Friday, May 22, 2026

PHỞ GÁNH PHỞ XE NGÀY XƯA VÀ PHỞ HÔM NAY

 Thưa bạn đọc

Nói chuyện PHỞ có thể có bạn đọc có thể cho là đề tài nhàm chán. Xưa nay chi đi đâu cũng thấy phở. Ra hải ngoại tiệm phở cũng chẳng hiếm hoi gì nhất là nơi cộng đồng bà con VN tập trung ở đông. Tại Mỹ này cũng thế, các tiểu bang ít người Việt thì lái xe rất lâu mới tìm ra tiệm phở nhưng tại các thành phố có người Việt định cư đông đúc thì tha hồ lựa chọn tiệm Phở.

Càng về sau này phở càng đa dạng phong phú hơn nhiều.

Thế nhưng tiêu đề chính trong bài này người viết không nói đến chuyện ăn phở mà nhắc lại một hình ảnh đặc biệt của Triêng Phở Gánh ngày xưa lúc tác giả còn nhỏ...một hình thức bán hàng phở mà sau này không còn nữa chỉ là dấu tích phai mờ trong dĩ vãng của một thành phố ngày xưa...



CHUYỆN PHỞ GÁNH NGÀY XỬA NGÀY XƯA...

      hình xưa: phở gánh Hà Nội và lính Pháp


      Trước khi có xe phở đẩy trên thì người thành phố Quảng Trị có hàng phở gánh bán dạo từ lâu. Nghề phở gánh chỉ dành cho mấy bác. Mấy o mấy mệ thường gánh những triêng hàng bún xáo, cháo lòng hay đậu hũ chẳng thấy mấy bác đàn ông nào gánh bún xáo, bánh bèo đi bán dạo cả. Nói về phở gánh "ngày trước của ngày xưa", người viết còn nhớ người mình hồi đó chẳng ai phân biệt phở Bắc hay phở Nam gì cả. Phở là phở, khác với bún bò, cơm cháo... vậy thôi. Nhưng về tiếng để kêu thì ít ai nói "đọi phở" mà là "tô phở" do người mình biết nó là món ăn từ bắc vào. Ngược lại bà con mình lại kêu bình dân hơn là "đọi bún bò" hay "đọi bún xáo". Tiếng kêu "tô bún bò" khi chúng ta vào tiệm hay quán đó thôi.

     Tôi lại không muốn nhắc hay tả lại tô phở trong tiệm, nó lủ khủ đủ thứ; nào rau, ớt, chanh, hành, hay ngò gai, húng quế. Người viết chỉ muốn kể lại với bạn đọc trước tiên là HÀNG PHỞ GÁNH của một bác bán phở năm xửa năm xưa lúc tác giả mới vài tuổi. Trong trí nhớ mù mờ đó, người kể chuyện mường tượng một bác dáng người lam lủ và gánh phở  ám khói ngày đó. Gánh phở đó cũng ngang qua xóm chúng tôi, cũng bờ hồ thanh vắng và con đường thân yêu tưởng chừng là muôn thuở. Có thể khách ăn đêm như thế phải hòa mình trong không khí vắng vẻ cùng một cảm giác se se lạnh ở góc đường hay cuối kiệt nào đó.

hình ảnh phở gánh miền bắc thời còn Pháp 


 Từ xửa, từ xưa... người viết kể như thế cũng không đúng chuyện phở đâu là chuyện cổ tích ngàn năm? nhưng thuật ngữ này chẳng qua để nói lên một nỗi lòng thương về những gì thực sự "đã mất" đã bị hoàn cảnh nào đó dập vùi không còn trở lại được nữa...Không biết ai tạo ra gánh phở cho bác bán dạo về đêm quanh thành phố Quảng Trị. Ngày xưa ngoại ô thành phố QT có thể bác bán phở gánh còn gọi là phở triêng nữa. Tiếng "triêng" có thể người Quảng Trị hay Huế thường nói, nơi khác chẳng hề nghe?

 Khi bầu trời thực sự tối hẳn, bác bắt đầu cuộc hành trình quanh thành cổ thân quen. Hình ảnh người viết còn nhớ, bác luôn mặc quần đùi. Có thể đời bác chẳng biết quần dài là chi nữa. Chiếc áo ka-ki bạc màu, vàng ố. Hai vai áo vá  nhiều lớp do gánh phở hằn nặng lên đôi vai bác không biết bao năm? Người kể cũng muốn nhắc lại như trên khi tả về triêng hay gánh phở xưa thì chỉ có đàn ông đi bán thôi. Còn triêng hàng gánh dành cho đàn bà thì có ban ngày triêng bún xáo, triêng cháo lòng...của các o các mệ đi bán ban ngày. Người viết phải phân biệt cho rạch ròi như vậy hầu bạn đọc có thể tưởng tượng ra cho đúng hình ảnh đó thôi.


phở gánh Nam Kỳ Chợ Lớn thời Pháp Thuộc

    Tả về gánh phở- nó được tạo từ hai thùng gỗ vuông, hình khối chữ nhật đứng, có 4 chân nhỏ. Trên mỗi thùng, bện hai sợi thừng chắc chắn để móc đòn gánh. Thùng sau được thiết kế làm sao để bác đặt gọn được nồi nước súp. Bên dưới nồi súp, có một bếp củi thật gọn, lửa cháy leo lét để giữ nồi súp luôn nóng. Thùng gỗ phía trước bác chia ra nhiều tầng, đủ thứ như tô, đũa, rau ,hành và thịt. Phía trên là một mặt bằng nhỏ , bác dành chỗ để làm phở cho khách. Thấy thì đủ thứ, nhưng bác sắp đặt thật khéo léo nên chẳng thiếu món gì. Đã thế, phía ngoài bác không quên móc theo cái đèn bão có 4 mặt kính chắn gió. Chiếc nón lá sờn rách theo năm tháng, bác không quên móc theo ở thùng gỗ sau, phòng mưa.

    "Giang sơn" của bác chỉ có thế. Cái đòn gánh cong cong quằn nặng theo hai đầu gánh phở. Bác thường tìm một ngả ba hay trước mấy con hẻm lớn, cũng như mấy con đường kiệt.

           -PH.. Ơ… Ở….

    Bác cất tiếng rao, tiếng ngân vang sâu vào trong mấy xóm vắng ngoại ô.

    Người viết có dịp so sánh khi vào nam.Trong nam, tiếng rao phở ban đêm được thế bằng tiếng gõ lóc cóc của hai thanh gỗ. Như vậy tôi có dịp so sánh với tiếng rao của gánh phở QTrị xưa nghe sao lanh lảnh, âm sau cùng khi nào cũng cao vút lên:

                 -ph…ơ…Ở……

SỬA SOẠN BÁN TÔ PHỞ GÁNH RA SAO

Ánh điện đường như biết 'cảm thông' giúp bác bán phở, đêm đêm tỏa xuống dù chỉ là thứ ánh sáng vàng vọt mờ mờ. Có khách mua phở, bác ngưng rao.  Bác xem chừng thận trọng đặt cái tô nho nhỏ lên mặt trên chiếc thùng gỗ. Sau khi nhúng lại nắm phở tươi mềm mại, bác cắt nhanh thật mỏng từng lát thịt bò, không quên gia thêm một chút vị tinh (bột ngọt) hiệu Thái sơn từ cái hộp sắt Tây luôn đặt gần bên.  Xong, bác quay lưng dở nắp nồi xúp đàng sau. Dưới ánh đèn đêm tôi thấy rõ nồi xúp đang bốc hơi, lan tỏa lên một làn khói trắng mờ.



về đêm ăn một tô phở bên đường bao giờ cũng ngon

     Chẳng đòi hỏi chi, khách cứ tự nhiên tìm nơi nào thuận tiện bên vệ đường rồi ngồi xuống xì- xụp thưởng thức tô phở bình dân đó.
Trời càng khuya con đường ngoại ô càng trở nên vắng vẻ.  Hình như nhờ thế, khách ăn đêm cảm thấy tô phở ngon hơn và ấm áp lạ thường. Do chỉ là phở gánh, vì vậy phần đông khách mua hay đem tô (đọi) mang về nhà. 

Sau khi đẩy lại mấy que củi, rảnh tay, bác lại cất tiếng rao mà giọng nghe không thay đổi

            -PH...Ở!!!….

    Có thêm khách rồi đây, ai đó trong xóm đang tất tả cầm tô chạy ra  vừa lúc bác đang sửa soạn gánh đi nơi khác.

    Thời gian tiếp tục trôi qua
lặng lẽ . Chiếc đòn gánh cong cong, đen trùi trũi mãi kẻo kẹt trên vai bác. Tuy vậy, với cuộc đời cần cù chịu khó bác vẫn kiên trì đếm bước theo gánh phở thân yêu và là nguồn sống bao lâu nay của gia đình bác.

PHỞ   XE

 



    Trời khá khuya, tiếng chơi đùa của lũ con nít ngoài ngả ba xóm Cửa Hậu trước thành vắng dần. Vài anh học sinh lứa tuổi thanh niên đang ngồi trên bờ cống nước chảy vào hồ thành. Ánh sáng ngọn đèn đường đang giúp mấy anh đang ôn bài học luyện thi. Nghe thật xa, đâu đó thỉnh thoảng có vài tiếng đại bác vọng về thành phố.

    Hơn mười giờ đêm rồi, con đường Lê văn Duyệt nép theo bờ hồ càng lúc càng vắng người. Rất lâu mới có tiếng honda chạy vội qua. Thỉnh thoảng có tiếng chim cuốc dưới hồ vọng lên nghe khá rõ. Tiếng quốc kêu đêm, tôi nghe đã quen tai, nhất là những đêm có trăng, tiếng cuốc kêu rộn rã hơn. 

Bỗng có tiếng rao phá tan trời đêm tĩnh lặng...

     -PHỞ!!!


    Khoảng giờ này là xe phở của bác đi ngang qua ngả ba trước Cửa Hậu. Có ai đó đang cầm tô tất tả chạy ra. Đêm nào cũng vậy, dù có khách hay không chiếc xe phở đi ngang ngả ba xóm chúng tôi thì dừng lại. Bác bán phở vừa đợi khách vừa nghỉ mệt một lát.

    Đời người ai cũng có lúc thay đổi, triêng hàng phở cũng thế. Những năm sau này phở gánh dần dần biến mất không còn thấy nữa.

hình minh họa xe phở 

Có thể cũng là bác bán phở gánh năm trước nhưng nay bác đã có được chiếc xe phở đàng hoàng. Chiếc Xe hình khối, phía dưới có những bánh xe tự chế . Ngọn đèn  giờ đã được thay bằng ngọn đèn đốt bằng khí đá hẳn hoi. Hai bên thành xe bác còn cẩn thận móc thêm hai cái ghế đòn bằng gỗ có chân cao cho khách ngồi. Giờ đây nồi xúp được làm lớn hơn, chồng tô trên thành xe trở nên cao hơn. Khách ăn đêm ngồi ăn phở vừa nghe tiếng lì- xì phát ra từ ngọn đèn carbur đó. Dù sau này xe phở có trang bị bằng đèn măng sông, tôi vẫn thích ngọn đèn các- buya hơn tiếng đèn các-buya nghe thật vui tai.  Dạo này tiếng rao nghe to lắm. Người bán phở, hai tay chắp đằng sau hướng mặt vào trong mấy đường kiệt:

      -Ph..ở…ơ..

    Có ngọn gió nào trong đêm làm trời khuya lạnh thêm  Trong sự yên tĩnh của góc ngoại ô quanh thành cổ, tôi vẫn còn nghe tiếng con chim quốc hằng đêm từ bờ hồ bên kia kêu bầy vọng qua. Hương phở dịu dàng tỏa ra bốn phía. Mùi thơm lan xa, quyến rũ khứu giác khiến ai cũng thèm ăn. Một ông khách đi đâu trên phố về khuya, ngang xe phở ông chợt dừng lại. Dựng chiếc xe đạp qua một bên đường,
ông sà vào cái  "quán khuya" lưu động đó ăn một tô cho "ấm bụng" trước khi về nhà.

     Tiếp tục trên đường về nhà, chiếc xe được đẩy đến đầu con hẻm hay ngã ba đường cho đến khi nồi phở của bác không còn gì nữa. Nói thế, nhưng mớ xương xúp sau cùng, bác cũng bán được cho một vài người khách nào đó đang cần "men rượu" hay nhậu trong đêm. Mớ xương hầm cuối cùng cũng giúp cho bác bán phở kiếm thêm được chút tiền cùng 
chấm dứt một ngày miệt mài mệt nhọc. 

Không ai để ý người bán phở đẩy chiếc xe lăn bánh trở về do trời đã thật khuya, ngoại trừ tiếng những con chim quốc dưới hồ Thành Cổ vẫn kêu mãi trong đêm trường tĩnh mịch. Tiếng bốn chiếc bánh nhỏ lăn còng cọc nghe nhỏ dần. Hình ảnh ngọn đèn cháy bằng khí car-bur đang cạn hơi cháy leo lét treo bên chiếc xe phở cũng xa dần, khuất hẳn tận ngã ba Góc Bầu. Từ ngã ba đó, chiếc xe phở sẽ theo con đường Duy Tân về Cửa Tả, đó là con đường về nhà của bác. Phở Ông Vọi, bác sống bên con đường hướng về Quy Thiện...tuổi cao sức yếu, chiếc xe phở đặt trước hiên nhà làm cái quán cố định do bác không còn sức đẩy xe đi hàng đêm như vậy nữa?!


PHỞ HÔM NAY RA SAO?

tiếng Phở đã được đăng vào tu từ hàng năm trong cuốn Tự Điển Oxford 

Trước đây và hiện nay phở cũng hân hạnh sánh vai với các món ăn thịnh hành cùng phổ thông tại Hoa kỳ hay các nước Âu tây khác.



tác giả ĐHL từng đi làm nghề bưng phở từ 1995 tới 1997 tại Milpitas California (hình trên)
































sau năm 1975 khi người Việt tỵ nạn hay không tỵ nạn ra nước ngoài đông dần, người ta thấy các tiệm

 phở đều có mặt 

tại các thành phố 

đông người Việt nhất là tại 

Hoa kỳ, Úc, Âu 

châu .. người 

ngoại quốc họ 

bắt đầu ghiền ăn PHỞ.

Có khách Mỹ hay Âu châu đa số đều cho biết họ có cảm giác ăn 

xong tô phở là thấy khỏe và khoan khoái trong

 người! 

phở 54 nổi tiếng tại nam California

Nếu nói Ẩm Thưc cũng là loại hình văn hóa nằm trong "Văn hóa ẩm thực" thì dân tộc nào khi ra nước ngoài cũng mang theo hình ảnh quê hương trong tiềm thức. Thứ nhìn thấy cụ thể đó là món ăn. Hiện nay nếu khách du lịch về Little Saigon tại nam California thì càng tha hồ lựa chọn món ăn đặc biệt nhất là món PHỞ. Tại bắc California nhất là thành phố San Jose, khách tha hồ lựa chọn tiệm phở. Các thành phố lân cận như Fremont, Mountain View, Santa Clara đều có tiệm phở VN thi nhau mọc lên để đáp ứng nhu cầu ăn phở cho giới thực khách nhất là vùng Silicon Valley cái "nôi điện tử" khách ăn là giới có tiền lương cao nhất nhì nước Mỹ! 


MC Việt Thảo đang giới thiệu cho tiệm Phở 90 tại khu Saigon Town TP San Jose


 Xét cho cùng, nhiều hương vị ngon lành, cám dỗ từ những thứ thức ăn đặc sản đó là những loại hình văn hóa ẩm thực đậm nét nhất, là sắc thái cụ thể cho chúng ta dễ dàng phân biệt sự khác nhau trong món ăn của từng dân tộc.

Lên đến San Francisco theo AI thì có tới 200 tiệm phở tại thành phố to lớn đó. Nhưng có thể hương vị Phở tại SFO có thể du di pha trộn cho hợp khẩu vị người Mỹ và người Trung hoa ...nhiều hơn. Khác với các nơi đông người VN như San Jose hay Garden Grove, Westminster hay Huston mùi vị phở không khác gì Sài Gòn, Hà nội. Tại các thành phố đông người nhưng ít người Việt, tìm tiệm phở đã khó nhưng hương vị và phụ phẩm ăn phở có thể khác đi./.



Tiệm phở 2000 tại San Francisco





Đinh trọng Phúc 
tái edit 22/5/2026

CHUYỆN NGÀY QUA- KỶ NIỆM VỚI HAI LINH MỤC NGUYỄN ĐÌNH CẨM và NGUYỄN VÂN NAM (GIÁO XỨ TIN MỪNG ĐỘNG ĐỀN và GIO LINH Xã SƠN MỸ BÌNH THUẬN )

 


 

Giáo xứ Gio Linh sau lưng là biển Hàm Tân,
 trước là con đường tỉnh lộ 55 đi lên Bình Châu
 Bà tô và Bà Rịa 


Chào bạn đọc

Hôm nay tình cờ bắt gặp trang Giáo Phận Phan Thiết

 khi nói về hai giáo xứ Gio Linh  và Tin Mừng của Hàm 

Tân Bình Thuận người viết chợt nhớ về hai vị linh mục 

mà người viết sau ngày đi tù cải tạo về có dịp gặp trong 

hai trường hợp đáng nhớ trong đời. Câu chuyện nhằm kể 

cho các bạn nghe chơi thôi chứ người kể chẳng hề có ý gì

 khác. Chuyện này giờ đây tôi mới kể nhưng hai vị linh mục

 này cũng đã trở về với Chúa khá lâu rồi.


Cuối tháng 6/ 1980 tôi ra tù về

 với gia đình về tại xứ Động Đền Hàm Tân hay

 Cam Bình 

thôn còn gọi là Thôn 6 Tân Thiện trước đây còn có tên

 là xã Tân Mỹ. (sau này 2 xã này lại bị xóa tên, có tên 

mới là Tân Phước)


Ngày về còn độc thân nhưng chẳng "vui tính" do hoàn cảnh. Hàng ngày tôi lo vác cuốc lên cái rẫy có cái tên rất lạ là "

Chồm Chồm"? Tên sao thì nhớ vậy, bà con trong thôn, ngay cả người viết không ai tìm hiểu căn do là sao nữa. 

Cái rẫy cát càng lúc càng bị "đào lên bới xuống", hoa lợi chẳng bao nhiêu do đất càng lúc càng bạc màu. 


Người kể nhớ thời gian về lại với gia đình vào năm 1980, 

trong thôn đã có "phong trào" canh tác bằng cách đánh vồng

 đất lên cho vấn đề trồng trọt, mọi thứ bất kể loại gì. 


Thứ đất pha cát, đánh vồng lên vừa tốn công, mưa xuống 

lại càng trôi nhanh những thứ gì còn trong đất, thế càng làm 

đất càng lúc càng xấu? Hoa màu càng lúc càng tệ, đất đai 

càng xấu thậm chí cây tranh thứ dùng để lợp nhà cũng chẳng cao hơn "đầu gối". 


Thật khổ, đó là lý do người viết độc thân mà chưa 
"vui tính" nổi.

 

Tù Cải Tạo về, hàng tháng phải đi trình diện Công An xã. 

Cũng giống xã Tân Sơn, xã ở trên cao, nơi người Gio Linh

 ở rất đông, những ai tù "cải tạo" về đều đi trình diện CA 

hàng tháng để báo cáo mình về "làm gì" trong tháng qua. 


Nhớ hình ảnh khá bận bịu và lo lắng nhưng anh em cùng

 hoàn cảnh gặp nhau cũng vui. Về tới xã, lố nhố người ngồi

 thấp thỏm đợi chờ mong công an xã kiểm tra hay phê bình 

cùng 'lên lớp' vài thứ gì đó để ra về. Dù sao những người tù 

về ai nấy đều cầm chắc trong tay là mất một ngày lao động

 hàng tháng do đi 'trình diện báo cáo' nói trên.


Cho đến 4 năm sau, khoảng cuối năm 1984 chính xác là 

ngày 10/12/1084 một đêm người dân trong thôn người 

viết có lệnh qui tụ trước cái sân của Trường Cam Phú, 

một ngôi trường tiểu học cấp 1 trong thôn.

 Ngôi trường bị trận lũ tràn trước năm 1980 làm cát 

chôn vùi gần hết. Cát chôn trường dày lên một lớp 

tTrở về cái sân trường Cam Phú đêm đó...người dân ai nấy đêm đó tới rất đông. Có chuyện gì? rõ ràng là đêm quan trọng?


Có một cái bàn đặt ở giữa sân cát. Ngồi đó là số Công An xã Tân Thiện cùng một hai người cán bộ đội đoàn. 

Sau một hồi giới thiệu gì đó họ mới trịnh trọng đọc quyết định ...


rất may người viết vừa lục ra tờ Trả Quyền Công Dân ký ngày 10/12/1984

        








    TRẢ QUYỀN CÔNG DÂN!

Thì ra là vậy. 

Có thể bạn đọc giờ đây có thể quên hay chưa cảm nhận

 được tâm trạng xúc động của người "trong cuộc" vào năm đó.

Ra tù là niềm vui lớn thứ nhất, ra về ở địa phương người "tù cải tạo" còn bị "quản chế" một thời gian nữa.

 Lâu mau tùy mức "phấn đấu" và hoàn cảnh nơi đó.  Rồi mấy năm sau khi được "TRẢ QUYỀN CÔNG DÂN" là niềm vui lớn

 thứ hai. Thứ quyền này chúng tôi mới có quyền đi lại nơi xa 

hơn địa chỉ từng bị "quản chế". Ý nghĩa vậy thôi, chứ quyền lợi khác chẳng hề có cho những ai từng phục vụ cho VNCH và 

nhất là đã đi "tù cải tạo"...


ĐÊM TRẢ QUYỀN CÔNG DÂN, TÔI CHẲNG HỀ BIẾT TRƯỚC


Thật vậy thưa bạn đọc, Đó là một đêm thật bất ngờ cho tôi. Sau cái tên thứ nhất Nguyễn Đình Cẩm lại đến tên tôi Đinh trọng Phúc. Sau bốn năm ra tù,  Linh Mục  Nguyễn đình Cẩm và người viết mới được trả "Quyền Công Dân" ! Cha Cẩm người viết được biết sau này. Hôm đó đối với tôi đó là một người tầm thước, dáng nho nhã, bình lặng. Người bận bộ đồ vải thường màu đen. Trí nhớ tôi chỉ nhớ hình ảnh đó.  


Bà con ngồi dưới lắng nghe nhưng chẳng nghe tiếng nói năng râm ran nào cả? Môt trật tự qui định rồi. Một sắc thái chính trị bao trùm dù không nói nhưng mọi người đều giữ yên 'cái vị trí người dân' để mọi người có hai chữ bình yên. Không ai vỗ tay, không lời bàn tán. Cha Cẩm về lại địa phương, tôi cũng thế hai năm này bà con đều thấy. Chỉ có tôi do là Phật Giáo nên không vào nhà thờ Cha lần nào. Nhưng mỗi khi gánh khoai theo mẹ về bán dưới phố LAGi tôi có liếc mắt nhìn vào. Năm đó Cha chưa về, một nhà thờ sơ sài, u tịch, vắng lặng như thu mình không muốn cho hay trong tỉnh lặng mà thôi. 



GIÁO XỨ Tin Mừng - ĐỘNG ĐỀN CAM BÌNH HÀM TÂN BỐN MƯƠI NĂM SAU 


giáo xứ Tin Mừng sau này thuộc xã Tân Phước vùng Động Đền trước đây nay đã chỉnh trang mới và lớn hơn xưa



Theo trang Giaophanphanthiet.blog.com


Sau cuộc chiến tranh mùa Hè đỏ lửa 1972 ở miền Trung, giáo dân thuộc các Giáo xứ ở quận Cam Lộ, Gio Linh, tỉnh Quảng Trị dìu dắt nhau xuôi vào miền Nam đi tìm miền đất bình yên và định cư tại vùng Động Đền, quận Hàm Tân, Bình Tuy. Thêm vào đó, một số giáo dân Cam Bình ở Bình Long cũng tới định cư tại đây. Giáo xứ Tin Mừng được chính thức khai sinh vào ngày 22/12/1973 do Đức cha FX. Nguyễn Văn Thuận, Giám mục Giáo phận Nha Trang. Số giáo dân lúc ấy khoảng hơn 1600 người dưới sự chăn dắt của Cha Đaminh-Cẩm Nguyễn Đình Cẩm, cũng là Cha Quản xứ tiên khởi. Nhà thờ và nhà xứ được xây dựng bằng những vật liệu thô sơ.

          Sau năm 1975, một số đông giáo dân vì sinh kế đã rời Giáo xứ đi kinh tế mới hoặc tới định cư ở vùng Cẩm Mỹ, Cẩm Đường, tỉnh Đồng Nai. Số giáo dân còn lại tại Giáo xứ khoảng 800 người. Thế nhưng, lại có một số giáo dân từ các Giáo xứ Xéo Cát, Lăng Cô (Huế) và Thanh Bồ Đức Lợi, (Đà Nẵng) đến định cư lập nghiệp tại đây và góp phần vào sự phong phú của Giáo xứ. Giáo dân lúc này lên đến khoảng 1200 người.

          Từ năm 1976-1981, Cha Đaminh-Cẩm vắng mặt tại Giáo xứ một thời gian (đi tù). Trong thời gian này, Giáo xứ được Cha FX. Nguyễn Vân Nam, Chánh xứ Gio Linh tới giúp đỡ trong các ngày lễ trọng và lễ Chúa nhật hằng tuần. Mãi đến năm 1981, Cha Đaminh-Cẩm được trở về lại Giáo xứ. Có lẽ những năm tháng lao tù đã tôi luyện cha trở nên can đảm và dũng khí. Mặc dầu phải đối mặt với những áp lực của xã hội, những khó khăn về kinh tế trong bối cảnh rối ren của đất nước, nhưng ngài đã xây dựng và hoàn tất được phần cung thánh, củng cố đời sống giáo dân và gieo mầm ơn gọi. Sau 21 năm chăn dắt Giáo xứ, đến ngày 11/6/1994, ngài được bổ nhiệm đi làm Cha Quản xứ Bình An 

(TRÍCH nguồn Lược Sử Giáo Xứ Tin Mừng | Giáo Phận Phan Thiết )

(hết trích)


....


Như phần trích trên từ năm 1976 đến 1981 cha Cẩm bị đi tù "cải tạo" cho đến năm 1981 cha mới về lại Động Đền. Người viết về năm 1980 rồi hai người cùng được trả "Quyền Công Dân" cùng một lượt vào đêm cuối tháng 12 năm 1984 như vừa nói đoạn trên.


Cha Cẩm ở Động Đền hay về lại đây thì Giáo xứ Tin Mừng bắt đầu hoạt động trở lại. Trước đây im lìm lắm (do cha đi tù) còn Cha Nguyễn vân Nam bận Giáo xứ Gio Linh trên kia lâu lâu cha ấy mới về giúp phụ cho Giáo xứ. Sau năm đó người viết thoáng thấy Cha Cẩm ít lần. Người hay đội cái mũ phớt, cũng bộ đồ đen, đi thăm bà con xóm làng một ít. Có lần Cha có tới xóm nhạc phụ tôi. Ruộng nhạc phụ tôi hay bà con đội 6 thôn 6 sát mé với nhà thờ Tin Mừng nên Cha Cẩm quen nhiều người làm ruộng và giáo dân ở quanh thôn 6 là chuyện dễ hiểu. 

Sau này Cha Cẩm ra dưỡng hưu tại Giáo Phận Phan Thiết cho đến lúc mãn phần.


NGƯỜI VIẾT LÚC Ở XÃ SƠN MỸ TỪ 1984-1995 CÓ KỶ NIỆM SÂU ĐẬM VỚI CHA NGUYỄN VÂN NAM DO SAO?



Đầu năm 1983 tôi lập gia đình. Đúng 30 tuổi đời hai vợ chồng cũng là đồng môn và tơ duyên nên vợ chồng cũng là ông tơ bà nguyệt chọn trước để về cùng một nơi. Một chuyện quý bạn chưa hề biết là hai vợ chồng này cũng sinh một nơi là O Hóa, thôn Đệ tứ QT ngày xưa...

Lấy nhau rõ ràng, tôi là đứa nghèo. Theo vợ cô giáo vùng quê Sơn Mỹ, có con trai đầu lòng lên tạm trú trường Sơn Mỹ như hình trên. Mái trường Sơn Mỹ là nơi gia đình người viết che mưa đụt nắng cho đến lúc có đủ năm con mới rời quê hương đất khổ đi định cư nước Mỹ.


ĐIẾC KHÔNG SỢ SÚNG...CUỘC GẶP GỠ NGẪU NHIÊN VỚI CHA NGUYỄN VÂN NAM


trường cấp 1 này vợ tôi dạy lớp 3, từ trường này đi băng qua nhà thờ của Giáo Xứ Gio Linh rất gần

                    tác giả năm 1985 tại xã Sơn Mỹ bên cạnh là mái trường tranh rách nát sau lưng là mái trường tôn hình trên hết






Sau khi sinh con trai đầu lòng, hết tết 1984 vợ chồng người viết lên tạm trú trường trên (hình). Vợ thì dạy học vừa nuôi con cũng tại ngôi trường nói trên. Mái trường tôn, vách xi măng từ thời Khẩn Hoang Lập Ấp di dân vào Bình Tuy nă 1973 bị sụp đổ gần một phòng. Trong hình bạn đọc sẽ thấy khoảng sáng trắng sau khung cửa sổ; nơi đó vợ chồng tôi sẽ tráp bằng phên lá cùng sửa lại thêm để làm phòng ở cho gia đình ban đầu và còn thêm hai giáo viên tạm trú nữa. Vừa làm bếp vừa ở, nước non rất hạn chế do giếng khô mạch nước...giờ kể lại chúng tôi không biết tại sao mình lại sống nổi như thế?

Như đã viết trên sao tôi đề "ĐIẾC KHÔNG SỢ SÚNG" ý nghĩa ra sao? 

Lập gia đình trong hoàn cảnh hai bàn tay trắng. Hai năm đầu lên đó với vợ cùng đứa con trai con ngo ngoe trong chiếc nôi, vài con gà do mẹ gia cho làm vốn tôi hàng ngày thiết tha hay nói cho thật ra là thèm muốn bất cứ miếng đất nào dù xấu hay tốt để làm ra củ sắn củ khoai hầu sống qua ngày. Thế là bao nhiêu đất quanh trường tôi được phép cho canh tác hết. Đây là nhà trường cho phép, tôi vừa trú ngụ ở và giữ trường, được canh tác lấy lợi tức là ân huệ rồi. Chuyện 'mộng mơ' có vị trí một 'chức phu trường' thì hoàn toàn không có do tôi là người vừa ra tù 'cải tạo' và người hiệu trưởng có cảm tình chi, thì trên huyện cũng chẳng hề có "tiêu chuẩn" nào cho phép về chuyện lập thêm cái việc "phu trường" cả!?


Tiếp tục như thế và hình như tôi an phận mình từ đó lại rất hăng hái với cái cuốc trong tay.  Mới ba mươi tuổi hơn, tôi rất khỏe, hơn nữa lười biếng lấy chi ăn ai nuôi mình và con đây? Vợ đi dạy trường quê lương vài chục bạc Bắc, mười ba ký gạo làm sao sống qua ngày? Cha mẹ hai bên đều nghèo?


 Đất trường xung quanh ngày đó là 'của tôi' rồi. Nói như tiếng quê mình phải gắng mà "bươi móc" mà ăn. Tiếp tục, tôi lại dòm ngó những bờ đất nào xung quanh, nơi nào cỏ hoang mọc tốt tôi không quản sức tém cỏ lại lên vồng trồng khoai 'tuốt luốt'. Người viết dùng chữ "tuốt luốt" là thưa thật với bạn đọc. Đứa nông dân như kẻ này, bất cứ đất nào thấy cỏ tốt là "phang" cho đến một ngày...


Bờ đất bên đường không xa Nhà Thờ Gio Linh mấy, nhưng cỏ mọc rất tốt. Từ miếng đất trường của vc tôi nhảy qua con mương lỡ là đến thôi. Tiện lợi quá kẻ này liền tấp cỏ lại, nhằm lên vồng trồng khoai.

Đang lui hui tém đất, tôi bỗng giật mình...một người tầm thước dáng đi chắc nịt đang bước tới gần tôi đi sau là một anh tuổi na ná với tôi.

Người lạ đó nói lớn: 

        -Ai cho anh cuốc đất ở đây? đất này là đất của Cha bộ anh không biết hả?

Giọng ông nói khá lớn vẻ tức giận. 

Tôi quá bất ngờ, do cứ đinh ninh là đất vô chủ và trả lời lí nhí...

        - Đất này là đất...hoang mà?

            -Đất này là đất của CHA, hỏi anh đội trưởng này xem? 


Thì ra anh đi theo đó là anh đội trưởng sản xuất trong thôn 4 của xã Sơn Mỹ!


Anh đội trưởng, tới giọng anh chỉ nho nhỏ với tôi. Dù sao con anh cũng là học trò của vợ tôi. Trong thôn ai cũng biết mặt tôi, "chồng Cô Huệ, chồng cô Huệ..." như mấy đứa học trò từ trong nhà hay la to mỗi khi tôi vào rừng đốn củi, đi ngang nhà chúng.

Hoàn cảnh anh đội trưởng nửa thì nể Cha nửa nể người chồng cô giáo...

        - Đất ni là đất của CHA eng nờ, khôn phải đất hoang mô eng?..

Tôi nghe vậy cụt hứng, cũng lí nhí nói vài lời chi đó với CHA  rồi vác cuốc nhảy qua lại con mương đất lở, đi về.

Sau lưng tôi có tiếng CHA đi trở về nhà thờ nói gì với người đội trưởng...tôi chẳng còn nghe. Mà nghe làm chi nữa? cái tội của tôi "to đùng' khi không đất của CHA lại dám vác cuốc qua "phang"?!


MỘT CUỘC GẶP GỠ BẤT NGỜ VỚI CHA NGUYỄN VÂN NAM


Trời hơi xế, vừa ăn trưa vừa kể câu chuyện đáng tự thẹn cho vợ nghe thì có tiếng ai trước phòng. Có một người vừa tới trước phòng trường và nói cho hai vợ chồng tôi rằng:


CHA NAM MUỐN GẶP TÔI BÊN NHÀ THỜ?!


Người kể khá bất ngờ và lúng túng, không biết chuyện chi đây lành hay dữ?

Bà xã tôi trấn an:

                 -Eng cứ qua bên cha đi, khôn răng mô! người bên nhà thờ cả chị Xuân em đều quen hết mà!

Thôi cứ đi thử xem?! 

Thật vậy, tôi chẳng hề ngờ người ra la rầy mình đó là CHA giáo xứ, rồi mấy giờ sau lại đòi "gặp" mình sao mà không lo được? Hơn nữa cả đời tôi chưa hề tới nhà thờ lần nào. Dưới kia, Động Đền chỉ có hai người Cha Cẩm và Tôi hai người một hoàn cảnh là được "trả quyền công dân" cùng một lần thế mà kẻ này chưa hề vào nhà thờ Tin Mừng thăm Cha Cẩm lần nào? Giờ đây lại được cha Nam gọi gặp?



cái sân ngày xưa nay có khác đi và cái nhà dưới của Nhà Thờ Gio Linh có xây thêm 1 tầng khác xưa

Nhà thờ của Cha Nam xem chừng ở phía đất thấp hơn phía đất của Chợ Sơn Mỹ, ngoài con đường đất đỏ có xe chạy. 

Đứng trước căn nhà dưới (hình trên) tôi đợi người đó vô báo cho Cha Nam hay tôi đã qua. 

Hình như Cha Nam đang nghỉ trưa. Khuôn mặt ông giờ đây khác hẳn ban sáng. Cha đon đả bảo tôi cứ ngồi xuống, ngồi xuống ...nói chuyện.

Cha lấy đâu ra dĩa kẹo bánh gì đó tôi đã quên. Hai ngươi ngồi bệt trước cái hiên nhà (hình trên) nói chuyện. Thì ra CHA hỏi giáo dân Gio Linh và CHA biết "lý lịch" của tôi. Có thể anh đội trưởng trong phần trên nói lại với CHA.

Giọng Cha Nam xem chừng ôn tồn và gần gũi hơn. Cha hỏi tôi ở tù đâu? cha mẹ ở đâu hiện tại. Cha cho tôi biết cha có làm Hiệu Trưởng trường tư thục Thanh Linh dưới Động Đền trước 1975...

Cha còn nhớ nhạc phụ tôi có đứa con gái, Trần thị Bạch Yến học sinh xuất sắc nhất của trường Thanh Linh hồi đó. Một thời VNCH vẫn còn và tôi là người Sĩ Quan QLVNCH chứ đâu "tội nghiệp" như bấy giờ...


Nói sao hết cảm tình nảy sinh giữa hai người sau khi hiểu hoàn cảnh nhau. Lòng Cha Nam lại bồi hồi khi nghe tôi kể chuyện cùng được "trả quyền công dân" với Cha Lê Đình Cẩm dưới xã Tân Thiện.


Chợt Cha Nam, như nhớ ra điều chi?

            - Ôi Cha quên cha quên...nói, cái mẫu đào lộn hột của cha ngoài nớ là của Cha, anh cứ trồng khoai đi, trồng hết càng tốt. Cha cũng có lợi mà anh cũng có lợi mà!


Chỉ có thế, người viết ríu rít cám ơn Cha Nam. Nhớ đúng vào hoàn cảnh ngày đó, được đất trồng khoai thì sướng biết chừng nào cho người tù cải tạo mới về. 


Đường qua Nhà Thờ Gio Linh có hàng cây Anh Đào hoa nở trắng phau. Vợ chồng người viết khá thích. Qua lại với Cha Nam vài lần người viết còn qua xin CHA vài cành hoa Anh Đào để về dăm trồng. Một thời gian mấy cành hoa anh đào của Cha Nam bắt đầu nở trước mái trường nhà tôi đang tạm trú. Ngày tết, đứng ru đứa con gái đầu lòng nhìn hoa anh đào nở tự nhiên tôi cảm tác một vài câu thơ ngắn ngủi. Thú thật tôi không có khiếu thơ, nhưng mấy câu thơ sau là thật vào hồi đó may sao người kể chuyện còn tìm ra được:



 Bâng khuâng liễu rũ bên thềm


Rán tây hiu hắt tiễn chiều xuân qua

Lao xao một nhánh anh đào

Chim nào chưa hót cho mùa xuân tươi

Nao nao lòng bỗng lạnh lùng

Tiếc xuân sao lại hững hờ với xuân .



xã Sơn Mỹ Hàm Tân Tết Canh Ngọ 1990 (2/2/1990)[Be BI 5 tuoi/ 5th laman's birthday without any cake]


ngày tết dưới mái thảo trang /nhớ về những nhánh hoa anh đào của linh mục Nguyễn vân Nam chăn dắt giáo xứ xã Sơn Mỹ ,tôi đã đem về trồng quanh ngôi trường cũ này
Đinh trọng Phúc

**


...Không biết Cha Nam và người kể chuyện này còn nói chi nữa không? Nhưng câu chuyện ngày xưa của một ký ức không quên trên miền đất khổ là những kỷ niệm không bao giờ chúng tôi quên cả.


Thời gian vùn vụt trôi nhanh. Những hoàn cảnh cuộc đời khiến những lần gặp nhau tội và thương như thế cũng phải chia ly. Nhà tôi thì đi Mỹ còn Cha Cẩm thì tuổi già sức yếu ra an dưỡng tại Giáo Phận Phan Thiết cùng qua đời tại đó. Về Cha Nguyễn vân Nam, người viết được biết sau này Cha được thuyên chuyển lên xã Tân Thắng, sau đó hình như ra trung và cũng mãn phần về với Nhan Thánh Chúa lâu rồi.


Chuyện ngày qua, có những kỷ niệm không phải buồn quá hay vui quá mà là những kỷ niệm cho chúng ta thương cảm về một quá khứ tràn đầy hoài niệm cho những người quen kẻ biết nay đà khuất mặt./.


Đinh trọng Phúc

Nhớ về Hàm Tân và hai vị Linh Mục Nguyễn đình Cẩm và Nguyễn vân Nam 


8/12/2025 San Jose USA

BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT- THẢM NẠN MỌI MẶT MÀ TRUMP GIEO CHO NƯỚC MỸ KHÓ BỀ HÀN GẮN

Trước bầu cử 2024 có nhiều nhà phân tích chính trị đã cảnh báo cho nước Mỹ về những biến loạn cho Mỹ và cả thế giới nếu Trump tái đắc cử từ ...