Friday, April 24, 2026

TIỂU ĐƯỜNG -BỆNH THẬN MÃN TÍNH và CHẠY THẬN - SẠN THẬN


PHẦN I

LIÊN QUAN TỪ CHỨNG TIỂU ĐƯỜNG VÀ BỆNH THẬN MÃN TÍNH



       TRÁI THẬN VÀ ĐƠN VỊ LỌC NHỎ NHẤT NEPHRON


Chào bạn đọc

Lục phủ ngũ tạng, cơ quan nào cũng là người bạn chí cốt trung thành hay thậm xưng hơn đó là "nô lệ" trung thành cho chúng ta. 

Có cường điệu chăng khi người ta tính ra trái tim ta đập khoảng 100,000 nhịp đập mỗi ngày (cho người bình thường non 70 nhịp tim/ phút) và như vậy có chừng 2.5 tỷ nhịp trong một đời người nếu sống trung bình 70 tuổi!


Rồi ta nghĩ thêm, trung bình một người lớn có chưng 5,6 lít máu luân lưu tuần hoàn trong cơ thê và trái tim ta đã bơm đẩy cho ta một lượng máu tính chung là 1,000,000 barrels (158 triệu lít) tuần hoàn luân lưu trong 1 đời người. Số dung tích luân lưu tổng cộng máu đó có thể đổ đầy 3 thùng loại Super Tank -thứ thùng chứa lớn nhất...


Những con số mà cá nhân chúng ta ít ai nghĩ tới và khi tính toán theo con số toán học thì quả thật "công ơn" người "nô lệ" trong bản thân ta quá vĩ đại, quá lớn!


Bên cạnh công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, công trình từ các cơ quan trong cơ thể con người quả quá to lớn và liệu chúng ta đã có đủ "bổn phận" bảo vệ phụ giúp cho những người "đầy tớ trung thành" của chúng ta chưa?

Trong các cơ quan trong nội tạng chúng ta, khi chúng ta bàn riêng về 2 quả thận cũng thế. Cơ quan bài tiết THẬN phải "è lưng" lọc tổng cộng trung bình 200 lít máu trong khoảng 40 vòng tuần hoàn máu lọc qua thận mỗi NGÀY!

Nói như thế từ gan, tim, phổi, thận ...mọi cơ quan nội tạng (cùng ngoại tạng) đều là người bạn trung thành, chung thủy trong đời người vậy


***

VÀO BÀI

NẾU BẠN MẮC CHỨNG
TIỂU ĐƯỜNG NHỚ YÊU CẦU BÁC SĨ THEO DÕI BỆNH THẬN


Bệnh thận mãn tính (chronic kidney disease-CKD) thông thường phá triển khá chậm và cho ít triệu chứng ban đầu cho ta đề phòng. Sự phát triển bệnh lý chậm như thế khiến nhiều người không đề phòng được chứng THẬN MÃN TÍNH (CKD) cho đến khi căn bệnh bắt chúng ta phải đi đến tình trạng LỌC MÁU hay ngay cả THAY THẬN để sống còn.


Như thế ngay từ lúc ban đầu bạn mắc chứng tiểu đường bạn phải đi kiểm soát đều đặn về THẬN. Điều này khá đơn giản cho bác sĩ thời gian đầu tiên do chỉ khám nghiệm MÁU và THỬ NƯỚC TIỂU mà thôi. Đi thử dò về bệnh thận sớm để nhận ra CKD càng sớm chừng nào tốt chừng đó do chữa trị đầu tiên sẽ sớm có công hiệu hơn là đến tình trạng trễ tràng phải LỌC MÁU hay THAY THẬN


Bệnh Thận Mãn Tính xảy ra khá thông thường với ai mắc chứng tiểu đường. Tỷ lệ 1 trên 3 người mắc tiểu đường thường gặp phải CKD. Tất cả HAI loại bệnh tiểu đường  TYPE 1 và TYPE 2) đều đưa đến bệnh thận mãn tính CKD

theo National Kidney Foundation (NKF) thì có tới 37 triệu người lớn tại Mỹ mắc phải chứng đau thận kinh niên CKD. Đi theo dõi và khám phá ra bệnh sớm có thể giúp ta rất nhiều. Bệnh tim là nguyên nhân hàng đầu của ca tử vong cho những ai mắc chứng thận kinh niên. Cũng theo cơ quan này Tiểu Đường và Cao Máu là 2 nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh thận kinh niên. Tương quan qua lại thì bệnh thận kinh niên cũng gây ra cao máu (high blood presure/ hypertension)


TẠI SAO TIỂU ĐƯỜNG GÂY RA BỆNH THẬN



hình thận bổ dọc

Túi nang Bowman là một phần của nephron, một phần của thận. Có khoảng 1 triệu nephron trong mỗi quả thận.  Mỗi đơn vị nephron đều có một cầu thận gồm các mạch máu rất nhỏ là khởi đầu của sự lọc.



Mỗi trái thận của chúng ta được cấu tạo từ hàng triệu bộ lọc rất nhỏ gọi là nephrons. Mỗi trái thận người lớn có khoảng 1 triệu nephrons. Do lượng đường cao trong máu như thế theo thời gian nó làm hỏng các mạch máu ở thận cũng như phá các nephron nói trên khiến thận không còn hoạt động tốt như bình thường. Nhiều người mắc bệnh tiểu đường dĩ nhiên hay bị song song chứng huyết áp cao (hypertension), hai chứng này đều gây hại cho thận.


Bệnh thận mãn tính có nhiều thời gian để phát triển và cái khó là it dấu hiệu hoặc triệu chứng sớm nào trong giai đoạn đầu cho ta đề phòng. Chúng ta sẽ không biết mình bị CKD trừ khi có bác sĩ khám thường xuyên cho bạn.


LÀM SAO CHÚNG TA GIỮ TRÁI THẬN MẠNH KHỎE


Hai trái thận quả thật là hai người bạn mệt nhoài phục vụ cho thân thể chúng ta nếu ta nghĩ đến nhiệm vụ của "hai người bạn" này mỗi ngày phải lọc tới 200 lít máu cho mnh!. Nếu dung lượng trung bình người lớn khoảng 5 lít máu thì hai người bạn này mỗi ngày phải lọc tới 40 vòng tuần hoàn máu qua thận để cho ta không còn cặn bã nào trong máu. Nói thế chúng ta cũng không phụ các cơ quan khác. Từ tim phổi gan ...cho đến da thịt...chúng là người bạn trung thành nhất trong đời.


Chúng ta có thể giữ thận làm việc tốt và có sức khỏe cho chúng bằng cách cố gắng GIỮ LƯỢNG ĐƯỜNG MÁU TỐT, HUYẾT ÁP TỐT


*HUYẾT ÁP người lớn (dưới 140/90)  


* LƯỢNG CHOLESTEROL TỐT (high density lipoprotein -HDL trên 40mg/decilit

     (cholesterol xấu low density lipoprotein- LDL giữ dưới 100mg/DL- 


 Giữ được điều này rất quan trọng do nó còn giúp ích cho trái TIM chúng ta được khỏe cũng như bảo vệ cho mạch máu chúng ta. Cao đường, cao máu cao cholesterol là nguyên nhân hàng đầu gây BỆNH TIM và ĐỘT QUỴ



TIỀN TIỂU ĐƯỜNG (prediabetes) và BỆNH THẬN


Nếu chúng ta bị tiền tiểu đường, hành động ngăn ngừa tiểu đường loại HAI là bước quan trọng để ngừa bệnh thận. Nghiên cứu cho thấy thừa cân lượng có nguy cơ mắc tiểu đường loại HAI cao hơn như thế chúng ta nên làm sao giảm 5 cho tới 7% trọng lượng cơ thể mình (10 đến 14 pound cho ai cân nặng 200 pound). Muốn vậy ta phải ăn uống lành mạnh và tập thể dục thể hình khoảng 150 phút ít nhất cho mỗi tuần lễ. Thay đổi cách sống cũng giúp chúng ta chống được tiểu đường loại HAI


TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2 LÀ GÌ?


Ngang đây chúng ta cần nhắc lại Tiểu Đường loại HAI là gì?


Chúng ta biết, insulin là hormone do tụy tạng tạo ra. Nó là “chìa khóa” giúp đường vào máu rồi thâm nhập vào từng tế bào trong cơ thể chúng ta để tạo ra năng lượng hàng ngày. Khi các tế bào chúng ta phản ứng ‘bất bình thường’ với insulin tức còn gọi là KHÁNG INSULIN đó là lúc chúng ta mắc tiểu đường loại HAI (type 2 diabete). Tụy tạng chúng ta lúc này càng cố tạo ra nhiều insulin hơn để kích động tế bào phản ứng cho đến lúc KHÔNG CÒN THEO KỊP, từ đó lượng đường trong máu của chúng ta càng lúc càng cao hơn (từ tiền tiểu đường cho đến tiểu đường chính thức). Lượng đường máu cao theo ngày tháng gây ra bệnh tim, giảm thị lực, bệnh thận và những chứng khác.


CÁC DẤU HIỆU SUY THẬN 




LỌC MÁU RA SAO?

 


Thận của chúng ta thường lọc và loại bỏ các chất thải và chất dư thừa ra khỏi máu. Lọc máu tại bệnh viện là một phương pháp thay thế một số chức năng của thận khi thận thực sự bị suy hoàn toàn. Bệnh nhân phải tới bệnh viện và được giúp sử dụng máy để lọc và làm sạch máu. Không ai muốn tình trạng đau khổ này cả, nhưng khi waiting list bản danh sách chờ thay thận chưa có thì ta phải tới lọc máu hai hay ba lần hàng tuần thôi.

 


Mỗi lần như thế máu bạn được y tá bơm từ từ ra khỏi cơ thể bạn. Máu này qua « thận nhân tạo » để lọc theo phương pháp của họ. Máu hoàn chỉnh xong được bơm vào cơ thể bạn.

Quá trình chạy thận nhân tạo diễn ra như thế nào?

Nghĩ đến việc phải châm kim nhiều lần một tuần có thể khiến bạn lo lắng lắm.  Nếu bạn lo sợ về điều này hoặc sợ kim tiêm, bạn có thể được bôi thuốc tê vài giờ bôi gây tê vài giờ trước khi chạy thận, hoặc tiêm thuốc gây tê tại chỗ để làm tê vùng kim tiêm. Thuốc gây tê có thể gây "cháy" hoặc "nóng rát" lúc đầu nhưng chỉ kéo dài vài giây thôi. Sau đó có một ống chuyên dụng sẽ được gắn vào kim, sau đó được kết nối với máy chạy thận.

Bạn cần ngồi hoặc nằm trong suốt quá trình lọc máu. Cần khoảng 4 giờ mới xong một lần lọc máu như thế. Nhưng có người lâu rồi quen do mỗi tuần tới 3 lần lọc máu nên họ có thể đọc sách, ngủ, nghe hay xem máy tính đem theo. Lượng máu đi ra và lọc xong điều hòa cân đối nên bạn không chóng mặt và cảm giác máu bị ồ ạt rút ra.

 

Lọc máu có thể được thực hiện tại bệnh viện hay các clinic có chức năng  lọc máu độc lập. Nơi nào cũng có y tá và chuyên viên bác sĩ cả; Lọc máu tại nhà yêu cầu bạn hoặc người khác phải học cách sử dụng máy.


PHẦN II


BỆNH SẠN THẬN (KIDNEY STONES)

 


vòng luân lưu tuần hoàn của máu qua hai trái thận để lọc hàng ngày tổng cộng 200 lít máu cho người lớn và thải ra trên dưới 2 lít nước thải vào bàng quang  

Chào bạn đọc


    Chúng ta ai cũng có hai trái thận, mỗi trái to cỡ bằng nắm tay. Thận nằm hai bên cột sống dưới xương sườn. Thận tuy nhỏ nhưng bổn phận của nó phức tạp và quan trọng cho cơ thể chúng ta. Thận giúp loại chất cặn bã và chất lỏng thừa. Thận lọc máu giữ lại hay loại bỏ những hợp chất hữu cơ cần hay không cần.  Thận kiểm soát việc tạo ra các hồng huyết cầu hay các sinh tố kiểm soát sự tăng trưởng. Thân giúp giải phóng các hóc môn điều chỉnh huyết áp, số hồng cầu hay định lượng chất cần thiết nhất định cho cơ thể chúng ta như calcium hay kalium


THẬN LỌC MÁU 


    Động mạch tim đưa máu vào hai trái thận chúng ta để làm lọc đó là nhờ vào hàng triệu đơn vị lọc nhỏ li ti của thận (nephrons). Chất thải lỏng qua niệu quản và tồn đọng ở bàng quang (bọng đái) gọi là nước tiểu. Máu sạch trái lại không qua niệu quản mà theo đường tĩnh mạch lên về tim.


BỔN PHẬN NẶNG NHỌC CỦA 2 QUẢ THẬN CHÚNG TA


Mỗi 24 giờ hai trái thận chúng ta theo vòng luân lưu tuần hoàn phải tiếp quản lọc tổng cộng tới 200 lít máu đi qua theo vòng luân lưu tuần hoàn nói trên.  Trong 24 giờ đó có 2 lít đào thải ra khỏi cơ thể đó là nước tiểu. Còn lại 198 lít từng luân lưu  qua 2 trái Thận. Chúng ta lưu ý cơ thể chúng ta bình quân chỉ có  5 tới 6 lít máu thôi nên không phải cơ thể chúng ta chứa tới 200 lít máu mà đây là số lượng dung tích chất lỏng luân lưu qua thận trong một ngày


CHỨNG SẠN  THẬN 


    Chúng ta bị sạn thận phần nhiều từ ăn uống cách sống. Ví dụ nếu ăn thức ăn quá nhiều sodium(natri), nhiều đường, thịt cá quá mức nhưng lại thiếu trái cây rau củ, thiếu nước cũng dễ sỏi thận.  Bệnh tiểu đường gây cho bạn khó kiểm soát lượng đường trong máu dễ gây sỏi thận. Calcium quá cao trong máu cũng đưa đến tăng sỏi thận.





    Sạn thận (hay sỏi thận) là một mảnh chất rắn hình thành trong thận từ các chất có trong nước tiểu. Chất rắn này là kết tinh của các dạng muối Calci, Oxalat, Crytine.. Nó có thể nhỏ như một hạt cát hoặc lớn như hay nhỏ hơn một viên sỏi nhỏ. Đa số sỏi thận tự đào thải ra khỏi cơ thể mà không cần sự trợ giúp của bác sĩ. Vấn đề là ta nên uống nước nhiều để giúp sự bài tiết thông hơn.



 Nhưng đôi khi SẠN THẬN KHÔNG LỌT RA ĐƯỢC? Trường hợp này sạn thận bị kẹt trong đường tiết niệu, chặn dòng chảy của nước tiểu  lâu ngày và gây đau đớn viêm nhiễm có khi phải vứt bỏ quả thận.


Sau đây có thể là những dấu hiệu của bệnh sỏi thận cần sự trợ giúp của bác sĩ:

• Đau nhiều kéo dài ở vùng lưng hoặc bên hông của bạn  không hết

 • Có máu trong nước tiểu

• Hay sốt và ớn lạnh

• Nôn mửa, không biết mùi vị nếm được thức ăn ngon dở ra sao

• Nước tiểu có mùi hôi hoặc có máu và có màu đục như nước vo gạo.

• Cảm giác nóng rát khi đi tiểu

...

 Bác sĩ sẽ chẩn đoán sỏi thận bằng xét nghiệm nước tiểu, máu và hình ảnh CT scan, Siêu Âm … Nếu sỏi không tự khỏi, bạn phải cần điều trị.


ĐIỀU TRỊ


GIẢI PHẪU SẠN THẬN


Tán sạn

Tán sỏi bằng sóng chấn động (shock wave) ngoài cơ thể là kỹ thuật điều trị sỏi trong quả thận và kẹt tại  niệu quản không cần tới phẫu thuật. Y khoa thay bằng sóng chấn động năng lượng cao. Chúng truyền qua cơ thể và để phá vỡ sạn thận những mảnh nhỏ như hạt cát. Khi đã vỡ thành các hạt nhỏ chúng dễ dàng trôi qua với nước tiểu.


Cắt thận qua da

Các thủ thuật này là phương pháp điều trị sạn thận được áp dụng cho những bệnh nhân có sạn thận lớn cỡ 2 cm hoặc có hình dạng khác thường, những người bị nhiễm trùng cùng sỏi chưa bị phá vỡ đủ bằng phương pháp thứ nhất

Cả hai thủ tục đều liên quan đến việc xâm nhập vào thận thông qua một vết rạch nhỏ ở phía sau. Khi bác sĩ phẫu thuật đến quả thận, một ống soi thận (một máy ảnh sợi quang học thu nhỏ) cùng các dụng cụ nhỏ khác được luồn vào qua lỗ. Sạn được lấy ra hay tán nhỏ mới lấy ra...


Nội soi niệu quản

Đây là một thủ thuật trong đó một ống soi nhỏ  được đưa vào bàng quang và niệu quản và nó được sử dụng để chẩn đoán và điều trị một loạt các vấn đề ở đường tiết niệu. Đối với sạn niệu quản (một viên sạn trong niệu quản), nó cho phép bác sĩ tiết niệu thực sự nhìn vào niệu quản, tìm sỏi và loại bỏ nó. Đây là một thủ thuật ngoại trú có hoặc không có đặt stent (một ống được đặt vào niệu quản để giữ nó mở ra).

Tuy nhiên, tùy thuộc vào kỹ năng và kinh nghiệm của bác sĩ, nội soi niệu quản có thể được sử dụng cho hầu hết mọi viên sạn có kích thước phù hợp với nó. Việc tán sạn bằng phương pháp nội soi niệu quản bằng thiết bị laser heli đảm bảo hơn so với phương pháp tán sỏi bằng sóng xung kích (Shock Wave).


ĐỀ PHÒNG  SẠN  THẬN 


Đối với người lớn khoảng 9% có nguy cơ mắc chứng sỏi thận.  Vùng khí hậu càng nóng con người càng dễ mất nước hơn nên dễ có nguy cơ sạn thận.  Như thế nguy cơ mất nước đưa ta dễ sạn thận hơn. Kết lại, chúng ta nên uống nước nhiều là điều tốt nhất. Chống tái phát chứng sạn thận thì chúng ta nên uống trên 2 lít nước mỗi ngày.


Đinh trọng Phúc biên soạn 

từ các nguồn 



1- What Causes Kidney Stones 

https://www.health.harvard.edu/blog/what-causes-kidney-stones-and-what-to-do-2019051716656


2- NATIONAL KIDNEY FOUNDATION

https://www.kidney.org/atoz/content/kidneystones


3- What to expect from end stage kidney failure


What happens if kidneys fail: Symptoms, treatments, and more





TUỆ CHƯƠNG HOÀNG LONG HẢI: Ô CHÂU ÁC ĐỊA

 

HOÀNG LONG HẢI: Ô CHÂU ÁC ĐỊA

 (có phụ chú của người đăng bài Đinh trọng Phúc)


 

 TUỆ CHƯƠNG

HOÀNG LONG HẢI

(trích trong tập: Quê Ngoại)

 

            Theo “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim thì…

“Năm tân sửu (1301) thượng hoàng đi sang Chiêm Thành xem phong cảnh, có ước gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Được ít lâu, Chế Mân cho người đem vàng bạc và các sản vật sang cống và xin cưới. Triều thần có nhiều người không thuận, Chế Mân lại xin dâng châu Ô và châu Rí làm lễ cưới, bấy giờ Anh Tông mới quyết ý thuận gả. Đến tháng 6 năm bính ngọ (1306), cho công chúa về Chiêm Thành.

            “Sang năm sau (1307) vua Anh Tông thu nhận hai châu Ô và Rí, đổi tên là Thuận châu và Hóa châu, rồi sai quan là Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và đặt quan cai trị.

            “Huyền Trân công chúa lấy Chế Mân chưa được một năm thì Chế Mân mất, mà theo tục Chiêm Thành, hễ khi vua đã chết, thì các hậu phải hỏa thiêu chết theo.

            “Anh tông được tin ấy, sai Trần khắc Chung giả mượn tiếng vào thăm để tìm kế đưa công chúa về. “

                                                      (VNSL - TTk - Q. 1 trang 167)

 

            Theo chính sử, việc gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành, lúc ban đầu, không thấy nói tới việc dâng đất hai Châu Ô và Rí. Vì vậy vua Chiêm chỉ cho mang vàng bạc và sản vật làm sính lễ mà thôi. Mãi đến khi “triều thần có người không thuận”, nên Anh Tông cũng không thuận chăng. Vì vậy, “Chế Mân lại xin dâng đất châu Ô và châu Rí làm lễ cưới, bấy giờ Anh Tông mới quyết định thuận gả”. Do vậy, nhìn chung vấn đề, có hai châu Ô và Rí mới gả chông chúa. Còn như không có đất, chắc gì đã có việc hôn nhân?!

Đâu có riêng gì "Triều thần có người không thuận" như Trần Trọng Kim viết mà trong dân gian cũng có nhiều người thương trách:

 

"Tiếc thay cây quế giữa rừng,

      Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo.

Hay:

Tiếc thay hột gạo trắng ngần

      Đã vo nước đục lại vần lửa rơm

 

            Cây quế ám chỉ Huyền Trân công chúa, giữa rừng là giữa nước Chiêm Thành còn mọi rợ. Dĩ nhiên, thằng Mán, thằng Mường là mấy ông vua Chiêm.

            Hột gạo trắng ngần cũng là ý nói công chúa Huyền Trân. Vo nước đục là gả ho Chế Mân, sau lại “đi lạc” với Trần Khắc Chung là coi như lửa rơm; hay mối tình của hai người, - công chúa và Trần Khắc Chung - cũng chỉ là ngọn lửa rơm?

            Nước ta, ở miền quê, thường khó kiếm củi để đốt, nấu nướng. Nông dân tận dụng rơm để làm chất đốt. Rơm là phần ngọn của cây lúa, sau khi gặt về, đập lấy hột xong, người ta chất rơm thành đống cao, thường gọi là “Cây Rơm”.  Người ta rút rơm để đưa vào bếp đốt dần. Lửa rơm cháy mạnh, nhưng mau tàn. Người nấu lửa rơm phải canh chừng, hẽ rơm trong bếp cháy tàn thì bồi tiếp thêm rơm vào cho ngọn lửa được liên tục. Khi nấu cơm, muốn cơm mau sôi, cho rơm vào nhiều. lửa cháy to. Khi cơm đã cạn, cho rơm vào bếp ít lại để cơm được chín. Nếu tiếp rơm vào nhiều, lửa cháy to, cơm bị cháy, khê nếu để lửa tàn, không còn hơi nóng thì cơm sống. So ra, nấu rơm khó hơn nấu củi.

 

            Đất châu Ô và Rí, sau đổi thành Thuận châu và Hóa châu. Thuận châu là tên ngày xưa, bây giờ gọi là gì? Phải chăng đó là đất thuộc tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị ngày nay? Một thời, Huế được gọi là Thuận Hóa, bao gồm cả châu Thuận và châu Hóa, hay chỉ đó là một cách gọi, Huế tượng trưng cho cả hai châu nầy?

 

            Có lẽ ngày trước, hình như việc mấy cô ra đi theo chồng không mấy khi vui?

            Vu qui là ngày vui? Trong thực tế, không ít cảnh “Nước mắt ngày vu qui!” Tại sao vậy? Rõ lắm! Trước hết, vì người con gái rất thương mẹ nên khi lìa nhà theo chồng, người con gái không vui là chuyện rất thường:

                       

                        “Cậy em em ở lại nhà,

                        Vườn dâu em đốn mẹ già em thương.

                        Mẹ già một nắng hai sương

                        Chị đi một bước trăm đường xót xa…”

                                    (Lỡ Bước Sang Ngang - Nguyễn Bính)


            Chỉ “một bước đi” mà những “trăm đường xót xa” thì sự xót xa đó phải là lớn lắm. Ca dao cũng có những câu tương tự như vậy: “Tay mang khăn gói sang sông, Mẹ kêu mặc mẹ theo chồng cứ theo.” Nhưng đến khi về nhà chồng rồi thì “Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.” Ruột tuy đau chín chiều nhưng phải dấu, phải âm thầm, nếu không thế thì tại sao phải ra đứng ngõ sau mà không đứng ngõ trước. Ngõ trước có nhiều người qua lại, sợ người ta thấy đấy!

            Ngày nay, tôi thấy con gái khi lấy chồng thường hay cười hơn khóc. Vậy thì người đời nay hạnh phúc hơn người xưa?

            Tuy nhiên, với trường hợp người chị của Nguyễn Bính thì không chỉ thương mẹ. Nếu chỉ vì thương mẹ thì sao gọi là “Lỡ Bước…” Có thể người chị của thi sĩ đã có một người tình, chị ông phải bỏ người tình, phụ tình mà đi lấy chồng.

            Huyền Trân công chúa cũng vậy. Công chúa cũng có một người tình, nhưng vì lời hứa của vua cha, vì sự nghiệp của nhà Trần, vì nước nên phải qua làm dâu xứ Hời để mở mang bờ cõi. Cảm thông tình cảnh đó, vua Tự Đức viết lời cho bài ca Nam bình, theo tôi nhớ thì hình như nhà vua, mô phỏng theo một bài thơ của công chúa (?):

 

                        Nước non ngàn dặm ra đi

                        Cái tình chi,

                        Mượn màu son phấn

                        Đền nợ Ô-Ly

                        Tiếc thay vì đương độ xuân thì (1)

           

            Có người bảo rằng Huế là tiếng gọi trại của Hóa. Đất kinh đô, thường kỵ húy, tức là tránh gọi thẳng tên các ông vua, bà chúa, phải gọi trại đi để khỏi mắc tôi “khi quân” nên Hóa thành Huế. Cũng có người cho rằng không phải như thế.

            Thật ra, ở Huế, nói trại là việc rất thường, phổ biến. Hồng trại thành Hường, Nhậm trại thành Nhiệm vì Hồng Nhậm là tên vua Tự Đức. Chỉ một cái tên Hoa là tên vợ vua Minh Mạng mà lắm sự lộn xộn xảy ra: Thanh Hoa (tỉnh) đổi thành Thanh Hóa (có dấu sắc) hoặc Hoa nói trại là Huê (Hoa Kỳ hay Huê Kỳ cũng là một), hoặc Đông Hoa đổi thành Đông Ba (Cửa Đông Ba, chợ Đông Ba – “Chợ Đông Ba đem ra ngoài dại, cầu Trường Tiền đức lại xi-moong”), v.v… Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, … đổi thành một, hơi, bơ, tứ, niêm, siếu,… để trở thành một ngôn ngữ Việt Nam “mới”, cũng chẳng lạ gì nếu các ông vua Nguyễn còn tiếp tục ngồi trên ngai vàng ở Huế cho tới… bây giờ.

            Vậy thì Hóa có đổi thành Huế cũng không có chi lạ cả.

            Người Việt, nói chung, và dân Trị-Thiên nói riêng, ngày nay nên có một ngày kỷ niệm công lao công chúa Huyền Trân cho phải đạo, mặc dù Thuận châu hay Hóa châu chỉ là sự đổi chác và “lật lọng” của vua nhà Trần, mà con cháu phải gánh cái nghiệp binh đao, máu đổ xương rơi, hơn nơi nào hết trên dãi đất hình chữ S. Cái nghiệp ấy, đau đớn đến cái độ, Huy Phương phải cất tiếng than:

 

                                    Châu Ô, châu Lý mà chi nữa,

                                    Đất đã mang về nỗi biệt ly.

 

            Cái nghiệp người xưa làm, người nay chịu. Điều người xưa làm ấy, như tôi nói ở trên là “lật lọng”. Việc đó có nói trong chính sử, còn sau đây là dã sử:

            Khi Chế Mân chết, - lúc ấy Chế Mân cũng đã già - lấy vợ mới chưa được một năm mà qua đời là vì tuổi già sức yếu hay công chúa Huyền Trân có số sát phu -, vua Anh Tông lo quá, sợ theo phong tục Chiêm, con gái mình sẽ lên giàn hỏa, nên hỏi triều thần có ai chịu vào Chiêm quốc, giả nói là đi phúng điếu nhưng thực ra là để lén cứu công chúa đem về?

Đi cứu người đẹp!

Có trang phong nhã hao hoa nào tình nguyện xin đi? Không ai bằng Trần Khắc Chung. Theo dã sử thì Trần Khắc Chung là người tình cũ của công chúa. Đi cứu người tình cũ của mình, có cái nào “vạn hạnh” hơn cho Trần Khắc Chung. Không cần vua hỏi, Trần Khắc Chung cũng đi, huống gì vua đã hỏi có ai tình nguyện.

            Vì trọng trách vua giao, vì tình yêu với Huyền Trân, Trần Khắc Chung đã “xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ”, đem công chúa về tới đất Thăng Long, sau một năm “đi lạc” vì bão. Đường từ Bình Định (thành Đồ Bàn, kinh đô Chăm-Pa từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15) ra Hà Nội đâu có bao xa mà “chàng và nàng” đi lạc những một năm. Một năm đi lạc là một sự lạ, và không kém phần kỳ thú. Một chuyến “đi lạc” hay nhất trong những thiên tình sử của nhân loại, hơn cả “Tiểu Nhiên Mỵ Cơ”.

            Thế là sau gần hai năm, công chúa Huyền Trân ra đi rồi lại trở về. Người (hay giai nhân) của nước Đại Việt ra đi thì không mất, (“một sợi lông chân”, như tục ngữ thường nói) -, nhưng Chiêm Thành thì không bao giờ lấy lại được đất hai châu Ô và Rí. Trong cuộc đấu đá tranh giành nầy, người ta cho rằng người Việt thì khôn mà người Hời (tên nôm na của người Chiêm) thì dại. Hãy nghe quan đại thần Hoàng Cao Khải tự hào về cái khôn của dân tộc mình:

 

                       

                    Công chúa Huyền Trân

 

                                    Đổi chác khôn ngoan cũng nực cười

                                    Vốn đà không mất lại thêm lời

                                    Hai châu Ô, Rí vuông ngàn dặm

                                    Một gái Huyền Trân đáng mấy mươi

                                    Lòng đỏ khen ai lo việc nước

                                    Môi son phải giống mãi trên đời

                                    Châu đi rồi lại châu về đó

                                    Ngơ ngẩn trông theo mấy đứa Hời

                                                                        Hoàng Cao Khải

 

            “Châu đi rồi lại châu về”. Viên ngọc (châu) đã đi mà lại về. Hơn truyện Kiều xa: “Biết đâu Hợp phố mà mong châu về”.

            May mà nước Chiêm Thành sau đó bị tiêu diệt, không bao giờ phục hưng lại được. Giả tỉ nước Chiêm Thành ngày nay vẫn còn đó, thì mối hận bị mất đất biết bao giờ mới nguôi, và chiến tranh giành lại đất của Chế Chí (2) khi nào mới dứt.

            Giả tỉ nhà Trần hồi ấy, đem con gái về thì trả đất lại cho Chiêm Thành, thế là sòng phẳng. Hoặc ít ra, gả một công chúa khác cho Chế Chí thì đâu đến nỗi gây nên mối thù hận ngàn năm! Quả thật An nam là một đế quốc, Tây gọi là L’Empire d’ Anam. Đế quốc thì thường hay ức hiếp các nước nhỏ, gây nên thù hận.

Vua, hay những người cầm quyền của một nước, thường vì quyền lợi riêng mình, đem đất dâng cho người. Người dâng đất thì vui mừng, vì đất là đất chung, - cha chung mắc chi mà khóc - nhưng người dân, hay nói rộng ra là dân tộc, bị mất đất thì lòng thù hận biết bao giờ nguôi? Ông vua già Chế Mân, được vợ trẻ đẹp thì mừng hí ha hí hửng, nhưng dân Chiêm ở hai châu Ô và Rí phải bỏ quê mà đi thì có vui được chăng?

            Việc nầy khác với việc Mạc Đăng Dung dâng đất năm động cho Tàu. Sử chép:

            “Quan nhà Lê sang Vân Nam kể rõ việc họ Mạc làm điều thí nghịch. Quan nhà Minh tâu với vua xin cử binh mã sang đánh.”

            “Việc định sang đánh họ Mạc không phải là vua nhà Minh có vị gì họ Lê, nhưng chẳng qua cũng muốn nhân lúc nước Nam có biến, lấy cớ mà sang làm sự chiếm giữ như khi trước sang đánh họ Hồ vậy.  Ta phải biết rằng phàm những việc nước nọ giao thiệp với nước kia thường thì là người ta mượn tiếng “vị nghĩa” mà làm những việc “vị lợi” mà thôi. (3)

            “Năm đinh dậu (1537), vua nhà Minh bèn sai Cừu Loan làm đô đốc, Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ, đem quân sang đóng gần cửa Nam Quan (4) rồi truyền hịch đi mọi nơi, hễ ai bắt được cha con Mạc Đăng Dung thì thưởng cho quan tước và hai vạn bạc. Lại sai người đưa thư sang cho Mạc Đăng Dung bảo phải đưa sổ ruộng đất, nhân dân sang nộp và chịu tội, thì tha cho khỏi chết.

            “Mạc Đăng Dung sai bọn Nguyễn Văn Thái sang sứ nhà Minh để xin hàng.

            “Đến tháng 11 năm canh tí (1540), Mạc Đăng Dung thấy quân nhà Minh sửa soạn sang đánh, sợ hãi quá chừng, bèn để Mạc Phúc Hải ở lại giữ nước, rồi cùng bọn Vũ Như Quế, cả thảy hơn 40 người, tự trói mình ra hàng, sang chịu tội ở cửa Nam Quan, lạy phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân đinh, lại xin dâng đất 5 động, là động Tê Phù, động Kim Lạc, động Cổ Xung, động Liễu Cát, động La Phù và đất Khâm Châu. Lại đem vàng bạc dâng riêng cho nhà Minh.

            “Quan nhà Minh tuy làm bộ hống hách, nói đem binh sang đánh, nhưng cũng sợ mấy cái vạ như mấy năm bình định ngày trước, vã lại được tiền bạc của Đăng Dung rồi, cái lòng nhiệt thành vị quốc cũng nguội đi, cho nên mới tâu với vua nhà Minh xin phong cho Mạc Đăng Dung làm chức Đô Thống sứ, hàm quan nhị phẩm nhà Minh.”

 

            Việc dâng đất năm động của Mạc Đăng Dung cũng là một sự “lật lọng” của người Việt chúng ta. Thật vậy! Đất năm động do Mạc Đăng Dung dâng cho nhà Minh chỉ là đất trên… giấy tờ. Trên thực tế, đất năm động ấy không có ở đâu cả. Có thể đó là đất của Tầu (Đất Tầu đem dâng cho Tầu), hay Tầu đã chiếm các động ấy từ lâu rồi, hoặc đất do Mạc Đăng Dung “tự biên tự diễn” trên… giấy tờ. Khi quan Tầu đi nhận đất, không thấy đất đó ở đâu cả, giận lắm, nhưng biết làm sao được. Tập họp binh mã lần nữa để sang hỏi tội Mạc Đăng Dung là việc đâu phải dễ. Vã lại, vua quan gì đó bên Tầu cũng đã được Mạc Đăng Dung “đấm mõm” cả rồi, “Ăn xôi chùa ngọng miệng”, biết nói năng ra làm sao! Hơn nữa, cái chết của Liễu Thăng ở núi Đạo Mã Pha (Chi Lăng), cái gương Vương Thông xin hàng, được Lê Lợi tha về, hay Mộc Thạnh, nghe tin Liễu Thăng chết rồi, ba chưn bốn cẳng “tam thập lục kế” cũng chưa hẵn đã phai mờ trong lịch sử xâm lăng của nước Tầu. Nói như Trần Trọng Kim ở trên thì khi đã có cái lợi cho bản thân rồi “cái lòng nhiệt thành vị quốc cũng nguội đi”. Ai bảo người Tầu yêu nước hơn người Việt?!

            Trong lịch sử nước ta, việc “bắc cự Tầu, nam diệt Chiêm” chưa bao giờ ông cha chúng ta thua thiệt, mất người mất đất. Đó là sự khôn ngoan hay “lật lọng”? Việc đó, tôi không dám nói chắc, xin để lịch sử phê phán. Tuy nhiên, ở đây, xin nói rõ, phải chi ải Nam Quan cũng là đất khống như đất năm động thời nhà Mạc thì nước ta khỏi mất đất mà cha con nhà Hồ (Hồ Chí Minh, không phải Hồ Quí Ly) cũng như đảng Việt Cộng khỏi mang tội với lịch sử.

            Đã lật lọng, người Việt chúng ta có khinh người khi gọi người Chàm là Hời. Tiếng Chàm hay Chiêm Thành hay Chăm-pa còn nghe được. Còn tiếng Hời nghe không tôn trọng người ta chút nào! Người Chiêm chết hiện thành con ma rút ruột đi ăn phân người thì gọi là ma Hời. “Muôn ma Hời sờ soạn dắt nhau đi.” Chế Lan Viên viết như vậy đấy. Tệ hơn, quan đại thần Hoàng Cao Khải, như viết ở câu thơ trên là lũ: lũ Hời: “Ngơ ngẩn trông theo một lũ Hời.” 

 

            Xin trở lại chuyện châu Ô và châu Rí, nói rõ là Rí, không phải Lý. Trong chữ Hán và chữ Nôm, không có chữ Rí nên ngày xưa ông cha chúng ta phải mượn chữ Lý để thay cho Rí. Nay chữ quốc ngữ có thể viết được chữ Rí, nên tôi giữ lại tên cũ là Rí cho đúng với tên của người Chăm.

            Khi mới “gia nhập” lãnh thổ nước Việt, Ô Rí là đất ô hợp. Chữ ô (hợp) nầy có 2 nghĩa. Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh thì Ô có nghĩa là “nước đục, nhớp nhúa, chỗ đất thấp, ẩm, con quạ. “Ô châu ác địa”: Ngày xưa, khi Chiêm Thành nhường đất Ô châu lại cho nước ta, các đời vua thường di dân đến đó để mở mang đất đai, người ta đồn rằng đất đó là xứ ma thiêng nước độc, nên gọi là “Ô châu ác địa”. (Đào Duy Anh)

Khi còn nhỏ, qua gia đình, tôi biết nơi tôi sinh đẻ (thị xã Quảng Trị) ngày xưa thuộc đất Ô châu. Nếu có chuyện gì xấu xa xảy ra, tôi từng nghe mẹ tôi than bằng câu ca dao: “Đất nầy là đất Ô châu, ai đi tới đó mang bầu về không!” Bầu là cái bụng bầu hay ôm bầu tâm sự mà về quê! Tôi không rõ.

            Trong định nghĩa nói trên của ông Đào Duy Anh, ông viết “di dân đến đó”. Dân nầy là dân như thế nào?

Luật Hồng Đức đời Lê Thánh Tôn có 3 tội lưu (bị đi đày ra khỏi xứ). Đó là: Lưu cận châu: đày vào Nghệ An, lưu viễn châu: đày vào Bố Chính, lưu ngoại châu: đày vào Tân Bình, Thuận Hóa. Các vua đời Lê cũng cho thành lập các dinh điền, giao cho các quan dinh điền sứ trông coi, đưa binh lính vào đấy để khai khẩn đất hoang.

Như vậy, tổ tiên đầu tiên của người Việt ở hai châu Ô và Rí là những tội đồ bị lưu ngoại châu hoặc binh lính dinh điền. (5)

            Không hẵn hoàn toàn như vậy.

            Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa năm 1558, ông mang theo tướng sĩ binh lính của mình, cũng như bà con thân thuộc. Những người đi theo Nguyễn Hoàng, nhìn chung, đâu phải hàng hạ lưu. Khi Nguyễn Hoàng vào tới Ái Tử (phía bắc sông Thạch Hãn), vì đây là cái truông cát (Truông Ái Tử, tên thường gọi) quan quân khát nước. Dân chúng đem nước ra dâng. Thấy vậy, Nguyễn Ư Kỷ, cậu của chúa Nguyễn, đi theo làm quân sư, mới nói rằng: “Nay mới đến trấn mà dân đem nước ra dâng. Ấy là điềm trời cho. Nước ấy là nước vậy.”

            Cảm cái ơn của dân chúng, Nguyễn Hoàng bèn đóng quân tại Ái Tử. Do đó, khởi thủy, chúa Nguyễn dựng đất ở phương nam, lập nên nghiệp lớn là ở Ái Tử. Ái Tử thuộc châu Ô hay châu Rí?

Để rõ hơn, tôi xin chứng minh:

            Sông Ô Lâu - cách cầu Mỹ Chánh đúng 9 km về phía nam, là ranh giới hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên. Thời chiến tranh Việt Pháp 1945-54, xe thiết giáp hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên hộ tống các đoàn công-voa dân sự, tới cầu Ô-Lâu thì hai bên bàn giao cho nhau. Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, đường sá được chỉnh đốn thì ngay cầu Ô-Lâu, phía bờ nam có bảng đề ranh giới hai tỉnh. Có nghĩa là ty công chánh Quảng Trị chịu trách nhiệm chăm sóc, tu sửa cây cầu nầy. Cũng thời chiến tranh nói trên, phía thượng nguồn sông Ô-Lâu là chiến khu của Việt Minh, có ai đó, tôi không rõ tác giả, đặt bài hát như sau:

 

                        Ôi giòng Ô, vang chiều nay,

                        Trong khói sương buồn,

                        Mây chiều buông xuống,

                        Lau lách ven bờ, đìu hiu gió sương.

                        Thuyền lên chiến khu, mái chèo đưa nhanh

                        Lau xanh nghiêng nghiêng,

vươn mình giòng Ô…

Ôi! Giòng Ô,

Vươn mình băng qua khe suối,

Qua thác ghềnh, bọt tung sóng reo lao xao.

                        (Tôi chỉ nhớ có chừng đó – (6)

-------------------------

phụ chú của Đinh trọng Phúc người đăng bài

ông Võ đình Cư hay là Võ Cư gốc làng Nại Cửu Triệu Phong, cư dân xóm Cửa Hậu thuộc phường Đệ Tứ đang đứng trước Cửa Hậu (Lao xá Thành Cổ) 

 (6) Anh Võ Cư, nhân viên ty Công An, (anh của Võ Tử Bé và Võ Hoa, hát rất hay), ở chiến khu về, tập cho tôi hát bài hát nầy và đàn vọng cổ bằng guitar. Hồi ấy, năm 1951, tôi chưa thấy người ta đàn vọng cổ bằng đàn guitar như anh Võ Cư.

 

6 anh em họ Võ (thôn đệ tứ QT)
Hàng trên trái qua Võ Phương, Võ Bé, Võ cư 
hàng dưới: trái qua Võ Bình, Võ Ba, Võ Hoa 
Võ Bé là bạn thân của Hoàng Viết Lợi anh tác giả Tuệ Chương, Võ Cư kháng chiến trung đoàn 95 Việt Minh sau này về với VNCH 
cả 6 người nay tất cả đều không còn tại thế- Võ tự Bé mất sau cùng 2023 tại Fremont Hoa Kỳ

-------------------------------- 




            Trong cách đặt tên của người xưa, tên mới thường nhại theo tên cũ. Tên mới là Ô Lâu, nhại theo tên cũ là châu Ô.

            Lại cũng theo học giả Thái Văn Kiểm, trong một bài viết trên tờ “Phụng Sự” của Quân Đội Cộng Hòa xuất bản khoảng năm 1957, thì đất Nam Ô, nổi tiếng nước mắm ngon ở phía nam chân đèo Hải Vân, có nghĩa là “Phía Nam châu Ô” (Nam Ô). Theo cách nhìn như vậy, châu Ô có thể từ sông Ô Lâu tới đèo Hải Vân. Người ta thường dùng đèo hay sông là những vật cản thiên nhiên để làm ranh giới. Xem ra, theo nhận xét đó, thì tỉnh Thừa Thiên nằm gọn trong lãnh địa châu Ô ngày trước.

            Phần đất còn lại, tỉnh Quảng Trị, thuộc châu Rí chớ còn gì nữa. Như vậy, châu Rí, kể từ phía bắc sông Ô Lâu tới chỗ nào thì hết địa phận?

            Xin trở lại lịch sử. Sử chép:

            “Nước Chiêm Thành hay sang quấy nhiễu, ngài (Lý Thánh Tông – tg) thân chinh đi đánh. Đánh lần đầu không thành công, đem quân trở về. Đi đến châu Cư-liên (?) nghe thấy người khen bà Nguyên phi ở nhà giám quốc, trong nước được yên trị. Thánh tông nghĩ bụng rằng: “Người đàn bà trị nước còn được như thế, mà mình đi đánh Chiêm thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm à!” Lại đem quân trở lại đánh, bắt được vua Chiêm thành là Chế Củ. Năm ấy là năm kỷ dậu (1069). Thánh tông về triều, đổi niên hiệu là Thần Vũ.

            “Chế Củ xin dâng ba châu để chuộc tội, là châu Địa lý, châu Ma Linh và châu Bố Chính. Thánh tông lấy ba châu ấy và cho Chế Củ về nước.

            “Những châu ấy nay ở địa hạt tỉnh Quảng bình và tỉnh Quảng trị.”

                                    (Việt Nam Sử Lược -Trần Trọng Kim.

     Q. 1 trang 100)

            Theo cách đặt tên như nói ở trên, tên Nam Ô và sông Ô-Lâu, thì tên Bố Chính nay còn ở trong tên huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, tên Ma Linh, còn lại trong tên phủ Vĩnh Linh, huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị.

            Nếu Gio Linh thuộc châu Ma Linh ngày trước thì châu Rí nhỏ lắm, giới hạn từ hết địa phận huyên Gio Linh, phía tả ngạn sông Hiếu Giang, con sông chảy ngang làng Điếu Ngao, làng của Leyna Nguyễn, nay là phường 2 thị xã Đông Hà, nên gọi là sông Điếu Ngao, tới sông Ô Lâu. Vậy châu Rí nằm gọn giữa hai con sông: Sông Ô Lâu ở phía nam và Hiếu giang ở phía bắc, bề ngang từ biển lên tới biên giới Việt Lào đã hẹp, hẹp nhất trong cái eo của bản đồ Việt Nam, chưa tới 50km, và bề dài, đoạn giữa hai con sông nói trên cũng chưa tới 50km.

 

            Bài viết nầy, chỉ là việc khai triển lại cuộc nói chuyện hạn chế với một số bạn cũ, gồm cả những cựu giáo sư Nguyễn Hoàng từ Việt Nam qua thăm đồng hương, trong dịp “hội ngộ học sinh liên trường Quảng Trị” tổ chức tại Houston, Texas đầu tháng 7 năm 2008 vừa rồi.

 

                        Mass cuối tháng 7-2008

                        hoànglonghải.

 

(1)        Nước non ngàn dặm ra đi,

Cái tình chi,

Mượn màu son phấn

Đền nợ Ô Ly,

Tiếc thay vì đương độ xuân thì

Số lao đao hay nợ duyên gì

Má hồng da tuyết

Cũng như liễu hoa tàn trăng khuyết

Vàng lộn theo chì

Khúc ly ca, sao còn mường tượng nghe gì

Thấy chim hồng nhạn bay đi

Tình lai láng

Hướng dương hoa quì

Dặn một lời Mân quân

Như chuyện mà như nguyện

Đặng vài phân

Vì lợi cho dân

Tình đem lại mà cân

Đắng cay muôn phần./

 

(2) Chế Chí: “Từ khi Chế Mân chết rồi, Chế Chí lên làm vua Chiêm Thành. Nhưng Chế Chí hay phản trắc, không giữ những điều giao ước trước, cho nên năm tân hợi (1311) Anh tông cùng với Huệ võ vương Trần Quốc Chân, Nhân huệ vương Trần Khánh Dư, phân binh làm ba đạo sang đánh Chiêm thành, bắt được Chế Chí đem về An-nam và phong cho người em là Chế- đà a-Bà làm vua Chiêm thành.

Chế Chí về An nam được phong  làm Hiệu thuận vương, nhưng chẳng được bao lâu thì mất ở huyện Gia lâm. Vua sai đưa hỏa táng. Từ đó về sau nước Chiêm và nước Nam thành ra có điều thù oán mãi. (trích SĐD – trang 168)

(3) Không rõ bây giờ, “dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, (và tư tưởng Mao, tư tưởng Hồ) - Cộng Sản Bắc Kinh và Cộng Sản Hà Nội có khác đi chăng. “Thế giới đại đồng” thì có đem ải Nam Quan mà dâng cho Trung Cộng cũng chẳng sao?!?!???

(4) Đóng “gần cửa Nam Quan”, không dám đóng ngay cửa Nam Quan vì sợ, bấy giờ cửa Nam Quan chưa được chính quyền Cộng Sản Hà Nội đem “biếu” cho Trung Cộng.

(5) Khi tôi còn ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, linh mục Quentin, người Úc, khuyến khích tôi đi Úc, ông sẽ giúp đỡ. Tôi gởi thư cho con tôi ở Mỹ, hỏi ý kiến. Sợ tôi đi Úc, con gái tôi nhắc lại lịch sử Úc, tổ tiên họ là những người tù Anh Quốc bị đày sang xứ sở nầy.

(6) Anh Võ Cư, nhân viên ty Công An, (anh của Võ Tử Bé và Võ Hoa, hát rất hay), ở chiến khu về, tập cho tôi hát bài hát nầy và đàn vọng cổ bằng guitar. Hồi ấy, năm 1951, tôi chưa thấy người ta đàn vọng cổ bằng đàn guitar như anh Võ Cư.

BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT- THẢM NẠN MỌI MẶT MÀ TRUMP GIEO CHO NƯỚC MỸ KHÓ BỀ HÀN GẮN

thưa bạn đọc Trước bầu cử 2024 có nhiều nhà phân tích chính trị đã cảnh báo cho nước Mỹ về những biến loạn cho Mỹ và cả thế giới nếu Tru...