Saturday, September 6, 2025

TUYỂN TẬP HỒI KÝ audio ĐINH HOA LƯ TẬP 9

 






        

    Về tác giả Đinh Hoa Lư



Tác phẩm và giá trị văn học



  • Tác phẩm: Chủ yếu là các hồi ký, ký sự chân thực phản ánh trải nghiệm cá nhân trong bối cảnh cuộc chiến tranh khốc liệt, đời sống người dân và chiến sĩ miền Nam. Tác phẩm mang chiều sâu lịch sử, nhân văn và văn hóa, góp phần giữ gìn ký ức văn học miền Nam dưới góc nhìn riêng có, chân thành, đầy cảm xúc, gần gũi với độc giả.
  • Phong cách: Gần gũi, chân thành, truyền tải cảm xúc sâu sắc về chính trị - xã hội; ghi lại những biến cố lớn như Hiệp định Paris 1973, Mùa Hè Đỏ Lửa, đời sống tỵ nạn… Tác giả cũng tham gia dịch thuật một số tác phẩm văn học nước ngoài sang tiếng Việt để mở rộng tầm nhìn cho văn học Việt.

  • Ý nghĩa: Ông không chỉ là người kể chuyện mà còn là người chứng nhân văn học qua những trải nghiệm thực tế, góp phần làm phong phú kho tàng văn học miền Nam trong thời kỳ chiến tranh và hậu chiến.

2. Văn học miền Nam trong chiến tranh (1954–1975)


  • Bối cảnh xã hội – chính trị: Sau Hiệp định Genève 1954, miền Nam Việt Nam trở thành vùng chiến sự với cuộc chiến tranh ngày càng mở rộng, xã hội đan xen nhiều luồng tư tưởng, chịu ảnh hưởng mạnh từ văn hóa phương Tây, đồng thời tồn tại môi trường xã hội tiêu thụ phức tạp dưới áp lực chiến tranh.

  • Đặc điểm văn học: Văn học miền Nam có sự đa dạng phản ánh mâu thuẫn xã hội, giữa văn học chính thống và phản kháng, giữa truyền thống và hiện đại, cũng như giữa các khuynh hướng tư tưởng: chủ nghĩa quốc gia, phản chiến, và đa số các xã hội tư tưởng khác nhau.

  • Thể loại nổi bật và vai trò: Ký, hồi ký, tùy bút phát triển mạnh, bên cạnh tiểu thuyết, thơ ca... Văn học vừa là công cụ tuyên truyền, vừa có sự phản kháng âm thầm trong điều kiện kiểm duyệt khắt khe của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (sắc luật 007).

  • Chủ đề chính: Chiến tranh, thân phận con người, những biểu hiện xã hội tiêu thụ và suy đồi đạo đức, đau thương mất mát, khát vọng hòa bình và miền Nam tự do. Các tác phẩm thể hiện tiếng nói đa chiều, bao gồm cả tinh thần lạc quan, phản kháng và bi kịch.



source

AI


Friday, September 5, 2025

chuyện kể tù binh- MIẾNG BÁNH TRONG RỪNG

 

QUE DIÊM CUỐI CÙNG (bài edit)

Chập chờn làn khói tím bên mái tranh xưa
khơi bao niềm thương nhớ.
Rừng chiều quạnh hiu bên vách đá cheo leo
như bao niềm ước mơ...

(Đường Chiều Sơn Cước / Minh kỳ Lê Dinh)












hình minh họa: những đồi sim vùng rú càn Ái Tử


     Thôn Xuân Khê, tên nghe khá thơ mộng nhưng có thể ít người Quảng Trị biết đến nó. Hơn nữa, theo trí nhớ của người viết, địa danh này chưa hề được ghi chú trên bản đồ ngoại trừ Thôn Ái Tử đã có từ lâu trên bản đồ Bộ TTM/ VNCH. (dưới)

    

tác giả lấy bản đồ Bộ TTM/QLVNCH cũ và đánh dấu 5 trại tù -đánh số màu đỏ- tác giả mô phỏng theo trí nhớ khi lấy con suối lớn còn gọi là Rào Vịnh chảy từ núi Ba Lòng phía tây uốn khúc chảy qua các thôn Hiệp khế, Xuân Khê, Nại cửu Phường về hướng Thôn Ái Tử.

 Người viết thấy cần nhắc lại -5 trại tù  do Bộ Đội CS coi kể từ khi các trại tù từ ngoài Cồn Thiên Gio Linh vào nhập lại với Ái Tử thì gọi tên mới là Đoàn 76 (trước khi sáp nhập còn gọi là Đoàn 74 số tù binh từ Ba Lòng về vào ngày 21/5/1975 trong đó có Tác Giả) , Theo con sông Rào Vịnh đó, có 4 trại nằm theo con sông Rào Vịnh này chỉ có trại 2 là nằm xa sông này. Con sông Rào Vịnh sẽ chảy về vùng Ái Tử, trong bản đồ nằm giữa hai con sông Vĩnh Phước và sông Ái Tử 


trại 1- từ Đại úy đến Trung tá

trại 5- chiêu hồi vc bị đi tù cải tạo

trại 4- từ thượng sĩ đến trung úy và trung đội trưởng nghĩa quân

trại 3- từ thiếu úy đến trung úy kể cả trung đội trưởng nghĩa quân

trại 2- chuẩn úy và thiếu úy kể cả Trung đội trưởng nghĩa quân

=========== 


    Từ Thôn Ái Tử, lên hướng núi khoảng vài cây số,  thì đến Thôn Xuân Khê. Vùng này, có một con suối lớn uốn khúc chảy về đến vùng Ái Tử. Suối không lớn nhưng đủ cung cấp nguồn sống cho bốn trại tù cùng mấy thôn nghèo heo hút sống cạnh giòng nước.  Người dân mới về lại sau 1975, nên thôn Xuân Khê ngày đó chỉ có vài mái tranh nghèo, đìu hiu ngó qua trại tù chúng tôi tức là Trại 4 Ái Tử. 

    Năm mươi năm rồi, người viết vẫn nhớ về Xuân Khê nằm khuất sau những mảng đồi sim tím. Tháng tám về, những đồi sim có trái chín đầy. Bóng tù thấp thoáng trong mấy lùm sim vào những ngày đi rừng đốn gỗ.


     Người viết nhớ làm sao, hình ảnh chiếc cầu ghép bằng nhiều tấm 'ri' sắt của Mỹ do tù đi kiếm cùng ghép dựng bắc qua con suối lớn. Hình ảnh ngày xưa quả là một thế giới một trại tù cách biệt với dân. Một chiếc cầu sắt tạm bợ, níu giữ bằng nhiều sợi kẻm gai, được bắc qua con suối trước lúc dân làng lác đác hồi cư. Người kể chuyện xin lan man xa đề một ít về thôn làng ở đây: Thời xa xưa, theo lời kể của người cậu họ làng ngoại Nại Cửu, tôi được biết có nhiều "ông khai canh" từ Phủ Triệu Phong bên kia sông Thạch Hãn từng lên đây kiếm đất xây làng mới. Đó là những thôn làng heo hút rất thưa dân gần núi hơn là gần biển. Có thể lâu đời, nhưng ít thế hệ theo ông khai canh lên đây tìm đất do quá thiếu thốn và hoang vu. Trại tù số 4 sát cạnh một thôn gọi là thôn Xuân Khê, ngó qua bên kia là Nại Cửu Phường, tức là một nhánh của làng ngoại tác giả. Có lần người viết đi củi cho Trại qua Nại Cựu Phường còn gặp được người dì bà con trong họ ngoại ngày đó bà dì này từng qua Thành phố QT làm cho tiệm hàng của Dì ruột...Con đường đi rừng của người tù trại 4 chúng tôi đi lên sẽ gặp Trại 5 và xa nhất là trại Một, cũng theo lời cậu tôi đó thôn Hiệp Khế. Những cái tên này, thiết nghĩ chỉ có người viết biết còn anh em trong trại ít ai biết được.




 Tiếng cót -két của chiếc cầu ri, mỗi khi những người tù qua sớm và từng làm tôi hồi hộp.  Chẳng khác mọi bữa, chúng tôi đi rừng thật sớm. Đó là lúc  nhiều đóm sao khuya còn lấp lánh khi mọi vật trong đêm đen vẫn còn say giấc ngủ. Người nào cũng có chén cơm 'tiêu chuẩn' lưng lửng, bới theo trong cái lon gô. Lon gô của người kể, giờ lại nằm lọt trong cái bao cát, tôi mang xéo một bên nách. 

    "Vũ khí" chúng tôi giờ đó là rựa, rìu cũng từ trại rèn ra xong phát cho từng người. Chúng tôi đã quen thuộc với chuyện đi rừng. Ai cũng rành chẳng khác chi "sáu câu vọng cổ" của nghệ sĩ cải lương ngày cũ. Chúng tôi lại thương cho mấy cái bao tử, lúc nào cũng đòi hỏi có thứ gì 'dằn' vào cái khoảng trống không.  Phần cơm đi rừng đã ít, lại chỉ được ăn để có sức mang gỗ về trại. Thế thì phải "linh động"  cho vấn đề sinh tồn. "Ngộ biến tùng quyền"- có nghĩa là trong 'cái đói sẽ ló ra cái khôn'.  Chúng tôi luồn vào rừng sắn của trại trong đêm, tìm bụi nào cao, nhiều củ...có nghĩa chỉ cần nhổ trộm hai, ba bụi sắn thôi là đủ. Những đồi sắn bạt ngàn, cả mấy trăm bàn tay người tù, khai hoang vỡ đất. Hai năm nay, bao công phá núi san rừng, đốt dọn, lượm đá, đắp vồng...Chỉ vài bụi thôi, chẳng thấm tháp gì trong hàng muôn triệu cây sắn, anh em chúng tôi có "cái no" để về lại trại.

  Tôi nhổ trộm hai ba gốc sắn; chỉ ba gốc sắn nhưng đã đầy cái bao cát. Thời gian đó đi rừng còn "giao khoán", có nghĩa chúng tôi đi cùng tổ không có bộ đội CS dẫn đi, miễn sao tối có gỗ về trại là được. "Trời đất" vừa sụp đổ chẳng ai còn mộng chạy đâu. 


*

   Con đường lên Rừng "Anh Tuấn" khá xa, khoảng hơn mười cây số. Thời gian đó, người dân làng nào khai hoang vùng rừng nào thì chúng tôi tạm đặt cho cái tên làng đó cho dễ nhớ. Làng (thôn) Anh Tuấn ở quận Triệu phong lên khai hoang trên này. Chúng tôi đặt khu rừng mới này là "rừng Anh Tuấn".  Đứng từ rừng "Anh Tuấn", chúng tôi có thể thấy được con đường đèo Ba Lòng tức là gần giáp với Hướng Hóa, phía bắc. Nhìn về huớng tây, rừng Trấm nay đã tan hoang sau hai năm vừa dân vừa tù khai phá. Gỗ cây về làm trại chúng tôi phải đi càng lúc càng xa hơn. Sau này ngay cả đi củi cho trại cũng xa. Trấm đang xây dựng đập-Đập Trấm- những mảng đất khai hoang  đứng xa vẫn thấy hình dạng loang lổ.

     Vừa đi tôi vừa miên man nghĩ đến hình ảnh buổi chiều vác gỗ về trại. Đó là những thời gian cuối cùng của một ngày lao động, khi ánh chiều tà còn lại những vạt nắng cô đơn trên những mảng đồi đầy sim chín. Chúng tôi sẽ  thoải mái tận hưởng những trái sim chín mọng, ngọt ngào.


  Rừng dần dà gần lại trước mắt. Rừng càng xa, càng hi vọng còn nhiều cây thẳng.   Chúng tôi ngang qua các rẫy sắn của người dân đi thì trời sáng hẳn. Người dân từ những làng xa xôi dưới miệt đồng bằng phải lên đây. Họ từng chấp nhận ăn sắn thay gạo. Nhưng thật phũ phàng, các rẫy sắn hay bị heo rừng phá nát. Phần còn lại chia nhau mỗi người chỉ được vài thúng sắn tươi. Nhiều bận đi đi- về về, xa xôi, tốn kém cùng  "cơm đùm gạo bới", rốt cuộc bà con chẳng có chi,  nghèo lại hoàn nghèo - đói vẫn hoàn đói.


    Toán đi chặt gỗ giờ băng qua vài hẻm núi mới vào được khu rừng rậm rạp, ít dấu chân người. Có như vậy mới hi vọng còn nhiều cây thẳng. Chia nhiệm vụ xong, chỉ còn tôi ở lại dưới khe lo chuyện nấu. 

   Hình ảnh cái hộp quẹt nội hóa- chúng tôi hay gọi là "bít- kê" (briquet) làm tại Chợ Lớn nhưng trong tù đã thành thứ hiếm. Nếu ai còn có cái zippo (tức là hộp quẹt Mỹ) thì  đã bị cán bộ CS thu giữ lâu rồi. Người viết lại lan man chuyện này cũng từ câu chuyện của "LỬA". Cũng đúng, do lửa là nguồn sống cho chúng ta, cho tù. Trong tù lửa là phương tiện đầu tiên cho ai muốn "cải thiện linh tinh"- để giúp no bụng.

    Nhưng nếu ai đó còn cái hộp quẹt dù nội hóa, thô sơ cũng phải cần có dầu hỏa hay xăng và một thứ rất quan trọng đó là ĐÁ LỬA. Ôi chuyện kiếm cho ra đá lửa trong tù quả thật quá hiếm và quá quý.


hộp diêm thống nhất




    Thời gian một mình dưới con khe đó, tôi phải có LỬA. Đó là điều tôi cần có, khi nhận nhiệm vụ nấu sắn. Tôi đã thủ sẵn trong người hộp diêm THỐNG NHẤT- vuông vuông- trong đó còn đúng 3 que diêm. Mớ củi khô tôi lo chẻ nhỏ,  một ít lá bổi làm mồi lửa.


    Những khúc sắn trắng "nõn nà" trông hấp dẫn chẳng khác chi "làn da người đẹp", giờ nằm gọn trong cái nồi gang do tổ chúng tôi mang theo. Hồi đó, trại  chúng tôi có đúc song nồi gang. Nguyên liệu để đúc có từ mấy chiếc thiết vận xa M113 bị cháy trong rừng. Tù được lệnh lên rừng cưa về. Trại sẽ nấu ra thành song, nồi, thau, vá  (cán bộ CS người bắc gọi là môi). Đúc xong, trại phát về cho từng lán, khối, tổ. Ngang đây, người viết xin nhắc về  một người có liên quan đến những cái nồi gang đúc này. Anh đó có tên là Viễn Khởi người Huế. Anh là người tổ trưởng đúc nồi cho Trại Bốn chúng tôi. Sau này anh Viễn Khởi còn sống hay chết chúng tôi chẳng biết. Một thời gian ngắn  sau khi đúc song nồi, anh biệt tích luôn. Chẳng ai còn biết gì thêm về nhân vật này.

Người tù "cải thiện" thức ăn cần nhất là lửa nấu những nơi kín đáo, muốn có lửa thì cần hộp quẹt hay diêm que Thống Nhất.


    
Tôi phải quẹt đến cái diêm cuối cùng tôi mới nhen được ngọn lửa. Trống ngực đập loạn xạ, tôi chẳng màng đến những con muỗi rừng đang vo ve hút máu tới tấp.  Mắt tôi căng ra, miệng đang dồn hết sức thổi phù phù...  Ngọn lửa bắt đầu leo lét cháy. Những làn khói yếu ớt từ từ tỏa lên bên hóc đá dưới con khe róc rách, ánh sáng mập mờ vì những tán cây rậm cùng sườn núi trên cao. Những đóm lửa đã bắt đầu bén lửa. Tôi chưa kịp mừng...
Chợt một ngọn gió xoáy nhỏ, thật ác, không biết từ đâu vụt qua. Ngọn lửa vừa bén, yếu ớt bốc lên chợt lịm tắt. Tôi hoảng hốt, run bắn người.

        -Ôi cũng do mình kiếm quá ít củi khô...
         -Trời ơi! mình phải làm răng đây?

 Que diêm trong cái hộp diêm đó là que cuối cùng tôi vừa quẹt xong. Nếu tôi nhảy qua bên bụi kia lấy ít mồi khô thì chút lửa than còn lại đó sẽ tắt hết. Làm răng, làm răng... tôi thực sự hoảng hốt. Ấn tượng cuống quít đó thật khó quên. Mấy anh đó,  trong rừng ra sẽ đói dường nào. Tưởng tượng bao thất vọng của cả toán. Vác cây ra, ai cũng đinh ninh sẽ có một nồi sắn chín, ăn no đến "phình bụng"...

    Bạn đọc còn nhớ các phần cơm bới theo giờ ở đâu? Cả toán đã ăn hết trước khi xách rựa vào rừng. Ai cũng đinh ninh sẽ có sắn nấu do tôi lãnh nhiệm vụ nấu ở khe này:
             -Làm răng! làm răng hè?!

    Người tôi thật sự run lẩy bẩy do quá lo cùng hối hận.
  Cuộc đời có nhiều lúc chúng ta run rẩy do yếu bóng vía sợ ma quỷ hay do sợ chết, mất của cải quý báu nào đó. Những lúc no đủ, dư dật khó ai đồng cảm với nỗi xúc động của một người tù "mất lửa" đang đối diện với lương tâm do việc làm không tròn. Tôi sẽ hối hận tột cùng khi chứng kiến nỗi buồn lòng, thất vọng do sự hành hạ của những miếng ăn bị mất. Những cái bụng trống không, thèm khát nhiều ngày như thế nào. Một lo sợ, run rẩy sau bao năm tôi vẫn còn nhớ. Thứ cảm giác chua cay, đau xót do miếng sắn thơm ngát dẻo ngon sẽ chín nhờ LỬA; nhưng vụt mất đi do một ngọn gió vô tình.
 
 Một mình tôi thiếu trách nhiệm không giữ  được ngọn lửa, cho lòng tin của mọi người, giờ làm sao?


  Một tia sáng lóe ra trong trí tôi, chỉ một thoáng giây!

   Miếng vải mỏng màu đà tôi vừa vá đắp vào hai bờ vai giúp đỡ đau vai khi vác gỗ, chính nó là cứu tinh ngay tích tắc đó. 

                -XO...ẠC!!!

     Không cần suy tính, bao nhiêu sức lực của một ý nghĩ thoáng nhanh... Miếng vải là 'cứu tinh' thật rồi- nó có pha sợi ni lon nên bắt lửa rất nhanh.

        Một mình dưới hẻm núi, tôi reo lên như một người điên:


           -Cháy ! cháy! cháy lên nữa 'đi em' lửa đã lên rồi!


Tôi muốn hét lên thật to cho hai bên vách núi cùng  chia sẻ với tôi niềm vui được LỬA. Một khoảnh khắc, nhớ, cảm thông. Hồn tôi trôi nhanh về một thuở hồng hoang nào đó - tổ tiên ta tìm ra ngọn lửa. Lửa bao ngàn năm tạo nên bao mạch sống ấm no. Nhưng giây phút đó, chỉ một mình tôi dưới con khe mập mờ ánh sáng của chốn rừng thiêng.



   Giờ nồi sắn đang sôi sùng sục như "reo vui" cùng chủ. Cái nắp nhôm đậy trên mấy lớp lá rừng đang rung lên từng chập...

        - Sắn, sắn, sắn chín rồi, các anh ơi!!!

     Một niềm vui không hẹn mà gặp trong những ngày tháng buồn rầu, đói khát, vô vọng và chẳng có gì là vui... 

    Tôi cẩn thận đổ nồi sắn chín đầu ra, trên lớp lá chuối rừng. Những củ sắn vừa chín, nứt nẻ, thơm phức. Tôi vừa làm, vừa ăn thử một miếng sắn chín, vừa gật gù như tự thưởng công. Đậy mớ sắn đó lại, tôi còn nấu thêm một nồi nữa. Nồi thứ hai này nếu ăn không hết, cả toán sẽ chia nhau, giấu đem về trại. Bỏ thêm vài que củi, tôi lấy thêm một củ sắn ra ăn như tự 'liên hoan" hay ăn mừng cho tôi khi vừa thoát một tai nạn "hết diêm -không lửa". Vừa nhai tôi vừa cất tiếng hú gọi mọi người. Xa xa có tiếng hú đáp lại- họ đang ra.
       Ngọn gió lạnh lùng quái ác kia nó đang trở lại. "Hắn" đang xuyên qua lòng khe.  

        -"Thằng khốn nạn" đang trở lui!

     Nó như muốn trêu tôi hay muốn hại tôi lần nữa. Khi 'hắn' vụt qua cái khoảng trống trên bờ vai áo mà tôi vừa xé, làm tôi thấy lành lạnh.

 Không sao do tôi đã chiến thắng, sắn đã chín, đã sẵn sàng cho các anh đó ra ăn.

Bỗng dưng tôi hưng phấn hẳn lên, vội cất tiếng hú thật to gọi các anh trong toán thêm lần nữa.


*

                                     

                          hình minh họa-đường về trại tù Ái Tử


    Chúng tôi ra khỏi rừng thường trời đã xế bóng. Trời nắng đó là những ngày vui. Sẵn sàng vác gỗ lên vai, chúng tôi hướng về đồng bằng, chân bước nhanh như nhớ thương dưới đó.

    Đoàn người vác gỗ nhấp nhô. Bóng họ ẩn hiện qua mấy trảng đồi. Tháng Tám về, không gian buồn tênh chen trong màu tím hoa sim như cam phận hay cảm thông cho những người thua trận. Ánh tà dương từ từ khuất dần phía tây.  

    Trong rừng sâu núi thẳm, nơi gió núi mưa rừng có những bóng tù len lỏi đi tìm gỗ thẳng. Một ngày xưa có bóng chiều bảng lảng xuống nhanh bên mấy trảng đồi có rừng sim chín mọng. Vị ngọt của trái rừng như an ủi cho bao nỗi buồn da diết đang len theo bước chân người tù vác gỗ đi nhanh./.

ĐHL ký ức tù binh 

tu bút  by ĐHL 


5/9/2025

Thursday, September 4, 2025

CHUYỆN BUỒN CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ LAI MANG HAI DÒNG MÁU MỸ -VIỆT SAU NGÀY TÀN CUỘC CHIẾN (edit)


      


 





CHUYỆN THẰNG ĐEN XẤU SỐ TẠI XÃ TÂN SƠN NGÀY XƯA


     Vừa lên khỏi con dốc Sơn Mỹ một đoạn là quán chè mụ Mít. Cái quán đơn sơ. Một cái bàn gỗ ọp ẹp, hai tấm ván bìa làm thành hai cái ghế dài, nửa tấm ván lớn làm bàn. Chỉ vậy, mà quán chè mụ Mít khá đông khách. Khách phần đông là đàn bà, con gái, những người đi bán than dưới chợ tỉnh La Gi về. Nhà họ quanh quất quán này, không xa lắm.


hình dưới: mấy o thồ than từ xã Tân Sơn đang ngang qua chợ Cam Bình xã Tân Thiện để về bán tại chợ tỉnh Lagi



    Quán mụ bán vài loại chè bình thuờng như đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh ... không màu mè như chè đô thị, tuy vậy mà đông Khách. Tầng lớp lao động, rẫy rừng, ly chè, mụ Mít đập cho vài cục đá lạnh thế là họ 'thỏa mãn' rồi. Mụ nhớ, thì mụ rắc cho một giọt dầu chuối cho thơm ly chè, nhưng mụ quên thì thôi, không ai phiền hà.



  quán nước bên đường 1995 (dốc Sơn Mỹ xuống chợ Cam Bình, hình tác giả 1995  )


    Trời xế chiều. Mấy o bán than, mấy ôn đạp xe buôn heo con, coi bộ cũng hết. Hơn nữa, mụ chỉ còn một ly chè cho thằng con út. Con trai mụ đi rẫy, chiều nào hắn cũng về sớm. Mụ Mít giờ đang ngồi thừ người ra; dáng thư giãn sau một ngày bán buôn mệt nhọc. Ngó vậy mà trong lòng mụ mấy hôm nay như "sóng cồn, lửa cháy". Mụ ghen tức với mụ Hồng bán cá trên chợ xã Sơn Mỹ: 

                  -Con mệ Hồng bựa (bữa) ni oai dữ rứa (vậy) ta!? hừ! cả nhà con mệ sắp đi Mỹ rồi mà, răng  (sao) mà không oai ?!

     Mụ Hồng có đứa con lai Mỹ nhưng không là con nuôi mà là con ruột. Bởi nó lai mẹ nên pha hai dòng máu thành ra là đứa con lai đẹp trai là đằng khác. Có cái may mắn, con mụ Hồng là con lính Mỹ trắng nên chẳng hề có màu da đen như mấy đứa Mỹ đen khác. Mấy hôm nay cả nhà mụ Hồng đang rục rịch chuẩn bị đi Mỹ. Phái đoàn phỏng vấn xong trước tết. Nghe đâu giấy mời xuất cảnh cũng gởi về rồi. Gần cả tháng này mụ Hồng  đã nghỉ bán cá ngoài chợ. Trong chợ, ai cũng trầm trồ "chỉ chọt" mụ Hồng. Tuy chưa đi Mỹ mà mụ coi bộ "trắng da dài tóc", huống chi qua bên nớ- xứ Mỹ giàu có ngất trời. Thằng con trai của mụ Hồng đã xin nghỉ học cấp ba dưới thị xã La Gi, chuẩn bị đi cùng gia đình.

    Trong lòng mụ Mít vừa buồn vừa đau ghê gớm. Mụ quay quắt trong người, ăn không còn biết ngon, ngủ thì hết còn thẳng giấc như bữa trước. Không biết chuyện đau của mụ từ "tiếc của" hay "sám hối ăn năn". Hoàn cảnh mụ Hồng khác với mụ Mít; do mụ Mít chỉ tình cờ "lượm" mấy đứa con lai Mỹ đen tận ngoài Đà nẵng. Sau đó mấy đứa con lai này cũng theo ba mạ nuôi vào Bình Tuy theo diện KHẨN HOANG LẬP ẤP 1973 đi từ Đà Nẵng nên chúng đã có tên trong sổ gia đình rồi.




    
    Con lai Mỹ trắng thì làm sao vào tay mấy mụ được chỉ còn lại mấy đứa con rơi Mỹ đen "quỷ tha ma bắt ", ngoài Đà Nẵng không ai thèm nuôi mà họ  còn ghê là đằng khác. Trước tiên do Mụ Mít nuôi để làm phước, sau là có cơ hội kê khai thêm vào sổ gia đình. Thời chạy giặc 1972 ngoài Đà Nẵng,  có thêm nhân khẩu tức thêm gạo, thêm mỳ không thiệt thòi chi. Tiếp đến, vào Bình Tuy có một khẩu lại thêm gạo và tôn lợp nhà nên còn lợi thêm.

    Thằng Đen như mụ Mít hay gọi cũng giống như những đứa con lai da đen khác, đa số chúng đều được gọi là " thằng đen" cả. Sau 1975, hết trợ cấp, mấy đứa con nuôi này trở thành những tay lao động CHÍNH trong nhà. Chúng làm than, củi cùng phá núi, san rừng chi chúng đều rành rọt. Chúng là con lai nên vóc dáng to lớn, lao động mạnh nên chẳng ai cảm thấy thiệt thòi; trái lại, sau 1975 tại các vùng rẫy rừng người ta còn mừng là đằng khác.
    Chỉ có mụ Mít hôm nay quả là thiệt thòi nhất trong xã. Có thể là "quả báo" hay chăng?  Chuyện do Mụ bắt thằng Đen làm việc quần quật ngày này qua tháng nọ.  Mọi ngày nó phải vào rừng rất sớm, tối mịt mới về. Con trai mụ làm rừng chỉ đôi ba bữa lại 'than đau-van mệt' ; đã biếng thế, nhưng mà mụ Mít bới cho con trai mình toàn cơm trắng cá kho khô. 

Còn thằng Đen? 





    Nó, quanh năm suốt tháng mịt mù trong rừng. Hết phát rẫy, đợi khô xong đốt dọn. Xong, mụ bắt làm than kiếm thêm tiền. Mụ bắt chước do thấy thiên hạ đi bán than, mấy chiếc xe đạp thồ nghểu nghện mấy bao than cao ngất, có tệ chi "cũng hơn trăm bạc!" mụ Mít chắt lưỡi  thèm thuồng.


    Đen làm trong rừng cật lực thế mà Mụ cho thằng Đen ăn ít quá! bới vào rừng chỉ toàn là sắn lát dính vài hột cơm trắng cho có; ruốc kho khô mặn chát, không có chi tươi cả.

    Mấy bữa nó đau. Cực quá, nó xin mụ cho nghỉ ở nhà một ngày cho khỏe nó gắng làm bù. Nó coi bộ sốt thiệt. Muỗi trong rừng cắn nó bao lâu nay sao mà không sốt rét cho được? Thế mà mụ chửi, mụ la. Mụ Mít bảo nó làm biếng, không biết công ơn mụ lượm nó từ Đà Nẵng vô; nuôi nó lên vóc dáng như hôm nay.


    Thế là Đen tuy đau trong người, nhưng hắn vẫn phải tiếp tục lủi thủi vác rìu rựa vô rừng.


    Một bữa trong làng xôn xao, thằng Đen con mụ Mít chết rồi, chết vì sốt rét! Nhà mụ cũng võng nó về trạm xá dưới huyện Hàm Tân lo cứu nó, nhưng nó chết giữa đường.


Tội nghiệp, Thằng Đen chết thật lặng lẽ. Trong làng chẳng có mấy người đi đưa đám nó. Cái mả nó sơ sài, nằm bên cồn đất xấu rìa làng. Nơi này là đất bỏ hoang, không ai canh tác.

                 *

Thời thế đổi dời!


    Mấy hôm nay mụ nghe thiên hạ đồn 'nhà giàu' mô từ Sài Gòn về tận thôn lùng sục mua con lai. Nghe đâu giá mỗi đứa con lai tới "MƯỜI MẤY CÂY VÀNG"- sau khi hoàn tất 'thủ tục' giấy tờ xong.

Ôi! "cả đống vàng " trong tay, mà mụ nỡ lòng vứt đi. 


    Mụ Mít mấy hôm nay như kẻ mất hồn. Người mụ trông 'như ngây như dại', ăn không ngon, ngủ chẳng yên. Mấy đứa con mụ Hồng đi lo thủ tục "cắt khẩu" trên huyện về, khi lái honda qua nhà mụ, chúng còn ngó vô nhà mụ như an ủi mà lại muốn khoe khoang, làm mụ Mít tức muốn sôi gan, lộn ruột.


    Đêm nằm mụ trăn trở do không ngủ được. Trong giấc ngủ chập chờn, mụ thấy hình ảnh thằng Đen đang thất thểu bước vào rừng. Dáng nó ốm, cao lêu nghêu. Cái quần đùi cụt, chiếc áo ka-ki bạc màu, vá mấy nơi...

Ánh sáng phía rừng chợt lóe lên; những tia sét lóa cả mắt, kèm theo tiếng nổ ầm ầm của sấm làm mụ Mít giật thót mình. Những giọt mưa đầu mùa bắt đầu rơi mạnh, nghe "rào rào" trên hai mái tôn xi măng. Nỗi sợ mơ hồ ập đến, làm mụ co rúm cả thân người vào tận góc giường như muốn trốn chạy một ám ảnh nào.


PHẦN HAI

 THẰNG ĐEN THỨ HAI - TỐT SỐ  


    Thời gian tiếp theo, cả nhà mụ Mít không biết đổi đi đâu, không còn ở vùng Sơn Mỹ này nữa. Cái quán, người chủ khác bán. Khách ăn chè đôi khi rảnh rang bàn tán chuyện nhà mụ Mít. Ít người thuơng cho hoàn cảnh của mụ còn nói "đáng đời!" Nhà mụ Mít bỏ đi do chẳng còn ai đảm trách việc nặng trong rừng sau khi thằng Đen chết, lại còn cái miệng đời "thị phi, to nhỏ" là một chuyện khác. 
Chuyện đi Mỹ càng ngày càng rầm rộ trong một vùng quê "chó ăn đá gà ăn muối" này. Dĩ nhiên không ngoài cái chuyện "mua bán, gán ghép" những đứa con lai còn sót lại sau cuộc chiến tranh. Nói đúng ra khi những cặp mắt "lùng sục" tìm ra những đứa con lai còn sót lại nơi "khỉ ho cò gáy"- một vùng quê sắn khoai còn thiếu, huống gì cơm.

    Ngày đó khi những đứa con lai tại đô thành đã ra đi hết, thì những đứa con lai tại đây dù da đen cũng quý "hơn vàng". Suy cho cùng, da chúng 'càng đen' càng đúng "nai vàng chính hiệu" đó thôi.          



cảnh Tết 1995 -Chợ Cam Bình, xã Tân Thiện thuộc miệt dưới so với xã Tân Sơn 

     Cu Đen (lại một thằng đen khác) lúc mấy tuổi còn đi giữ bò làm rẫy hắn có tên là Cu Đen. Hắn con mụ T. vừa nghe tin chịu "làm chồng" con gái ông thầy thuốc thú y miệt dưới, tức là xã Tân Thiện, để con gái ông được đi Mỹ theo diện con lai.

từ ba thôn Hà -Mỹ- Lễ  (người viết được biết do chữ tắt từ 3 xã Gio Hà, Gio Mỹ và Gio Lễ di dân vào Bình Tuy 1973) xã Tân Sơn cũ (sau này là xã Sơn Mỹ) ngó lên ngọn núi Bể và ngọn Mây Tào cao hơn -hình của tác giả tháng 7/1995 trước ngày đi Mỹ


    Đen coi như bắt đầu "đổi đời". Hắn đương nhiên bỏ nghề làm rẫy để bắt đầu "tập tành" nếp sống quá mới lạ đối với hắn. Thật vậy, từ lúc hắn sinh ra cho đến tuổi trưởng thành, hoàn toàn là những ngày cơ cực. Mười mấy năm, rẫy rừng làm bạn, hết cái roi giữ bò thì những ngày mót sắn, lượm chai (chai là mủ cây dầu chảy xuống đất đông cứng lại người ta lượm bán cho dân đi biển hơ nóng ra trét ghe thuyềntrong rẫy.  Mẹ hắn do cái tình mẫu tử- "rứt ruột" sinh ra hắn nên cũng không quá bỏ bê hay hành hạ "núm ruột" của mình. Có những ngày mạ hắn đem Đen đi xin học, dù đã quá tuổi, từ lớp một cho đến lớp năm trường làng. Đen tuy xấu tướng nhưng lại là người con có hiếu. Người con này lao động rất siêng năng để bù lại thời gian đi học, tức nhiên nhà nó thiếu người vô rừng. Sau này có chuyện đi Mỹ,  rồi Đen phải được ăn diện "ra phết" cho giống "rể nhà giàu" mới hợp con mắt. Giai đoạn này chuyện kiếm con lai để đi Mỹ chẳng ai giấu giếm nữa do những gia đình con lai đi Mỹ 'ào ào' ngày nào mà chẳng nghe trên mặt báo hay mấy câu chuyện ở quán cà phê cũng như ngoài chợ. Có một điều đặc biệt, Đen là "rể" trên giấy tờ thôi nên Đen  không bao giờ được "léng phéng" với con gái ông. Chuyện bàn soạn hai bên là chuyện giữa cha mẹ mà thôi.  


Cu Đen từng học tại ngôi trường đổ nát Tân Sơn trên - Trong hình là một lớp 3, có vợ tác giả chụp chung với học trò. Thời gian khoảng năm1983


    Người viết có một chút biết về Đen do hắn có học lớp ba do vợ người viết đi dạy ở vùng này. Nó cao nhất lớp; chuyện này không ai ngạc nhiên do nó là con Mỹ lai, lại đi học trễ. Bởi cao nhất lớp nên lúc nào cũng ngồi sau cùng để khỏi che mắt bạn bè. Tội cho Đen, do tai nó điếc nhiều vợ tôi kêu lên bảng phải nhìn thẳng vào nó ra dấu, nó mới hiểu.

    Trời bù cho, Đen viết chữ rất đẹp ai cũng khen. Mạ nó một thời chịu khổ, kỳ thị, khi đẻ ra nó; nhất là sau khi "thời thế đổi dời"(1975), nói sao hết truân chuyên đắng cay của một người đàn bà có con lai Mỹ?


    Trời cũng bù lại cho mạ thằng Đen này. Sau đó Đen làm rẫy giỏi và học hành cũng "bò" lên được lớp năm trường cấp I. Hình ảnh cái trường rách nát tả tơi, một thằng con lai da lại đen nổi bật trong đám học trò nghèo. Ai cũng nghèo, không rừng thì rẫy. Nói chung người trong làng, ai cũng thân phận giống nhau, chẳng thấy "phân biệt kỳ thị" gì nó cả. 


đổ con dốc Tân Sơn này là về Xã Tân Thiện quê vợ của Cu Đen thứ 2


    Dù sao, Thằng Đen này tốt số hơn Thằng Đen trong phần đầu truyện. Sau này nghe đâu qua Mỹ, Đen cũng đàng hoàng "giữ lời", trả lại đời độc thân cho người vợ con nhà giàu đó và đường ai nấy đi.


    Mạ Đen sau này nghe đâu có về thăm lại xã xưa Sơn Mỹ một lần duy nhất.  Mạ hắn không quên chuyện quà cáp biếu bà con quanh xóm, không sót một ai. Người viết còn biết, người mẹ này còn biếu cho Xã một cái T.V. thật to. Từ đó, không ai còn nghe tin Đen nữa. Bà con bên "vợ" nó cũng chẳng biết gì tăm hơi thằng Đen nơi quê huơng của cha hắn- một đất nước quá mênh mông xa lạ?

    May thay, sau này vợ của Đen tình cờ đọc được bài viết này và liên lạc với tác giả. Người viết khá mừng do được tin Đen khá thành công, an phận nơi quê hương của cha mình. Còn người vợ của Đen sau khi "chia tay", cũng có được đời sống bình thường nơi quê hương nước Mỹ. Tác giả bài này vẫn luôn tin rằng giá như Đen có gặp lại vợ người viết, cháu vẫn nhận ra cô giáo ngày xưa. Còn vợ của Đen cũng không xa lạ gì do gia đình người viết ở xã Tân Thiện (trước kia là Tân Mỹ) nên đều là quen biết nhau cả.

                                        
    Chuyện hai Thằng Đen, hai cuộc đời nơi vùng đất cao khô cằn sỏi đá, là những mẫu chuyện buồn và có thật của những đứa trẻ lai bất hạnh, lạc loài. Chuyện chiến tranh tuy dài lê thê, nhưng ít ai kết vào Thiên Bi Hùng Sử Chiến Tranh của đất nước chúng ta vài mẫu chuyện nho nhỏ- chuyện buồn của những đứa trẻ lai mang hai dòng máu Mỹ - Việt sau ngày tàn cuộc chiến ./.

Đinh hoa Lư 

last edition và tái đăng ngày 4/9/2025

ghi chú: tên của các nhân vật đã thay đổi 

BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT- THẢM NẠN MỌI MẶT MÀ TRUMP GIEO CHO NƯỚC MỸ KHÓ BỀ HÀN GẮN

thưa bạn đọc Trước bầu cử 2024 có nhiều nhà phân tích chính trị đã cảnh báo cho nước Mỹ về những biến loạn cho Mỹ và cả thế giới nếu Tru...