng thì còn lo học bài dưới ngọn đèn đường đâu thèm chơi với lũ con nít tụi tui ...
 
    Từng con đường kiệt từ đường Lê v Duyệt vào sâu trong xóm. Tất cả đều đâm ra cánh đồng ruộng Cổ Thành, Hạnh Hoa...đồng ruộng lan rộng đến xóm Tiêu xóm Đồng về xa hơn nữa sẽ gặp làng An Tiêm...


ĐÚNG VẬY, NHIỀU THẾ HỆ NỐI TIẾP ĐI QUA


hình cậu tôi, Võ đình Cư trước cổng thành Cửa Hậu (Cổng Lao Xá) năm 1969. Cổng Cửa Hậu vào năm 1967 bị bắc quân đánh vào giải thoát toàn bộ tù chính trị nên từ đó bị lấp và rào chắn lại. Trước đó Cửa Hậu còn mở, lính trong thành ra mua hàng sinh hoạt khá vui 



 
Nói sao hết những hình ảnh thân thương của đường xưa lối cũ. Trong đó có những bậc tiền bối những lớp tiền bối hay đàn anh nay lần lượt đã chia tay làm người THIÊN CỔ
 
Từ Miếu Đôi gần chùa Tỉnh Hội tạm gọi là múi đầu của Thôn Đệ Tứ các vị trưởng bối như ông Võ Bào, Ông Hoàng văn Lơi, Hoàng Long Hải, cố Thiếu tá nhảy dù Hoàng Hùng (Hùng Móm) về xuôi hướng Cổ Thành có xóm nhà ông đại tá Nguyễn Bé, Đại Úy Nguyễn Bích,  về đến nhà Đại Tá  TỐng Viết Lạc,  cho đến các thiếu tá Thuận, Thiếu tá Lê Quang, Thiếu Tá Thương (em o Gái bán chè tươi) Thiếu tá Trương Đá... Đại Úy Ngô Tùng cho đến Thiếu tá Lê công Khanh, Đại úy Liệu  và còn nhiều nữa... cho đến các người cậu của tác giả, cậu Võ Cư, Thiếu tá Võ tự Bé,  cố thiếu tá Võ tự Phương, cố thiếu úy Võ Ba, thiếu úy Võ Hoa, Đại Úy Võ Bình, tất cả nay đà khuất bóng. Anh Nguyễn Lam bậc đàn anh lão làng bao nhiêu năm đi theo bà con Quảng Trị vào phương nam quê hương mới của bà con Quảng Trị tận xứ Tân Hà, Bình Tuy và nay Anh cũng chia tay ra đi để về với  tiền nhân thôn Đệ Tứ.


HÌNH 1959 chụp tại  Lido Quảng Trị : (lúc cậu tôi AET  Võ tự Phương mới ra trường SQ Thủ Đức về thăm QT)
6 anh em xuất thân từ Phường Đệ Tứ Thị Xã Quảng Trị: 127 đường Lê Văn Duyệt cũ-
trái sang hàng trên: Võ tự Phương, Võ tự Bé , Võ đình Cư
trái sang hàng dưới: Võ Bình, Võ Ba, Võ Hoa 


 
    Người viết mường tượng trong chốn siêu hình nào đó, các bậc tiền bối, trưởng thượng ngày trước đang "nắm tay nhau" về thăm thành xưa thôn cũ như một đoạn trong hồi ức của chính mình...

CÁI CỔNG THÀNH CỬA HẬU UY NGHI MUÔN THUỞ, CON ĐƯỜNG LÊ VĂN DUYỆT THÂN YÊU SỐNG LẠI TRONG CÕI VÔ HÌNH... RỒI ĐOẠN ĐƯỜNG QUA CHÙA TỈNH HỘI, QUA ĐẬP RÙ RÌ BÊN DÒNG  THẠCH HÃN THÂN YÊU NƯỚC LẶNG LỜ TRÔI, TRONG HỒI CHUÔNG CHÙA TỈNH HỘI NGÂN NGA, TRONG MỘT CÕI THINH KHÔNG SIÊU THỰC ...
 
    
Edit tái biên 18/8/2025


thế hệ đàn em, đồng hương thôn Đệ Tứ sau này tại Nam California


bạn bè thôn Đệ Tứ  gặp nhau tại Nam California 2015



Đinh Hoa Lư
 

SẼ CÓ LÚC NÔNG THÔN LÀ NƠI DÀNH CHO NGƯỜI GIÀU CÓ

 

TỪ ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN DI DÂN NGƯỢC DÒNG


edition by Đinh hoa Lư



                                   SÀI GÒN VỀ ĐÊM



Sài Gòn sẽ là nơi ở cho người lao động - giới giàu có sẽ di dân ra khỏi thành phố

 Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:

Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc,
Bồng bế nhau lên nó ở non  ...
(Trần tế Xương )

Chào bạn đọc

    Đọc lại đoạn thơ xưa của cụ Trần tế Xương trong bài Năm Mới Chúc Nhau, với thi văn xưa thì đó quả là giai thoại thơ văn trào phúng. Đọc bài thơ của cụ ngẫm lại chỉ để cười thôi. Chẳng ai ngờ rằng thế giới hôm nay quá nhiều thay đổi. Hoàn cảnh lên "ở non" ngày xửa ngày xưa chỉ là điều bất đắc dĩ hay cho người dân sống nơi thâm sơn cùng cốc, thiếu thốn mọi bề. Thời nay đã đảo ngược  do "đại gia" mới có điều kiện lên ở vùng cao. Đó là trường hợp xảy ra từ lâu nơi các nước giàu có như Hoa Kỳ, Tây Âu cùng các cường quốc phát triển khác ...



"...NÓ Ở NON..." NAY SẼ XUẤT HIỆN TẠI VIỆT NAM
 

 Không những thế, đối với một số nước Đang Phát Triển (developing countries) như VN hiện nay có nhiều điều thay đổi quá nhanh nhất là khi chính thức hội nhập vào kinh tế thị trường. So sánh hình ảnh các thành phố lớn tại nước ta hiện nay và vài thập niên trước chắc chắn đã thay đổi rất lớn nhất là về cơ sở hạ tầng. Điều này là điều dễ hiểu do sự biến đổi về hình thức và nội dung của nền kinh tế thị trường; nhất kể từ lúc VN được chính thức gia nhập vào tổ chức Mậu Dịch Tự Do Thế Giới (WTO) vào ngày 11/1/2007 chính đó là chiếc "đòn bẩy" tạo nên những đổi thay như thế. Sự phát triển của nền kinh tế Toàn Cầu Hóa Thế Giới càng lúc càng đưa VN và một số nước Chưa Phát Triển (underdevelopment countries) biến thành các nước Đang Phát Triển (developing countries) do vị trí quan trọng của "Chuỗi Cung Ứng Toàn Cầu" của nền kinh tế thế giới.

 Chúng ta chắc hẳn đồng ý rằng hình ảnh đẹp đẽ các thành phố lớn từ trên cao nhìn xuống nhất là về đêm nhất là thời kỳ kinh tế phát triển cho chúng ta khá nhiều ấn tượng lý thú.


Mỹ là thị trường xuất khẩu và xuất siêu lớn nhất của Việt Nam suốt thập niên qua, với kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ hiện gấp gần sáu lần mức Việt Nam nhập khẩu (nguồn: Viet Nam Forbes)

nguồn: 

https://andamanpartners.com/2025/02/vietnams-remarkable-growth-story-and-opportunity-in-2-charts-gdp-grew-by-10-and-exports-by-14-annually-over-the-past-20-years/


SẼ CÓ NHIỀU THAY ĐỔI VỀ QUAN NIỆM VỀ GIÀU VÀ SANG RA SAO?


Ô TÔ NHÀ LẦU KHÔNG CÒN ĐỂ CHỈ SỰ GIÀU SANG TRONG THỜI ĐẠI MỚI kể cả tại VN cũng sẽ dần dà đi vào khuynh hướng này 

tỷ lệ người VN sở hữu xe ô tô càng lúc càng cao 

Đối với các nước phát triển thành phố lớn suốt hai thế kỷ 20 và hiện nay dần dà là nơi tập trung cho giới công nhân do thành phố là vùng trọng yếu để phát triển của kinh tế. Những khu chung cư (housing appartments) cao tầng là hình ảnh quen thuộc cho giới công nhân. Giới chủ và giàu có họ đã dần dà di dân ra ngoại ô. Ô tô, Nhà Lầu khu cư trú cao tầng là hình ảnh quen thuộc dành cho người làm việc tại thành phố không còn là hình ảnh cho tầng lớp giàu có mới nữa.


ĐÔ THỊ HÓA VÀ DI DÂN NGƯỢC DÒNG 













PHONG TRÀO ĐÔ THỊ HÓA (urbanization )


Phát minh máy hơi nước và điện lực từng đưa các nước phương Tây có những bước tiến rất xa về kỹ nghệ. Những thành phố kỹ nghệ hóa cần nhiều sức lao động đã thu hút hàng triệu lao động trẻ từ bỏ thôn quê lên tỉnh thành kiếm công ăn việc làm mới mẻ hơn, đời sống cao hơn. Từ đó đô thị dần dà có dân số cao dần lên và dân số tại các vùng quê lại tụt thấp.

ô nhiễm thành phố VN hiện tại lên mức báo động cao 

Sự phát triển nền KINH TẾ CHẾ XUẤT (manufacturing economy) tại các nước điển hình tại Á châu hôm nay đang thúc đẩy phong trào di dân từ nông thôn lên thành phố càng lúc càng đông.

Tại VN khuynh huớng di dân đến thành phố lớn càng lúc càng tăng khiến nạn xe càng lúc càng khó giải quyết cùng môi trường ô nhiễm trầm trọng?!

Thật ra, phong trào đô thị hóa phát triển sớm vào những năm 1800 ở các nước kỹ nghệ phát triển sớm như Châu Âu và Bắc Mỹ. Tỷ lệ dân số tại các nước này ví dụ, Hoa kỳ,ở các vùng thành phố tăng vọt từ 5% vào năm 1800 đến 50% vào năm 1920.Tại các nước kém phát triển, hiện nay hiện tượng này đang tiếp diển và tăng nhanh; ví dụ Á Châu có Trung Hoa và Việt Nam. Ở Nam Mỹ ngay tại thành phố Sao Paulo, Brazil có mật độ tăng dân cao nhất thế giới, khoảng 300,000 nguòi trong một năm. Tại các thành phố kỹ nghệ, tuy mật độ dân số tăng nhanh nhưng tỷ lệ trẻ con ít dần vì khuynh huớng sinh ít con do bận công ăn việc làm.



KHUYNH HUỚNG DI DÂN NGƯỢC DÒNG (counter urbanization)




GIỚI GIÀU CÓ SẼ TÌM VỀ Ở NÔNG THÔN ĐỂ GIỚI LAO ĐỘNG Ở LẠI THÀNH THỊ

TẠI CÁC NƯỚC Phát Triển (developed countries) sau hơn hai thế kỷ phát triển kỹ nghệ, sau phong trào đô thị hóa giờ hiện đang có khuynh huớng "ngược dòng" (counter-urbanization) đó là lúc giới giàu có lại di dân ra ở vùng ngoại ô yên tĩnh. Ngay tại Mỹ hiện nay huớng di dân ra ngoại ô gần gấp đôi huớng cũ lúc đó là di dân "từ quê lên tỉnh ".

Với phương tiện giao thông liên lạc càng ngày càng hiện đại, nhất là sự phát triển của kỹ nghệ Internet, bắt đầu cuối thế kỷ 20 đến nay phong trào di dân từ thành phố về nơi thôn dã tăng mạnh tại các nước Đã Phát Triển (developed countries) bao gồm giới giàu có. Người hồi hưu già cả may mắn họ do hoàn cảnh đã di dân ra ngoại ô sớm hơn.


cao ốc Mỹ Khang quận 7 Sài Gòn



Khuynh hướng Di Dân Ngược Dòng chắc chắn sẽ xuất hiện tại Việt Nam khi một lớp thị dân giàu có hay giai cấp ‘đại gia’ xuất hiện nhiều. Lúc này các thành phố lớn sẽ là nơi dành cho người lao động, do hoàn cảnh công ăn việc làm, họ phải chen chúc nhau sống trong các trung tâm cao tầng. Tại các trung tâm cao tầng sẽ có mức giá cả cho tầng trệt sẽ cao gấp mấy lần các tầng càng cao do tiện nghi và thoải mái cuộc sống...

 Trái lại lớp người 'trưởng giả mới' nói trên sẽ thi nhau xa rời thành phố di dân ra ngoại ô hay nông thôn tạo thành một phân tầng mới tại vùng nông thôn, vùng núi khí hậu tốt, vùng ven biển vv... Vào thời điểm đó có thể bắt đầu từ bây giờ giá cả đất đai tại các vùng ngoại ô, vùng quê nhất là nơi có khí hậu và địa lý tốt như đã nói, sẽ càng lúc càng đắt đỏ với tốc độ nhanh không ai ngờ được./.


ĐHL 
edition 

TÔI LÀ LÍNH ÂM THẦM TÔI NGHĨ THẾ THÔI

Tôi là lính xa nhà đi trấn Sơn Khê Hai mùa mưa mây mù che nẻo đường về Đêm rừng núi lạnh buốt mái pon cho Súng cầm canh nhịp từng giờ Trái c...