Tuesday, December 3, 2024

NGƯỜI TÙ BINH THĂM CHÙA SẮC TỨ


NGÀY 21 THÁNG 5, 1975 TÙ BINH TỪ BA LÒNG VỀ THÀNH LẬP TRẠI TÙ CẢI TẠO CÓ TÊN LÀ ĐOÀN 74 (trong hình lục giác có đánh số 1-2-3-4-5)



Lời mở đầu:
Tuyến phòng thủ sông Mỹ Chánh bị vỡ và tôi cùng 16 người khác của TĐ 105 ĐPQ Tỉnh QT bị bắt làm tù binh trưa ngày 23/3/1975 và ngày 24/3/1975 đã bị đưa ra Đông Hà thuộc miền CS miền bắc lúc Huế chưa thất thủ. Sau đó đoàn tù binh chúng tôi bị đưa lên Ba Lòng cho đến lúc SG sụp đổ 30/4/1975.
Cho đến Ngày 21/5/1975 đoàn tù binh chúng tôi từ Ba Lòng được đưa ngược về lại Ái Tử để thành lập 5 trại TÙ  CÓ TÊN LÀ ĐOÀN 74 do quân đội CSVN quản lý.(hình trên có dấu số màu đỏ trong hình Lục Giác)

Tiếp tục xây trại, một ngày nhờ được phân công đi lấy kẽm gai tại căn cứ Ái Tử cũ, người viết mới có dịp ghé vào Chùa Sắc Tứ thăm lại các Thầy và mấy chú ra sao?
Khi thấy đoàn tù thấp thoáng bới móc ngoài căn cứ Ái Tử cũ, có ai đó thấy tôi và có người nhắn tin vào gia đình ba mẹ tôi đang ở Mỹ Tho cho tin tức là tôi 'CÒN SỐNG"...Thế là nhà tôi ở Mỹ Tho 'DẸP BÀN THỜ ' của tôi xuống? không còn thờ nữa.( Trước đó vài tháng thì nghe ai trong đơn vị tôi chạy vào thấu trong nam và đoan quyết  tin tôi bị chết ở  Lương Mai- Phong Điền ngày 23/3/1975 nên ba mẹ tôi đều đặt tôi lên bàn thờ tại Mỹ Tho)

Thời gian nấn ná đi lấy kẽm gai tôi lén chùa, lúc đó cảnh chùa rất hoang tàn đổ nát. Cũng nhờ dịp này người kể  mới có dịp gặp lại thầy Thích Ân Cần và cả Thầy TỈnh giáo Hội là Thích Chánh Trực đang cùng trú trì tại Tổ Đình.
Các chú  ngang tuổi tôi xưa không còn gặp, chỉ có các chú nhỏ tuổi hơn có thể từ mấy làng mới vào tu sau tháng 4/1975 mà thôi.

ĐHL

***

                    tượng phật  Bà và hồ sen mặt trước chùa 1967-68 




NHỚ VỀ CHÙA SẮC TỨ
HỒI KÝ

CHÙA SẮC TỨ CUỐI NĂM 1975

    Những ngày tàn cuộc chiến, hoàn cảnh đẩy đưa tôi về lại thăm chùa Sắc Tứ. Một ngày khoảng cuối năm 1975 khi tôi được phân công đi lấy kẽm gai về xây dựng trại tù gần thôn Xuân Khê một thôn nằm về hướng núi cách chùa khoảng vài ba cây số.

    Quang cảnh đìu hiu của chùa Sắc Tứ lúc người dân chưa hồi cư về mấy làng quanh vùng Ái Tử chợt làm lòng tôi se lại. Mái tượng Quán Thế Âm đổ nát và hồ sen xơ xác trước chùa hoà trong không gian vắng lặng làm tôi có một cảm giác bơ vơ, xa lạ như đang ở chốn không người. 

   Mặt tiền của chùa trước vụ 1972 đang xây nay trước mắt tôi cũng tiêu điều đổ nát. Sau hậu liêu của chùa cũng còn vững làm chỗ tá túc cho những người ở lại. Tượng Phật chánh điện cũng không còn, đang tạm thay bằng tượng PHẬT đứng bằng đồng nho nhỏ. Hồi trước 1972 xây chưa xong thì biến cố 72 phải chạy để lại chùa hứng chịu cảnh pháo kích bom bay đạn lạc . Cho đến hôm nay cảnh thầy trò trở về sau 1975 như hôm nay trong cảnh đổ nát vẫn lai hoàn đổ nát mà thôi. Đạo hữu tứ tán mỗi người một nơi. Thành phố QT bên kia bờ sông, một nơi từng cúng dường cho chùa nay chỉ còn là đống gạch vụn không người. Mà người xưa của thành phố thân yêu của Chùa ngày đó chắc tản mác khắp bốn phuơng trời như bầy chim tan bầy vỡ tổ đó thôi.

   Tôi cất tiếng tìm Thầy. Một lúc sau mới có tiếng người vài ba o bên thôn Ái tử qua làm công quả nói thầy "đang lao động", còn mấy chú thì cũng đi lao động ngoài xa.

    Tôi vội vòng ra sau chùa thì gặp được thấy Thích Chánh Trực đang cặm cụi làm cỏ sắn trước Chùa. Gặp tôi, Thầy chống cuốc nghỉ mệt. Tôi thấy rõ những giọt mồ hôi nhễ nhại trên vầng trán cao của Thầy. Cái áo lam của thầy bạc màu theo mồ hôi muối và cơn nắng cuối hạ. Hai thầy trò đứng bên vồng sắn trò chuyện. Thầy vừa chống cuốc vừa nói chuyện với tôi. Thầy hỏi han về tình hình của tôi. Tôi thú thiệt với thầy hoàn cảnh và nhờ đi lấy kẽm gai mới tạt vô thăm chùa một lát chứ không lâu được. Thầy chẳng ái ngại chi do số tù binh mới về lập trại, Đoàn 74 hàng ngày vẫn xôn xao đi tìm kiếm vật dụng quanh căn cứ Ái Tử sau chiến tranh. Ngay cả cái cổng Sư Đoàn 3 BB chênh chếch sau lưng chùa nhóm tù cũng đi vô lấy phế liệu về trại. Người kể còn nhớ trong câu chuyện, thầy có phân biệt một đoạn về duy linh là gì? chỉ ngần ấy thôi thầy không nói gì sâu thêm.

Chợt thầy Thích Chánh Trực nhắc đến mệ ngoại tôi:

"O Bếp mô rồi con." 
"Dạ, mệ con vô đi di dân vô Bình Tuy với gia đình rồi thầy nờ." 

  Các thầy trú trì từ chùa Tỉnh Hội cho đến Sắc Tứ hay kêu mệ ngoại tôi là o Bếp. Thầy mừng do nghe tin ngoại tôi vẫn còn trong nam. Mệ ngoại tôi tức là bà Bếp Thỏn người làng Hạnh Hoa làm dâu làng Nại Cửu, là bà vãi tu ở chùa này đã lâu. Chùa tỉnh Hội xưa có bà Hai (tôi nhớ bà nói giọng QUẢNG ) nấu nướng cho Thầy. Bên này, Sắc Tứ thì có ngoại tôi. Cả hai bà đều nấu chay rất khéo và ngon. Quý thầy ai cũng khen, đi mô cũng nhắc. Mệ tôi vắng chùa là chùa nhớ. Các thầy các điệu các chú đều nhớ.

Chiến tranh tao loạn tứ tán mỗi người một nơi. Hai mái liêu tả hữu hai bên chùa là những hình ảnh và kỷ niệm cho tôi, nhiều lắm với những lần từ bên thành phố QT qua đây. Những ngày hè nghỉ học tôi hay qua thăm ngoại tôi bên chùa này. Những đám tang của người thân trong gia đình ngoại tôi cũng được chùa cho táng ở đây . Những lần lái honda qua đây chở mệ tôi về nhà 'có việc' hay cả những lúc qua viếng rảnh rang qua thăm chùa thăm mệ hay thắp nhang cho mộ phần người thân.

Chợt như nhớ ra Thầy vội đưa tôi vô trong liêu nói dù sao cũng phải nán lại ăn cơm với thầy do Thầy Thích Ân Cần cùng mấy chú đi lao động sau chùa không xa lắm chắc là sắp về. Một lúc sau thầy Ân Cần cũng đi làm về cùng mấy chú mới tu còn nhỏ tuổi tôi không biết được. Ngang tuổi tôi có mấy chú Tăng chú Đăng lưu lạc phương nào tôi cũng không còn biết.(Sau này ra tù tôi nghe tin chú Đăng bị chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng còn chú Tăng thì mất tích đâu không còn ai biết)


các chú đệ tử thầy Thích Ân Cần thời ngoại tôi tu tại chùa ,1967-
các chú này là sư đệ của các chú Tăng - Đăng...phần nhiều người làng Trà Trì và Trà Lộc (Hải Lăng QT)

Khoảng thời gian 1967- 1968  căn cứ Mỹ đóng quanh Chùa, có vài quân nhân Hoa Kỳ hay qua thăm cảnh chùa và chụp hình ảnh này. Những quân nhân này sau này về lại Mỹ và họ đưa lên mạng Internet hình ảnh Chiến Tranh VN trong đó có hình này .


Thầy Ân Cần trước tiên là hỏi tin về ngoại tôi. Mệ tôi hoàn cảnh xa chùa từ 1972 làm chùa nhớ chùa thương. Ngoài kia bên góc phải chùa, cái giếng nước hình vuông nho nhỏ còn đó. Bụi tre la ngà xơ xác đìu hiu phất phơ theo cơn gió và cơn nắng ban trưa. Tôi mường tượng hình ảnh ngoại tôi tháng ngày trước lom khom ra giếng rửa rau để vô nấu cơm cho thầy. Hồ sen năm đó loáng thoáng mấy cánh sen hồng, mấy con cá rô phi lượn lờ cùng bức tượng Quan Âm mới khánh thành. Thòi này căn cứ Mỹ đóng quanh Chùa. Trước chùa là phi trường Ái Tử của Quân Đội Mỹ , thỉnh thoảng có vài người lính Mỹ vào thăm chùa , thăm tượng Quan Âm xong vào chùa chiêm bái tượng phật trong chánh điện. Người Mỹ có khi còn giúp đỡ chùa một mớ ván ép cho chùa chi dụng. Cảnh chùa yên tĩnh cũng là nơi cho một số người Mỹ vào đây tĩnh dưỡng tâm hồn sau những lúc căng thẳng vì chiến tranh bên ngoài. Ngang đây người viết còn nhớ lại một dịp may là nhờ Việt Nam Quốc Tự không đồng ý cho quân đội Mỹ san bằng Chùa với giá đền bù Một Triệu đô La vì lý do an ninh cho căn cứ to lớn này. Cũng nhờ uy linh của các thiền sư trụ trì còn gia độ xui khiến cho vậy, nếu Việt Nam Quốc Tự tại Sài GÒn thời đó đồng ý thì xem như di tích quý báu của Sắc Tự Tịnh Quang Tự đến nay đâu còn ?

Giờ thì...mới đó mới đây chỉ còn là những đổi thay cùng thiếu vắng.

 Một chút chi hai thầy bảo tôi ăn cơm với hai thầy để về lại trại. Từ chối cũng không đành, tôi phải nán lại ít lâu nữa. Om cơm nho nhỏ khoảng 2 lon gạo vài củ khoai tím ruột hấp lên trên. Tôi chỉ giành khoai ăn để nhường cơm lại cho 2 thầy. Thiệt tình đối với tôi vào lúc này ăn mấy củ khoai tím ruột trồng đất cát của chùa là ngon lắm rồi. Tôi không quên được hình ảnh 3 Thầy trò cứ nhường qua nhường lại. Chén nước tương giờ này cũng loãng, miếng rau luộc cũng không đậm đà; giá như còn ngoại tôi ở lại với chùa, tôi nghĩ thầm trong bụng. ..Ngoại xa quê, mái liêu chùa trở nên trống vắng, cảnh chùa buồn làm lòng tôi thấy buồn hơn. Tôi làm sao quên đươc "chú Hợi" con heo đen chùa nuôi để lấy nguồn phân bón. Cái nanh của "chú Hợi" già tuổi quá cho đến lúc cả hai dài và cong vuốt lên. Tôi còn nhớ, ngoại tôi khoe rằng " chú Hợi cũng được Thầy cho quy y rồi". 

============== 
PHỤ GHI theo báo Phật Giáo Giác Ngộ ngày 12/4/2024

VỀ LỄ GIỖ 29 NĂM HÒA THƯỢNG THÍCH CHÁNH TRỰC VIÊN TỊCH TẠI TỔ ĐÌNH KIM TIÊN VÀ CHÙA PHẬT HỌC QUẢNG TRỊ 4 THÁNG 3 GIÁP THÌN (12-4-2-24)


Hòa thượng Thích Chánh Trực lúc ngài làm Chánh Đại diện Phật GHPGVNTN tỉnh Quảng Trị

Sáng nay, 12-4 (4-3-Giáp Thìn), Lễ tưởng niệm 29 năm ngày Trưởng lão Hòa thượng Thích 

Chánh Trực viên tịch đã được trang nghiêm tổ chức tại tổ đình Kim Tiên (Huế) và chùa Phật

 Học Quảng Trị với sự tham dự của chư tôn đức Tăng Ni cùng đông đảo Phật tử. Tại tổ đình Kim Tiên (P.Trường An, TP.Huế), hiện diện dâng hương tưởng niệm có Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Thanh, Ủy viên Thường trực Hội đồng Chứng minh; Trưởng lão Hòa thượng Thích Lưu Hòa, Thành viên Hội đồng Chứng minh; chư tôn đức giáo phẩm Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế; Hòa thượng Thích Khế Chơn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế cùng chư Tăng Ni các tổ đình, tự viện ở cố đô Huế đã đến đảnh lễ tưởng niệm, tri ân.
Trưởng lão Hòa thượng Thích Chánh Trực thế danh Hoàng Văn Trung, pháp danh Tâm Trung, pháp tự Chánh Trực, thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43. Ngài sinh năm Tân Mùi (1931) tại làng Trà Trì, X.Hải Xuân, H.Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Sinh thời, ngài từng đảm nhiệm các chức vụ: Phó Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên (1963), Chánh Đại diện Phật giáo tỉnh Quảng Trị (1968), Thành viên Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam (1980), Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN (1981), Phó Trưởng ban Trị sự tỉnh Bình Trị Thiên (1982), Trưởng ban Trị sự sáng lập GHPGVN tỉnh Quảng Trị (1989).


Bảo tháp Trưởng lão Hòa thượng Thích Chánh Trực trong khuôn viên tổ đình Kim Tiên (Huế)


TẠI CHÙA PHẬT HỌC QUẢNG TRỊ 






HẾT PHỤ GHI
============================================ 

TIẾP THEO...

...Bữa cơm tuy đạm bạc nhưng ba thầy trò trở nên tương đắc. Hai thầy cũng cho biết bên hợp tác xã cũng bán cho chùa mỗi tháng mỗi thầy 8 ký gạo "tối thiết".Ba thầy trò vừa ăn vừa kể lại chuyện mấy năm trước khi Thành Phố vẫn còn .. .Kể về cái chợ Quảng trị ngày xưa, chùa hay qua lại bán vài ba thứ do chùa trồng trọt  như đậu mè khoai sắn chẳng có gì quý để mua vài ba món cần dùng. Ngày đó khách thập phương bên Tỉnh năng qua lại chùa viếng cảnh và lễ phật.Ai lễ xong đều ra hóng mát ngoài hồ sen và chụp ảnh dưới chân tượng đài Quán Thế Âm. Đạo Hữu bên Tỉnh tôi nhớ có thương gia Nguyễn Xuyến năng cúng dường giúp đỡ cho Chùa nhiều lắm. Mệ Xuyến cũng rất mến bà ngoại tôi. Ai vô chùa cũng hay hỏi thăm O Bếp mô rồi...Hôm nay cũng vậy thầy Chánh Trực hay Thầy Ân Cần đầu tiên khi gặp tôi là hỏi thăm "O Bếp mô rồi?"

Nếu không có chuyện 1972 và 1975 thì giờ này thầy Chánh Trực còn trụ trì bên chùa Tỉnh Hội Quảng Tri chứ đâu ngồi đây ? Hoàn cảnh đổi thay đố ai biết được. Thầy Chánh Trực trước là đệ tử tại chùa Kim Tiên và sau này mệ ngoại tôi cũng được thọ giới đốt nhang lãnh Y Bát tại mùa kiết hạ tại chùa Kim Tiên nên thấy Chánh Trực mới năng hỏi o Bếp . Thầy Ân Cần thì không lạ gì ngoại tôi là bà vải ngày tháng bếp núc bên hữu liêu của chùa . Giờ (1975) mệ  tôi ở tận trong nam tình hình ra sao ba thầy trò làm sao biết được    Ba thầy trò vương vấn chưa được bao lâu thì tôi phải giã từ để về lại trại. Từ đó tôi biền biệt ra Bắc vô Nam tôi không còn có dịp về lại chùa nữa.

                                       ***

    Không ngờ năm 1991 người kể chuyện từ Bình Tuy ra đến Đông Hà do có công chuyện. Trên chuyến xe vô nam tôi lại có cơ duyên vô lại thăm chùa. Tôi không còn gặp được thầy Thích Chánh Trực nữa. Thầy Thích Ân Cần đang đau. Thầy chống gậy dẫn tôi ra hậu liêu chỉ vào cái tháp của thầy Thích Nhật Lệ thầy bảo tôi:

" con coi ngó rứa mà Thầy Nhật Lệ lại đi trước Ôn tề" 

Thầy Nhật Lệ viên tịch trong nam. Lúc mệ ngoại tôi mất ở xuân sơn Bà Rịa năm 1984 thầy Nhật Lệ từ chùa Hải Quang Sài Gòn có về chủ lễ cho ngoại tôi tại đó.

Thầy lại chỉ vào bảo tháp xây sẵn cho thầy, "mai mốt Ôn viên tịch cũng đưa vào trong ni". Tuổi đời chồng chất, thầy trụ trì tại đây lúc tôi còn bé con năng qua lại chùa.

Hồi đó mỗi lần qua chùa thăm ngoại, thăm chùa, nên ai cũng nhớ mặt tôi. Tôi nhớ thầy còn khỏe mạnh. Thời gian phôi pha, vật đổi sao dời. Dáng thầy run run chống gậy chỉ vào bảo tháp sinh phần của thầy, tôi thấy dòng thời gian sao trôi chóng vếnh quá thôi. thoắt đó thoắt đây kẻ ở người đi. Thầy cũng sắp đi, bình thản trước cảnh tử sinh trong cõi ta bà. Trong nam ngoại tôi cũng không còn nữa. Tôi mường tượng hương hồn ngoại tôi cũng theo gió xuôi trung về lại với chùa vì ngoại tôi tu đây cũng hơn mười mấy năm rồi.

Ngàn cây ngọn cỏ cũng còn xao xuyến. Thầy ở lại con phải vô nam bước chân viễn khách của con phải còn đi xa hơn nữa.

Mấy hôm đó thầy Ân Cần hình như bệnh nhiều. Thầy gượng gạo ngồi ăn cơm với tôi cũng cơm hẫm nước tương chẳng chút đậm đà. Tôi ái ngại nghĩ bụng làm sao thầy nuốt cho vô trong cơn bệnh hoạn này. Bữa cơm thầy buông đũa sớm vì thầy phải về nghỉ mệt.
Câu nói của Thầy như một lời trăn trối với tôi trước khi tôi từ biệt thầy ra lộ đón xe vô lại phương Nam:

"Thầy nhờ con nhắn nhủ đạo hữu phương xa,nhất là ai có gửi mộ phần người thân tại chùa, đi làm ăn mô năng nhớ về chùa nghe con?"

Thầy còn gửi cho tôi bức ảnh của thầy nhờ gữi cho dì Võ thị Liễu  tôi. Dì tôi hồi còn buôn bán ở chợ Tỉnh Quảng trị rất thương về chùa.

Vào nam rồi ít lâu sau thì tôi nghe tin thầy Thích Ân Cần viên tịch.
Thời gian tuy phôi pha, hình bóng những người xưa cùng nhau về miền quá khứ tuy vậy tôi viết ra đây những dòng ký ức chân thật từ đáy lòng.

Nhất là lời hứa với người xưa, tôi không thể nào để "gió thoảng mây bay" rằng "những ai đi xa dù ở phương nào nên nhớ về chùa nghe con."

Đó là tình thương của thầy để lại cho Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang Tự cho những ai đang tu hành tại đó trước khi thầy về với Phật.


NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

ĐHL ngày cuối năm 2010
edit 3/12/2024


Monday, December 2, 2024

KỶ NIỆM XA XƯA VÀ CHÙA SẮC TỨ TỊNH QUANG TỰ

 


Kính nhớ hương hồn Ngoại tôi

BÀI NÀY tác giả đăng lại lên đây, để lưu dấu hình ảnh của một mái chùa Sắc Tứ Tịnh Quang khác với hôm nay. Ngày xưa hình ảnh Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang Tự là một hình ảnh tiêu sơ xung quanh hoang vắng, vài ngôi làng thưa thớt xa xa. Nửa thế kỷ qua nhanh, Ái Tử bây giờ là thị trấn đang ào ạt xây dựng, ngôi chùa lịch sử nay phải lọt vào giữa chốn nhà cửa, công sở dinh thự náo nhiệt khác thường.

Chạnh lòng nhớ lại ngày xưa còn nhỏ, có lần tôi một mình đi bộ qua cầu Ga, rồi lần theo Quốc Lộ. Qua khỏi Cầu Ái Tử, tôi đi băng qua bãi cát và cồn cỏ Ái Tử để tới một thôn làng sau lưng Chùa Sắc Tứ. Ngày đó tôi qua nhà đứa bạn tiểu học có nhà bên làng. Thời này chưa có căn cứ Mỹ đóng. Quanh chùa  là những cồn đất hoang vu, xa xa trong kia làng mạc thấp thoáng. Đi xuyên qua vùng đất hoang, có những con sơn ca thay nhau bay lên cao đập cánh đứng yên trên không kêu lảnh lót. Con này kêu xong từ từ hạ cánh tiếp liền có con sơn ca khác tiếp tục bay lên... lại đập cánh đứng yên hót liên hồi...

       ÁI TỬ hôm nay không còn là cánh đồng vắng như xưa nữa
Ngôi chùa Sắc Tứ nay lại bị che lấp giữa một thị trấn phát triển và càng lúc càng đông đúc chẳng khác chi chốn phồn hoa. Quả thật, nếu ai về lại ghé thăm Chùa Sắc Tứ nay quang cảnh đã thay đổi quá nhiều do phải 'lọt' ở giữa những khu dân cư , dinh thự chi chít hỗn độn của thời đại mới "đất hẹp người đông. Nếu có dịp người xưa về lại thì chỉ thấy Chùa Sắc Tứ xa xưa nay không còn nữa mà chỉ là một kiến trúc lạ lẫm giữa một đô thành nhộn nhịp còi xe, quán sá ken dày. Thời đại mới, mở cái điện thoại cầm tay trên Google Map khách hành hương lại càng thất vọng hơn bao giờ hết khi nhìn thấy một họa đồ chi chít đường xa cùng bao ô vuông to nhỏ, ký hiệu quán cà phê, tiệm ăn cơ sở chằng chịt.
Một di tích ngày xưa của một ngôi chùa trầm mặc thanh tịnh giữa cảnh đồng quê hoang vắng nay thực sự đi vào dĩ vãng.
Chúng ta hay tác giả còn mừng do còn lại ký ức cùng ngón tay gõ phím...những dòng chữ thay cho hình ảnh cũ. Bao người xưa hay thanh âm ngày cũ lần lượt hiện về...
Mời bạn đi lên chuyến tàu kỷ niệm trở về với ngôi chùa có tên là Sắc Tứ Tịnh Quang Tự của hơn 50 năm trước.

Trân trọng và thân yêu

ĐHL

https://lh3.googleusercontent.com/-f9onhmUfP5o/YK_ZUqvLS_I/AAAAAAABcJI/7YowAx1D4AcL6hXV5-RA9yly_qkBH4XMwCLcBGAsYHQ/w243-h400/image.png

NHỚ  NGOẠI TÔI bà Vãi Chùa Sắc Tứ  trước 1972 và những MÓN CHAY

    Sau khi ông ngoại tôi qua đời vào năm 1949, gần mười năm sau mệ ngoại tôi tu tại gia. Thời gian này Mệ hay về nấu nướng cho quý thầy dưới chùa Tỉnh Hội. Trụ trì gồm hai thầy, tôi còn nhớ hình thầy Thích chánh Trực (?)và một thầy khác . Ngoại tôi cho treo hình hai thầy trụ trì trong chùa Tỉnh Hội ở căn giữa nhà, đối diện bàn Phật.

Khoảng thời gian 1967- 1968  căn cứ Mỹ đóng quanh Chùa, có vài quân nhân Hoa Kỳ hay qua thăm cảnh chùa và chụp hình ảnh này. Những quân nhân này sau này về lại Mỹ và họ đưa lên mạng Internet hình ảnh Chiến Tranh VN trong đó có hình này

  Gần  năm 1960, ngoại tôi chính thức xuống tóc và qua tu bên chùa Sắc Tứ. Làm bà vãi, có nghĩa là Mệ nấu ăn cho các thầy và các chú tu trong chùa. Ngoại nấu chay khéo và ngon nên thầy nào cũng thích. Đứa cháu như tôi, cho đến giờ cũng không quên mấy món mệ nấu. Mỗi lần Mệ vè nhà, tôi cứ "lẩn quẩn"  gần mệ ngoại để có dịp người cho món chay ăn.



một lính Mỹ đóng ngoài căn cứ Ái Tử gần chùa tới thăm khoảng sau 1968 lúc Ngoại tôi còn ở đây, mấy chú tiểu này cũng rất thân với ngoại tôi. Các chú này là đệ tử của thầy THích Ân Cần tu sau các chú Đăng và Tăng đều làng Trà Trì Hải Lăng

https://1.bp.blogspot.com/-FD9dlRcBZmM/XmVeV-DMySI/AAAAAAABQpE/2Yddei6qT_QPkzTWoEZva4LUcA5shZEIgCLcBGAsYHQ/w273-h400/IMG_20200308_135930055_HDR.jpg

hình Chú Tăng (làng Trà Trì ) một buổi thăm nhà ngoại tôi tại Cửa Hậu P Đệ Tứ QT (1969)

 Tôi hi vọng nhắc lại không quá lời, vì ngoại tôi nấu không ngon làm sao tôi nhớ đến bây giờ? Mấy bắp chuối ( người Bắc gọi là hoa chuối), sau khi hấp xong, Mệ xé nhỏ ra trộn với rau răm rồi mệ nói thịt gà bóp. Củ bình tinh (hoành tinh) bánh tráng, không biết làm sao Ngoại  cuộn lại chiên lên thành món ram chay ngon còn hơn ram mặn. Tôi còn nhớ mệ tôi cho ăn thịt gà bóp bằng mỳ căng, hay món phở chay, bánh bột lọc chay...ôi thôi đủ thứ ! tôi không còn nhớ hết? Chuyện đặc biệt , có món "cá chiên" của mệ làm, giờ tôi lại quên, không biết làm từ gì?
  Làm sao các thầy quên được mệ tôi ? Sau khi chùa thu hoạch đậu nành, mệ tôi cũng làm ra mấy hũ tương ngon, đậm đà , để dành ăn suốt năm . Chỉ có rau muống bò nổi trên mặt nước trong hồ sen , mệ luộc chấm với tương này, ai cũng thích, không có gì hơn. Ăn chay thì kể chuyện tương, chao.  Tôi còn nhớ hình ảnh mệ tôi làm chao sao lắm công phu ! Những lát khuôn đậu,  mệ lót trên tro qua  lớp vải quyến .  Ngày sau, mệ tôi cẩn trọng xếp từg lớp vào thẩu. Những lớp muối tiêu, ngay cả rượu nữa...thêm bao thứ tôi còn nhớ lan man trong đầu. Nhưng thứ chao được tay ngoại tôi làm , khi mở thẩu ra thì thật đúng mùi chao ! Những lúc cúng kỵ tôi có dịp ăn thử . Thứ huơng vị đậm đà nhưng lại nồng, thứ nồng rất riêng của chao làm cho tôi khó quên .  Sau này dù đi đâu, tôi lại chưa gặp thứ chao nào bằng ngoại tôi làm, thế mới lạ.


NGOẠI TÔI THỌ GIỚI SA DI TẠI CHÙA KIM TIÊN HUẾ

Sách Đại Nam  nhất thống chí  của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi: Chùa Kim Tiên ở ấp Bình An, huyện Hương Thủy (nay thuộc phường Trường An, TP.Huế) tương truyền do Hòa thượng Bích Phong dựng (khoảng cuối thế kỷ XVII), bản triều Thế Tông (chúa Nguyễn Phúc Khoát, 1735-1765) sửa lại, sơn thếp xanh vàng rực rỡ. Phía trước chùa dựng lầu Vọng Tiên, có giếng cổ sâu hơn 30 trượng, nước rất trong mát, tương truyền các tiên nữ thường tắm đêm ở đây nên gọi là giếng Tiên (trích Báo PG Giác Ngộ)

THƯƠNG QUÁ "NỐT NHANG" TRÊN ĐẦU NGOẠI 

  Năm đó khoảng 1970, Mệ tác giả may mắn và hân hạnh được quý thầy tại Tổ đình Sắc Tứ cho đi theo dự mùa Kiết Hạ tại Chùa Kim Tiên trong Huế. Tiếng là bà vãi bếp núc cho Chùa nhưng tu thì phải "hành". Gần mãn mùa Kiết Hạ tại Chùa Kim Tiên, Mệ tôi cũng được thọ GIỚI SA DI sau khi qua đợt thử sức tịnh tâm qua lệ  "đốt nhang" lên đầu? Sau khi thử sức tu hành nghĩa là cái tâm huớng niệm hay định tâm ngang mức độ nào bằng cách dùng cây nhang đang cháy, dúi lên và phải dốc tâm niệm phật cho quên cơn nóng khi lửa dúi vào da đầu.  Mừng cho ngoại tôi đã thành công viên mãn  lên được Sa Di  và ngoại được Chùa cấp Y Bát.

 Mệ về nhà mang một vết tròn lỡ lói trên đầu, tôi phải xức thuốc cho mệ , nhưng trong lòng đứa cháu ngoại cũng tự hào khi mệ ngoại mình vừa được một "nốt tu hành" trên đỉnh đầu. Quả là một chứng cớ rõ ràng nhất về niềm tin và tấm lòng nhất tâm tu tập cùng thành tâm niệm phật.

CHÚ HỢI

 NHỚ  'CHÚ HỢI' NUÔI Ở CHÙA SẮC TỨ NĂM XƯA 


https://1.bp.blogspot.com/-LuCVmnqkogA/XmVgpXkQPOI/AAAAAAABQpU/qUgfzdxwUzoCJJvSTXQsvLFzqV8wYExDgCLcBGAsYHQ/s1600/images.jpg

 

CHÚ HỢI cái tên từ thầy Trụ Trì Thích Ân Cần cho đến các chú và mệ ngoại tôi hay kêu chính là con heo đen trong chùa. Chùa nuôi chú HỢI chỉ một mục đích lấy nguồn phân bón trồng cây. "Chú Hợi' xem như là kẻ gần gũi ngoại tôi nhất vào thời gian ngoại tu bên chùa. Chuồng chú được đặt gần bếp phía nhà trai bên phải chùa. Khi nào chuồng cũng có rơm rạ, phân bổi, ngoại tôi là người trực tiếp cho 'Chú' ăn. 

    Chú Hợi sống thọ đến nỗi nanh chú dài ra. Mỗi dịp qua thăm chùa, tôi để ý thấy nanh 'chú' dài ra một ít. 'Chú' chỉ nằm không còn đứng được. Coi bộ cái chuồng chật hẹp đối với 'Chú'. Có lần ngoại tôi khoe " chú được thầy cho quy y rồi" . Tuy nhỏ, nhưng lòng tôi cũng cảm thấy hân hoan giùm cho chú Hợi. 
   Cát trắng sau chùa không có nguồn 'phân bón' của 'chú' xem như chẳng ra chi. Những vồng khoai tía, những cây vú sữa cũng nhờ phân chuồng từ đây . Những sào sắn thì đành chịu do không đủ phân đắp bồi cho sắn .  Phân lót từ chuồng này, Thầy bảo chỉ ưu tiên cho khoai tía khoai từ và mấy cây ăn trái thôi  . Cát trắng không đủ hoa màu, Chùa nhờ lòng hảo tâm của khách thập phương, nhất là các thương gia bên Chợ Tỉnh. Thương gia mễ cốc Nguyễn Xuyến là người thầy trụ trì hay nhắc tên nhất. 

 Chú Hợi qua đời trước biến cố 1972. "Công quả" của 'Chú'  ít nhiều chi cũng có với chùa. Bao nhiêu vồng khoai tía, khoai từ, mấy cây vú sữa và bóng ngoại tôi lom khom bên chuồng ...
Cho đến 1972 ly loạn, thầy, điệu, bà vãi mỗi người một phương. Ngoại tôi theo gia đình  vào Đà Nẵng, Trại tạm cư Non Nước, phi trường hoang phế Non Nước lưu dấu bà con Quảng Trị non 2 năm thì gia đình ngoại và cậu tôi theo chương trình Khẩn Hoang Lập Ấp vào vào Bình tuy (1974) cũng như hoàn cảnh bao nhiêu người dân Qt khác vậy. 

Chùa hoang phế hư hại sau 1972 cho đến 1975 người viết khi còn tù cải tạo tại một trại gần Nại Cửu Phường. Nơi này cũng gần Thôn Xuân Khê tạm coi là gần vùng trung du, cách chùa khoảng năm cây số. Lần đó nhờ vào lúc trại phân công đi tìm dây thép kẽm gai còn sót tại căn cứ Mỹ cũ nên có ghé tạt vào thăm chùa. Thời gian này hai thầy Thích Chánh Trực và Thích Ân Cần cùng trụ trì tại đây với một số chú tiểu còn nhỏ tuổi. Hai thầy cùng với các chú tiểu tự túc canh tác sống qua ngày. Chánh điện trước chùa còn hư hao, người dân quanh làng chưa ai hồi cư đông đủ...

*** 

Từng thập niên liên tục đi vào quá khứ. Hình ảnh các thầy trụ trì Tổ Đình Sắc Tứ kể cả ngoại tôi, bà vãi giữ chùa đã dần khuất trong vùng quên lãng. Lạ thật, tôi cứ nhớ hoài những món chay của mệ ngoại mình.  Có một điều tôi không thể bỏ qua, là tôi nhớ và thương cho vết nhang "từng đốt" trên đầu Mệ, tôi vẫn không quên sức nóng nốt nhang đang cháy đó . Sự thử sức quá gay go, giá như tôi thì chẳng bao giờ "dám thử " ! Ngoại tôi thật dốc lòng tu mới quyết tâm chịu đựng như thế , sức nóng ghê gớm từ nốt cháy của đầu nhang kia ! trong khoảnh khắc nhất tâm, quán tưởng đến Phật ,  niệm liên hồi , mồ hôi nhễ nhai , tội và thương cho Mệ quá! 

NGÀY NGOẠI TÔI “TRỞ VỀ” TỔ ĐÌNH SẮC TỨ


Những ngày chạy loạn 1972, Mệ cũng như bao lưu dân QT khác phải lìa bỏ quê hương vào tận miền Nam. Mệ theo gia đình vào Bình Tuy theo Chương Trình Khẩn Hoang Lập Ấp 1973. Cho đến 1986 mệ mãn phần tại Xuân Sơn Bà Rịa nhưng lòng cứ đau đáu về Tổ Đình Sắc Tứ.  

Hai mươi năm sau, khoảng 1992, Ngoại tôi được cải táng về lại Tổ Đình Sắc Tứ như lòng Mệ hàng mong ước.

Cậu người kể là Võ Hoa đã cải táng Mệ, đem Mệ về lại Tổ Đình nơi Người từng gắn bó với quãng đời còn lại. Nhớ năm đó trời nóng như thiêu đốt, cái giếng vuông nhỏ bé thân thiết với ngoại tôi xưa trong cạnh bờ trúc khô quắt, nước không còn một giọt. Lạ thay ! ngày đem cốt Ngoại về, cái giếng của  Chùa đang khô bỗng cho nước như mừng  người xưa nay đang trở lại Chùa  hay  Tổ Đình thân yêu "dang tay" đón ngoại tôi về. Mái chùa thương yêu ngày xưa đón Ngoại về, một nơi ngoại tôi hàng ngày với tấm lòng thương yêu, tém nhặt từng cọng rau, chắt chiu từng món tương chao, dưa muối, giúp cho quý thầy và các chú ngon miệng.


https://4.bp.blogspot.com/--9Ny6fKvYh4/U8n4X67PsnI/AAAAAAAAW0I/-Y8VyK90IPU/s1600/10516667_10202268153808458_8760844632895457055_n.jpg

thập niên trước 1972 , từ chùa Sắc Tứ nhìn ra đường QL 1 , chúng ta thấy chỉ là bãi cát hoang sơ


 Mỗi lần nhìn lại hình ảnh bức tượng Quan Âm trước hồ sen của chùa, tôi lại nhớ những ngày hè qua thăm Mệ. Lảng vảng trong đầu tôi hình ảnh mấy con cá phi lượn lờ dưới lòng hồ hơi cạn nước. Mặt hồ lác đác mấy đóa sen trắng, những khóm tím hồng hoa sún. Dưới tượng Đức Quan Thế Âm , cái lư hương lớn chỉ còn lại chân nhang. Khung cảnh chùa sao tiêu sơ, thanh tịnh quá !
   Ngắm cảnh xong tôi đi qua bên phía phải chùa bên rặng trúc thưa gần cái giếng miệng vuông nho nhỏ. Hàng ngày, ngoại tôi lom khom rửa rau, rồi bóng người lẳng lặng vào lại phía căn nhà trai bên phải chùa. Trên kia vẫn là rặng Trường SƠn muôn thuở. Thỉnh thoảng  sau từng đám dứa dại, có mấy con chim sơn ca lần lượt bay lên cao. Chúng vỗ cánh đứng yên trên lưng chừng, hót liên hồi rồi từ từ hạ xuống đất. 

 Chiến tranh tăng cường độ, căn cứ Mỹ xây nhiều quanh chùa. Tiếp đến là năm 1975 với bao nhiêu biến đổi. Giờ thì nhà cửa, dinh thự đã bao quanh chùa dày đặc!  May thay, Tổ Đình Sắc Tứ vẫn còn, nay đã trùng tu.

Vật đổi sao dời, cảnh chùa biến đổi mấy lần. Hiện tại mấy ngôi bảo tháp di tích Tổ Đình vẫn còn, làm cái gốc cho Chùa tái lập. Dân cư càng lúc càng đông, càng ít đi sự thanh tịnh ở đây. Càng về sau, tôi thấy thương khung cảnh hoang sơ thanh tịnh của Tổ Đình Sắc Tứ Tịnh Quang năm xưa. Nơi đó có ngoại tôi, bà vãi của chùa, một bà bếp tuy có nhiệm vụ nấu ăn cho Thầy, Chú nhưng lại được một nốt nhang trên đầu , chứng tích của một người nhất tâm niệm Phật./.

 ĐHL 18/7/2014

edit 4/7/2025 San Jose USA
Ngày Lễ Độc Lập Mỹ Quốc
by Đinh hoa Lư

NÚI RỪNG VÀ NHỮNG NGƯỜI TRANH SỐNG

AUDIO ĐỂ BẠN ĐỌC  NGHE KHỎI CẦN ĐỌC


Ký ức của Đinh hoa Lư


"Gánh cực mà đổ lên non. 
Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo " (ca dao)

Cũng như số phận không biết bao nhiêu người đồng cảnh ngộ khác, nghề rẫy bái , tiều phu không phải là căn kiếp của tôi. Vì miếng ăn, những ngày tháng đó tôi phải lăn lộn vào rừng kiếm sống. Tiếng là để 'nuôi vợ đợ con' nhưng 'thành phẩm' làm ra từ rừng chẳng khá chút nào. Đã thế cái số 'khốn nạn' đen đúa cứ đeo mãi tôi khiến tôi càng không làm ra 'cơm cháo ' gì ?


Câu chuyện CÁI RẪY LUỘC này là câu chuyện thật của tôi hay của bao lưu dân Quảng Trị từng sống tại vùng nông thôn rẫy núi thuộc xã Sơn Mỹ H. Hàm Tân cách đây hơn 4 thập niên. Câu chuyện kể lại tôi chẳng cần thêm mà chẳng bớt. Tôi muốn  viết ra trước là mua vui hay phác họa cho bạn đọc nào chưa từng sống ở vùng nông thôn sau 1975 hình tượng.  

Cuối hết trong chừng mực nào đó, người viết mong ước  dùng bài viết mà vẽ lại một hình ảnh kỷ niệm làm lưu cảo cho đời mình cùng thế hệ sau này có thể hình dung một thời đói khổ sau 1975 ra sao để tiết chế chừng mực lại trong đời sống đầy đủ dư thừa hiện tại.


ĐHL


  VỊ TRÍ NÚI  ĐẤT TRONG BẢN ĐỒ HÀM TÂN


       Khi nào cũng vậy, lúc trời sắp chuyển vào mùa mưa, cánh rừng hoang càng về trưa càng oi bức hơn. Quá ngọn Mây Tào trong kia, huớng Long Khánh -Biên Hòa, sấm chớp với những cụm mây đen xa xa cũng đủ tỏ dấu hiệu mùa mưa đang đến. Phía rừng Bình Tuy này, thiên hạ còn lo dồn hết công sức dọn nhũng cái rẫy mới đốt để đón những hạt mưa đầu mùa.

    Bạn làm rừng cùng xã với tôi đang hả hê với những mẫu đất mới, mun tro mới, khi bao cây cành lá khô đều cháy gọn hết sạch. Những tính toán "cũng mới" cho vụ bắp và lúa sắp tới .  Những khuôn mặt lem luốc bụi tro, không dấu được nét tin vui, yêu đời khi khi họ tin rằng mùa tới sẽ bội thu. Làm sao người nông dân QT ở vùng này không mà nao nức cho được? Những hạt bắp no tròn, óng ả sau khi bóc lớp vỏ lụa tươi xanh, những nhánh lúa rẫy nặng hạt, từ nước trời tưới xuống ban bố trên đám mun tro đám đất mới đốt dọn...Mưa xuống, trận mưa đầu mùa là lộc trời. Mưa đầu mùa càng lớn chừng nào thì ấm no tới nhiều cho người thôn chúng tôi chừng nó. Những ước ao mong đợi nay đã được đáp đền. Từng tia chớp vang trời, mây đen ngùn ngụt dâng lên từ hướng ngọn Mây Tào, Long Khánh đó là tiếng vọng và hình ảnh của mừng vui.

***

  Riêng mình tôi lại buồn do rẫy tôi đã bị 'đốt luộc' sớm hơn rẫy họ gần hai tháng trời. 

 Bạn đọc sẽ hiểu tại sao tôi BUỒN và "rẫy luộc" là gì ?

  Sau thời gian đi "đường biên", nghĩa là tôi phát hai lối nhỏ là hai cạnh song song nhau, coi như là "giành phần" mình trước khi chính thức chặt hạ . Non mẫu rừng này, một mình tôi nếu làm xong là cả một "gia tài". Tiếp đến những ngày phát luồng tức là rong cây nhỏ khỏi vướng bận khi chặt hạ cây lớn.  Thêm một ngày qua đi là thêm nhiều cây rừng ngã rạp, cái mẫu rẫy "tương lai" càng lúc càng lộ rõ dưới ánh sáng mặt trời.


  Làm rẫy là vậy, chẳng có luật lệ nào. Người dân quê tự thỏa ước với nhau để tạo ra lệ, một thứ "luật rừng" đúng nghĩa của nó , cùng thực tế như thúng lúa, mớ bắp làm ra từ rừng vậy thôi. Ai cũng lo dành phần đất rừng trước. Nhà đông người thì họ khoanh vùng rộng hơn. Có khi người ta vì lòng tham chỉ phát luồng cho có đường biên thật rộng, nhưng cái lõm rừng quá rộng ở giữa họ chỉ để dành thôi. Đây là trường hợp của những "cái bụng tham lam ", mấy kẻ này không được lòng trong thôn xóm lắm.

Trở lại chuyện của tôi, số làm rẫy thuộc loại "tơ -lơ- mơ" búa không ra búa rìu không ra rìu , ì ạch hạ xong những cây lớn mới là "chiến công hiển hách" đối với tôi. 


Hình như bạn đọc còn nhớ trong những bài ký ức trước tôi hay nhắc đến điếu thuốc rê và cuộc đời làm rẫy? Đúng vậy, mỗi lần "hạ" xong một cây lớn là tôi vấn một điếu thuốc rê "to đùng", đứng dạng chân hút phì phèo , ngắm trời nhìn đất khoái trá vô cùng.


BỊ MẤT PHẦN CƠM TRƯA 




  KỶ NIỆM xót xa khi mồ hôi nhể nhại cho tháng ngày trong rẫy chưa đáng nói bằng sự chua chát khi bị ĂN TRỘM PHẦN TRƯA tôi bới theo khi lúc vào rừng. 


  Tiếp tục phát cái rẫy năm đó gần xong. Một bữa trưa sau khi gắng phát xong một đường luồng tôi lui lại lùm cây vói tay lấy cái bao cát đựng cơm trưa thì nó "không cánh mà bay mất" ! Một thoáng lạnh người ,
  
-lấy chi ăn mần tiếp chiều ni hè?
  -đứa mô chơi ác thu (dấu) của miềng rồi?

  Tôi ngó quanh, cố tin rằng thằng bạn nào gần tôi tìm cách dấu nó để chọc tôi cho vui thôi. Càng tìm tôi càng không thấy gì. 
Tôi cố tin hình ảnh cái bao cát ny lon xanh của  Mỹ , treo tòn teng đâu đó. 

     Thất vọng...b
uồn!

 Thế là 
tôi bị trộm phần ăn trưa rồi ! Một nỗi đắng cay len lén dâng lên trong tôi. Những con người đói khổ, họ sẵn sàng trộm bất cứ cái gì dù biết rằng đó là phần trưa người khác - cùng khổ cùng bạn làm rừng như họ. 

  Tôi không còn nhớ rõ cảm giác của tôi lúc đó ra sao ? Giận , buồn, bực bội hay thuơng xót cho những người "cùng khổ"?

 Chuyện đáng nhớ là tôi không tiếc phần cơm mà tiếc cái "lon gô", cái muỗng i -nốc (inoxidable -không sét) của Mỹ, hai thứ tôi rất quý, vào thời đó làm gì kiếm ra? 


  Thế là tôi phải dọn dẹp về sớm , mất tiêu buổi làm chiều. Còn may, chiếc xe đạp thồ dấu trong bụi rậm không mất.


Rẫy của tôi bị Luộc -  ĐÓ LÀ SỰ TRẢ THÙ CỦA THẰNG HAI CHÀM 



                                         CÂY DẦU
   

   Một ngày khi những cây cuối cùng sắp chặt hạ gần hết. Tuy vậy, đám rẫy chưa hẳn là khô dòn để đốt. Đang cắm cụi phát nhành cây vương trên gốc dầu cao, bỗng phía sau xa tôi nghe tiếng lửa cháy răng rắc và làn khói xanh bốc lên cao dần...

   -Chết cha! lửa !lửa! hình như rẫy miềng!?

  
 Tôi phóng nhanh thối lui phía sau. 

  Thôi đúng rồi!

 Ngọn lửa bốc lên từ đằng cái khe nhỏ nơi những thợ săn Tân Thắng hay men theo. Nơi  đó cũng là điểm đầu của cái rẫy mới của tôi gỗ lá khá khô. Lữa và khói bốc lên càng lúc càng cao. Ngọn lửa càng lúc càng hừng hực cháy pha lẫn tiếng nổ lốp bốp của cành lá còn tươi càng lúc càng dồn dập. Tôi chỉ còn nước tìm chỗ chiếc xe thồ kéo nó ra khỏi bụi cây, quên luôn chuyện gai góc , tìm đường thoát... 

-Bọn nó đốt rồi, đúng bọn thợ săn Tân Thắng rồi! 


nghề lấy dầu rái 
 
Mối thù hằn giữa nông dân QT đi phát rẫy làm rừng gia tăng càng lúc càng cao với nhóm thợ săn kiếm nghề lấy dầu. Những cánh rừng bạt ngàn của Hàm Tân, nơi vô số cây dầu sản xuất ra loại dầu rái đi ghe và nghề làm biển đang cần. 
Dầu rái là thứ bôi cho ghe thuyền khỏi mục là những thứ nghề đi biển. La Gi là thị trấn biển ghe thuyền khá đông nên có nhu cầu về dầu rái. Đây là sinh kế của nhóm thợ rừng xã Tân Thắng.  Họ không là người Quảng Trị, phần nhiều là con cái người Chăm dân bản địa Bình Thuận Phan Thiết bao đời nay. Thợ lấy dầu này họ không phá rừng trồng bắp lúa vốn liếng sinh nhai của họ nằm ở những cây dầu, nơi mà tự  nguyện chia vùng với nhau lần lượt đi lấy dầu về bán thôi. Nghề làm rẫy đã đốt phá, chặt hạ, cưa gỗ biết bao nhiêu cây dầu? Rẫy đồng bào QT càng nhiều, đất bạch hóa càng tăng và những cây dầu, mạch sống những thợ rừng kia, cũng biến mất, và sau cùng là sự gia tăng lòng căm ghét từ những người bị mất nguồn sống.



Họ đốt "rẫy non" cho bỏ ghét. Họ muốn trả thù, trong đó tôi là một nạn nhân. Dù sao, ngang đây bạn đọc chắc chưa hiểu tường tận hết sự trả thù ra sao?

  Ngày hôm sau tôi lên rừng sớm để biết tình trạng rẫy mình. Bạn làm rẫy cho biết thằng Hai Chàm nó đốt rẫy của tôi chứ không ai khác. Thằng Hai Chàm ở Tân Thắng, nó "một mình một ngựa" từng thề sẽ trả thù cho cái nghề lấy dầu rái của họ bị "mất cơm". Dĩ nhiên 'thủ phạm' đốt cây dầu của những thợ lấy dầu này là người làm rẫy chứ ai vào đây nữa ?


Những vết nứt trong lòng bàn tay không có thì giờ lành hẳn. Đau lưng mỏi gối mới có một mẫu rừng mới như hôm đó. Thế mà chỉ một 'mồi lửa' thằng Hai Chàm đã trả hận và tôi là kẻ khổ đau của một sự thù hằn đến từ chén cơm manh áo.


Hai Chàm... rõ ràng tôi chỉ nghe tên chứ không hề biết mặt. Dù sao cái tên đó cũng chứng tỏ họ không là người QT mà là người sắc tộc.

  Bỏ thì thuơng, vương thì tội

 thế là tôi tiếp tục phải dọn sớm cái "rẫy luộc", cành ngọn cháy không hoàn toàn, nham nhở, phải tốn công gấp bốn năm lần khi dọn rẫy cháy đúng thời lúc cây cành khô róm. Đã thế, khi đã "cháy luộc" thì càng ít mun tro, như vậy đất không thể nào tốt để gieo hột được. Đó là tại sao có bạn rừng gặp rẫy bị "luộc" họ đành bỏ đi, không làm nữa.

  Một mùa "thu hoạch" cái "rẫy" khổ nạn đó, tôi chỉ còn vài gánh dưa, hơn chục thúng lúa, vài ký đậu xanh ... chẳng đủ vốn -công "cơm đùm gạo bới" của vợ tôi giúp chồng vào rẫy, làm rừng, bao ước vọng tính toán của hai vợ chồng nay chẳng còn chi. Thu hoạch từ đám đất rẫy bị luộc 'khổ đau' đã ít. Ngày đem chục thúng lúa rừng về lại mưa to gió lớn. Nhớ làm sao hình ảnh đáng thương cho mấy đứa em vợ...nước lũ dâng mau, hai đứa em vợ không ngại nguy nan đội từng bao lúa trên đầu lội qua dòng nước chảy xiết chỉ còn bao lúa và cái đầu lặn hụp nhô lên dòng chảy... Cám ơn trời phật, qua được dòng nước lũ tôi và hai đứa em vợ- cậu Lô cậu Lu bình an vô sự. Người anh rể như tôi mang được cái xe đạp thồ qua suối là may lắm rồi.

Thu hoạch xong. Tạm gọi là thu hoạch, một mùa rẫy nói như phần trên là "không ra cơm cháo gì", tôi vẫn lên thăm lại cái rẫy đáng buồn đó. Ngắm lại những thân cây dài thườn thượt không cháy được vẫn choán hết diện tích cái rẫy, lòng tôi buồn làm sao? 

Cho đến một ngày? 

Vâng đúng vậy thưa bạn đọc, cho đến một ngày đứa em vợ tôi đi 'nghĩa vụ' bên Cambodge về. Cậu nó vô nghề vô nghiệp không lương không lá chi sau ngày mãn nhiệm vụ. Trần thiên Danh đã cặm cụi cùng anh rể vào lại đám rẫy đó, cưa hết những thân cây này đốt lại thành than vụn. Hai anh em hì hục đem về bán được mớ tiền khiêm tốn do than không đẹp bằng nghề đốt than chuyên nghiệp. 
                                                     ***
  Đót phá rẫy người khác chưa khô đó là sự 'trả thù giữa người và người' khi tranh nhau nguồn sống của rừng thiêngNgười làm rẫy ngoài đổ mồ hôi công sức mẻ rìu hư rựa còn nỗi lo nơm nớp sợ bị phá hoại bị trả thù. Những phận người tranh nhau nguồn sống từ những đám rừng thâm u nói trên. Con người còn giành giựt "quê hương" của muôn thú lại còn thêm nỗi sợ trả thù của thiên nhiên khi lo chống chọi lại sự phá hoại của thú rừng chim muông nữa.  Bầy thú hoang tinh quái lắm , chúng chỉ đợi những lúc rẫy có được cái ăn là xuât hiện.  Nào khỉ bẻ bắp, nào heo rừng ủi trốc sắn, khoai. Tôi kể đến sự phá hoại của mấy bầy keo xanh ,từng bầy cũng phá bắp không kém khỉ ; một bầy keo bay sà xuống thì khung cảnh chắc khác gì   'máy bay oanh tạc' ! Những trái bắp năng tròn trong phút chốc bị những cái mỏ khoắm xé toạc rách nát tơi bời trông đến 'nhức mắt , nát lòng'   . Những con sóc 'bí hiểm' chẳng kém, bao trái dưa lấy hạt đến hồi chín đều bị chúng moi ăn hột .

                                  
Thế là bà con dân làng vô làm chòi coi rẫy. Đêm đêm tiếng phèng la, tiếng mõ cóc cóc, cái gì gõ được đều đem ra chòi 

.
 Cánh rừng tĩnh mịch ban đêm , mùa rẫy thuờng bị khuấy động từ bao âm thanh:

   -huầy huầy 

    -ơi ơi ơi !!! cóc , cóc, phèng phèng ..

Tất cả cộng lại, tạo thành một tạp âm LẠ LÙNG MA QUÁI  hay có thể là một KHÚC "NHẠC RỪNG KHUYA".


Rừng khuya, người và thú canh nhau, rình rập từng giây phút. 
Dù ngày hay đêm, nhất là đêm về con người phải canh chừng để giữ cho được miếng ăn. Nguồn sống giữa rừng hoang chính đó là mồ hôi hòa chen nước mắt sau bao lần cây rừng ngã gục, lửa hừng hực cháy,  rồi mun tro...

  Tôi muốn nhắm mắt lại để trí nhớ khơi lại bao hình ảnh, âm thanh ngày đó ra sao? Đúng thật, như một khúc NHẠC RỪNG quay lại, đó chính là những miếng rẫy đượm bao kỷ niệm chua cay, rơm rớm u buồn khiến mỗi lần bưng chén cơm lên, tôi càng thêm trân trọng "hạt ngoc trời ban" ./.


DHL 11/10/2014

edition mùa Dịch Covid-19 
28/3/ 2021 USA
 

 40 NĂM SAU, 2021 tại xã Tân Xuân - Sơn Mỹ (Hàm Tân) mới  đều thấy trải rộng một màu xanh của mì hai bên đường, bạt ngàn tít tắp như lấn át những vườn keo non.  hình rẫy của Anh Trương Văn Đồng, một chủ trang trại nông nghiệp đươc lên mặt báo Vietlinh.vietnam


           đường qua xã Sơn Mỹ năm 2021

BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT- THẢM NẠN MỌI MẶT MÀ TRUMP GIEO CHO NƯỚC MỸ KHÓ BỀ HÀN GẮN

thưa bạn đọc Trước bầu cử 2024 có nhiều nhà phân tích chính trị đã cảnh báo cho nước Mỹ về những biến loạn cho Mỹ và cả thế giới nếu Tru...