Sunday, August 31, 2025

NGƯỜI BẠN MỸ CỦA BA TÔI


    NGƯỜI BẠN MỸ CỦA BA TÔI.Những năm đầu của thập niên bảy mươi,cuộc chiến ở miền nam ngày càng trở nên khốc liệt,chiến tranh lan rộng không phải chỉ trong những cánh rừng xa mà đã về phía ngoài thành phố nơi tôi ở,Huế những ngày này từng đoàn xe lủ lượt xuôi vào Đà Nẵng,người dân như tiên đoán được mùi vị của một cuộc chiến đẩm máu đang chực chờ bên hông nhà.Ba tôi lúc này ít khi về nhà,Ba đang công tác ở ty cảnh sát Quãng trị,thỉnh thoảng Ba ghé tạt qua nhà rồi vội vã đi,những gia đình của các viên chức Mỹ ở cạnh nhà tôi hình như đang chuẩn bị cho một sự thay đổi mỗi khi họ tiếp xúc với mọi người,dù không nói ra nhưng thâm tâm họ đang nhìn mọi người bằng ánh mắt của một người sắp phải chia tay,sắp phải ra đi không một lời từ biệt.Gia đình của Jame,cũng vậy,Jame ở cách nhà tôi mấy chục mét,vợ của Jame người Việt nghe nói ở đâu đó tận miền tây, họ có một con gái khoảng một hai tuổi,Jame và vợ thường hay bồng con mổi tối đến nhà tôi chơi,vợ của Jame cũng thích đánh bài tứ sắc như mẹ tôi nên cứ mỗi chiều khi người chồng Mỹ đang ở công sở,chị ấy bồng con qua nhà tôi,gửi con cho chị tôi để bốc bài cùng mẹ tôi và mấy bác hàng xóm,chị tôi rất thích cô bé Mỹ lai này,cô bé rất xinh xắn tóc quăn,mắt to và sâu,da trắng ngần như con búp bê người ta trưng bày trong cửa hiệu.Jame rất thích ba tôi,dù không biết tiếng anh nhưng tiếng pháp thì ba tôi rất thạo mà Jame lại biết nói tiếng Pháp nên vô tình ba tôi trở thành người bạn tâm giao của Jame,có thể sự thèm thuồng giao tiếp của những con người xa xứ nên ba tôi trở nên rất thân với Jame,có một dạo Jame từ công sở về,chạy vội qua nhà tôi khi hay tin ba tôi ở QT mới vào,Jame tặng cho ba tôi một chiếc đồng hồ đeo tay,nhận chiếc đồng hồ trong tay Jame ba tôi đeo vào tay mình trong con mắt rất hài lòng và vui vẻ của Jame.Một tháng sau,ba tôi lại về nhà và như mọi lần Jame lại sang chơi,nhưng tự hiên khuôn mặt của Jame bổng trở nên buồn bả khi không thấy chiếc đồng hồ mà Jame đã tặng cho Ba tôi đeo trên tay nữa,Jame ngồi chơi nói chuyện với ba một hồi rồi xin phép ra về,khuôn mặt Jame thoáng buồn nhưng không hỏi gì,trong thâm tâm Jame nghĩ rằng ba tôi đã bán đi kỷ niệm mà Jame đã tặng cho ba,sau này một hôm mẹ tôi qua nhà chơi Jame mới dọ hỏi mới biết Ba tôi đã cho anh tôi chiếc đồng hồ để biết giờ giấc học hành,Jame không buồn nữa và mỗi lần thấy ba tôi Jame cứ nhìn Ba với đôi mắt xin Ba tha lổi đã hiểu nhầm Ba đã không biết gìn giữ món quà thân hửu mà Jame đã tặng cho người bạn Việt.Một hôm nọ từ công sở trở về Jame lại sang nhà tôi,lúc này ba đang nằm trên chiếc ghế bố để nghe tin tức,Jame đến gần ba và trao cho ba một chiếc đồng hồ khác,trong mắt Jame ba như là một ông bố thiếu thốn nhưng nhiều tình cảm đã chia sẻ cho con cái kỷ niệm mà Jame đã tặng cho ba,với Jame tình cảm bạn bè giữa người bạn Mỹ dù không thắng được sự chia sẻ cho con cái những gì mình đang có cũng mang nhiều ý nghĩa để khi về nước Jame sẽ nhớ hoài một kỷ niệm với người bạn Việt bên kia Thái bình Dương


dinh trong thien 

===========
 
Lúc anh lên lớp 10 ba tôi hãnh diện và sung sướng lắm . Anh nhớ là niên khóa 1969-1970 trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng trị . Có một ngày ba đem từ Huế ra cái đồng hồ timex lên giây (thời này chưa có automatic) , có lumineur ở kim chỉ và dây đeo không phải là da . ANh rất mừng vì đó là cái đồng hồ đầu tiên trong đời học sinh . Ba có nói là do ông Mỹ hàng xóm ở trong Tây lộc .
Vào Tây Lộc anh theo ba tới thăm ông Mỹ đó. Ông ta có vợ là dì gì đó quen biết nhà mình .
Ông ta rất vui vẻ, hiếu khách và không kỳ thị ai . đặc biệt ông không uống nước mà uống bia lon (budweiser)thay nước , là sự lạ lùng mà anh thấy trong đời . Ba và anh tới thăm vì tình quen biết và thân thiện chứ không xin xỏ gì .
Đó là cái đồng hồ TIMEX kỷ niệm của ba . Sau này không biết cái đồng hồ đó ra sao anh không còn nhớ nữa . Sau này hình như ông Mỹ đó có tặng ba cái đồng hồ đeo tay lại rất to, thô và có 3 cái nút trên đầu rất to , nó vặn reo alert được kêu nghe rất ồn [trong hinh duoi la cai TIMEX Y HET ky niem ba cho anh ]


ĐHL 

HÀI KỊCH LA THOẠI TÂN -XUÂN PHÁT ([Phép Trị Vợ)




CỐ nghệ Sĩ Xuân Phát qua đời ngày 11 tháng 6 năm 2014 tại TP Santa Ana CAlifornia  thọ 82 tuổi




Cố tài tử La thoại Tân qua đời ngày 13/3/2008 tại Los Angeles , nam California thọ 72 tuổi






 

Saturday, August 30, 2025

AI ĂN TRỨNG LỘN ?! (tái đăng)


                     cái trứng lộn độ ngon nhất


lời dạo đầu


    KÝ ỨC về ăn hàng trứng lộn người viết có tái đăng vài lần. Thế mà lạ lắm, mỗi lần tác giả nhớ về thành phố cũ hơn năm mươi năm đi xa, lại nhớ cái chuyện "ăn hàng"? Âm thanh và hình ảnh món hàng về đêm, người kể chuyện khó lòng bỏ qua thúng trứng lộn mà mấy o hàng đêm vừa đi dọc theo con đường Lê V Duyệt vừa rao bán.

        -Ai...trứng lộn?

     Giờ đây, nơi thành phố QT tân thời, nhà cửa quán cà phê chi chít ken dày, nếu có bạn nào còn ở con đường có cái tên mới là Phan đình Phùng, ngày xưa còn gọi là Lê văn Duyệt. Đó là con đường chạy theo bờ hồ ngó qua là Cửa Hậu, Thành Cổ.     
  
    Có thể hôm nay cái hồ quanh thành cổ vẫn còn lấp lánh khi ánh trăng lên. Bạn đọc sẽ tưởng tượng ra hình ảnh o bán trứng Lộn nách cái thúng một bên hông, tay xách một cây đèn dầu lù mù đi dưới ánh trăng ...

Ảo huyền nhân ảnh, hình ảnh đó đã xa hơn nửa thế kỷ rồi, với trí tưởng tượng phong phú nào đó mong bạn thả hồn về với người Quảng Trị ngày xưa.

***

        Nói về chuyện ăn hàng vặt cái thuở xa xưa đó, chúng ta hay nhớ nhiều triêng hàng của mấy o bán vào ban ngày như bún xáo, bánh canh, bánh bèo, đậu hũ... về đêm, đặc biệt lại có chè gánh như người viết đã kể cùng bạn đọc. Trong các thứ hàng ban đêm đó, có một loại hàng mấy o Quảng Trị quê mình chỉ mang một bên nách thôi. Thứ hàng đó không nhiều đến nổi o phải gánh, đó là TRỨNG LỘN. Thật thế, tuy là cái thúng nách một bên hông, nhưng loại hàng đó không phải là thứ rẻ tiền

    Những năm sau này vào nam tôi mới có dịp nghe cái tên “hột vịt lôn” nói cho đúng âm thì là “hột zịch lộn”.  Người QT mình hồi đó cứ kêu là trứng lộn thế thôi vì không ai làm nghề bán trứng gà lộn cả. Thời này trong nam có cả cút lộn, gà lộn tùy theo nhu cầu thị trường. Ngày xưa rất khác. Món ăn truyền thống thì bà con mình hay giữ gìn, ít hề pha trộn cải biến lung tung.

    Nghề ấp trứng lộn tại quê mình ngày đó chỉ làm theo kiểu thủ công, gia đình. Làc đác đâu đó tôi mới thấy vài bầy vịt nuôi rong trên mấy cánh đồng giáp giới Trí Bưu về hướng gần cầu Ba Bến. Trong Diên sanh thì có mấy bầy ở đồng Cu Hoan hay gần cua Hà Lộc giáp giới Mỹ chánh. Đất ruộng QT hiếm hoi làm sao bì được trong nam nơi ruộng đồng cò bay thẳng cánh, bởi vậy vịt bầy ở QT hiếm là đúng.

vịt chạy đồng (vịt bầy) cắt lúa xong chủ ruộng cho vịt chạy đồng này ăn với một số tiền nào đó

    Nhưng bù lại, trứng lộn QT mình thật ngon. Có lẽ do làm thủ công, ít ỏi nên trứng lộn được chăm sóc kỹ lưỡng từng cái một, nên trứng  mới ngon như thế. Tôi lại suy rằng: bầy vịt QT ăn kham khổ hơn nên trứng và thịt nó mới đậm đà chăng? Một điều quan trọng nữa, nghề ấp trứng lộn họ giấu kỹ lắm, chỉ “cha truyền con nối” mà thôi! Ấp trứng lộn không có "bí quyết" thì chỉ ra trứng ung (hư) thôi, mà trứng ung hư rồi thì khách làm sao ăn?  (người hay có bệnh "đau đầu" nghe đâu tìm mua cho ra "trứng ung" mua ăn cho hết bệnh)

    Thôi, người viết xin trở về chuyện “Đồ Nghề” của o bán trứng lộn hơn là chuyện ấp trứng. Nói thì đồ nghề; nhưng có gì đâu?  Những thứ cần cho một đêm đi bán của o nhìn gọn gàng hơn o bán chè gánh nhiều. Trứng luộc xong, o bỏ hết vào trong một cái thúng có đựng trấu (hay trú tức là vỏ lúa xay xong.). Vỏ trấu có công dụng rất hay là giữ trứng được nóng lâu. Lại thêm một cái ‘trẹt’ (hay mẹt) nhỏ đậy vừa vặn chiếc thúng.  O chỉ đem theo cái chai muối tiêu, thêm vài ba cái dĩa đất nhỏ cùng một mớ rau răm được cuốn trong một miếng lá chuối.

     Màn đêm vừa buông xuống, từ mấy xóm trong thôn Hạnh Hoa hay Trí Bưu hay dọc theo đường Duy Tân Thạch Hãn, mấy o một bên nách thúng còn tay kia xách chiếc đèn dầu treo hướng về mấy con đường phố quanh Thành Cổ:

     -Ai… trớn (trứng) lộn !?


    Có khách, O ngồi xuống một bên đường.
            -Trớn mấy một cấy (cái)  ri.. O…?
            -Ba cấy mười đồng.

  Giá ba cái mười đồng cho đến hơn nửa đời, người kể chuyện vẫn còn nhớ. Chẳng ai mua ăn chỉ một cái duy nhất cả, dĩ nhiên phải mua sĩ 3 cái 10 đồng, o mới bỏ công và thì giờ ngồi xuống bên đường đợi chú khách đó ăn. Khách ăn trứng lộn, lại dĩ nhiên chỉ là đàn ông; đó là bác hay chú nào đó có tiền. Rồi bác hay chú đó cũng ngồi xuống bên lề đường để thưởng thức ba cái trứng nóng hổi. Tôi là đứa nhỏ đang chơi đá lon với bạn bè dưới cột điện đường. Trời phú cho cái trí nhớ về hình ảnh o bán trứng lộn cùng chú khách ăn hàng đêm đó và giờ đây mới có cơ hội "tỉ tê" kể lại với bạn đọc nghe chơi.  Chỉ nghe hay đọc "chơi" thôi nhé nhưng hi vọng sức cố gắng miêu tả để làm sao bạn đọc đi "chuyến tàu tưởng tượng" về ăn hàng đêm bên hồ  Thành Cổ một thời...

trứng lộn ngày xưa 1960: ba cái 10 đồng bạc thời TT Ngô Đình Diệm



...Cái trẹt nhỏ bây giờ trở thành cái mâm. O nhẹ nhàng đặt ba quả trứng xuống cái dĩa nhỏ, một dĩa kia o đặt môt nhúm rau răm và tiêu muối.
   Chú khách chưa vội ăn ngay. Một tay cầm cái trứng, tay kia chú vừa che che vừa nheo mắt soi cái trứng lên ngọn đèn điện đường...

        - Răng trớn ...tra (già) ri o !?
    

       -Trớn rứa mà eng chê tra tề...trứng nhà tui ấp mà eng, đúng ngày đúng tháng mới đem luộc bán eng nờ!

     O bán trứng giọng hơi bực mình với chú khách khó tính...mới "mở hàng" mà chú nói chi mô rứa? Nói rứa, nhưng o cũng chiều lòng khách. O cố săm soi, lựa sâu trong lớp trấu cho đến khi có được cái trứng nào vừa ý khách mới thôi.

    Sau khi húp hết nước của cái trứng, chú khách chỉ bóp một cái là cả cái trứng tuôn "tuốt tuồn tuột " vào miệng ,chỉ còn lại cái vỏ đã bẹp dí trên tay. Chú vừa nhai nhồm- nhoàm,  ghém thêm một nhúm rau răm, cùng một tí muối tiêu vào miệng, thế là xong! Tôi là một thằng bé đứng gần đó, thán phục tài ăn của ông khách lắm. Có lần mạ cho tiền, tôi mua trứng o vừa đi bán nhưng phải ăn vài lần mới hết cái trứng lộn nóng hổi. Đứa bé kia nhớ mãi, có khi gặp nạn do tôi cố "bắt chước" cách ăn của khách người lớn là ...bóp một lần... rủi thay! miệng tôi thì nhỏ, trứng bên trong còn nóng, nhổ ra thì tiếc của, báo hại thân tôi nước mắt ràn rụa, do muốn PHỎNG CẢ MIỆNG?! 

      Cũng có lúc, khách mua trứng mang về nhà. BA hay SÁU cái trứng o ưu tiên bỏ vào cái túi nylon. Lúc này o kèm muối tiêu gói sẵn trong mấy gói giấy nhỏ xíu, còn nhúm rau răm thì được vìn (cuốn) trong một miếng lá chuối. Thế thôi đơn giản lắm. Công bằng mà nói, trong mấy thứ hàng ban đêm, thúng trứng lộn của o xem thế mà thuộc loại đắt tiền khi so với đời sống của người dân bình thường hay so với giá trị đồng bạc cùng thời.

tờ bạc 2 $ VNCH 


 trứng lộn trong nam ăn kèm lỉnh kỉnh đủ thứ  rau chua ớt tỏi 


    Những năm di cư vô nam rồi, người viết mới thấy cách ăn trứng lộn trong nam khác hẳn tại quê mình. Có dịp ăn trứng lộn tại Phan Thiết hay Sài Gòn về đêm, tôi thấy khách ăn trứng họ đặt lên cái tách nhỏ cho khỏi nóng tay. Xong, họ lại dùng cái muỗng nhỏ từ từ múc trứng ra ăn. Đó là chưa kể vài thứ lỉnh kỉnh kèm theo... nào rau nào đồ chua nào ớt tỏi. Khách ăn trong nam hay có thêm xị rượu hay bia bán kèm nữa chứ. Trong nam, chẳng có khi nào tôi thấy trứng lộn người ta đi bán trong cái thúng nách một bên hông giống Quảng Trị ngày đó cả. 
    Đồng ruộng hiếm hoi như đã nói đoạn trên thì cái trứng vịt QT ngày đó cũng có cái giá trị của nó huống gì trứng lộn? Dù mang tiếng là ‘thằng nhỏ ăn hàng’ nhưng trong lòng người viết sau này lại cảm thấy vui vui khi có dịp kể lể chuyện trò so sánh trứng quê mình quê người...

    Bao tiếng rao hàng khi màn đêm buông xuống nơi vùng ngoại ô tỉnh Quảng. Những cái nghề sinh nhai giúp cho đời sống của người lao động trong thời bom nổ đạn reo. Giờ đây chúng ta ngồi nhớ về quê hương rồi kể lại cho nhau nghe qua vài món hàng ăn dân dã. Một ngày, nếu có ai về đường xưa lối cũ, khi ngồi trong tiệm ăn hay quán cà phê nào đó, chợt chạnh lòng nhớ lại một chút hình ảnh cùng tiếng rao xa xưa, một thuở ăn hàng ./.


ĐHL 

edit 31/8/2025

 

Friday, August 29, 2025

MÙA XUÂN TRÊN ĐỈNH QUÊ HƯƠNG (1975)





Căn Cứ ĐỘNG ÔNG DO 275 mét phía trước là Động Tiên 295 mét (kỷ niệm ngày đóng quân cuối cùng của tác giả 17/3/1975)

    Tôi trở lại vùng hành quân vùng xa xôi đá sỏi biết buồn
Ba tháng hậu phương yên bình tuy vết thương chưa lành hẳn...

(Mùa Xuân Lá Khô/ Trần thiện Thanh)



    Mấy tháng cuối thu 1974 cả tiểu đoàn đau "rạt gáo"  do một chứng sốt tràn lan một cách lạ kỳ trên vùng Động Ô Đô. Lính bị bệnh cáng về hậu cứ càng lúc càng nhiều. Từ đó quân số Tiểu Đoàn 105 thiếu hụt trầm trọng. Trung đội tôi chỉ còn khoảng hơn hai mươi người. Tính theo đơn vị nhỏ nhất là tiểu đội đôi khi còn ba, bốn người thôi. Thiếu quân như thế, làm sao gác giặc? Hằng đêm chúng tôi phải thay phiên gác tới hai ca. Ca một từ 6 tới 8 giờ tối thì ca hai từ 4 tới 6 giờ sáng...  Sốt rét và thiếu ngủ và thiếu cả cái ăn làm lính càng yếu sức thêm. Tôi tuy là trung đội trưởng nhưng chỉ khỏi gác khi quân số đầy đủ. Tình hình sốt lan tràn toàn vùng Ông Đô, nơi nào cũng thiếu lính không riêng gì trung đội tôi.

Trước khi kể lại chuyện xưa, chuyện một "Mùa Xuân Lá Khô" một đề bài do người viết cảm hứng từ bản nhạc của NS Trần thiện Thanh, tôi cũng đính chính một chút về cái tên "Động Ông Đô" thật ra ngày trước người Quảng Trị mình gọi là "Độn Ôn Do" mà tiếng "Do" người Mỹ đọc trên bản đồ là "Đô" và sau này các đơn vị QLVNCH thì theo vậy mà gọi. Chỉ có một lần ngày xưa còn nhỏ tôi thường nghe người làng Nại Cửu như cậu Võ Thế Hòa (Dâu) thường bàn tán nhau "chèo đò lên Trấm lên độn Ôn Do" kiếm củi...




 Tác giả vốn đã ốm, vướng sốt nên càng lúc càng gầy rọc đi. Đêm đêm trong người mãi sốt ngầm, tóc rụng nhiều. Tôi vẫn bám chốt, vẫn gác 2 ca hàng đêm. Quân số càng lúc càng thưa do lính khai bệnh về hậu cứ. Phần tôi dù cố gắng chi rồi cũng 'chống gậy' theo xe tiếp tế tiểu đoàn về Bệnh Xá Tiểu Khu.

Nói ra thì nghe khá lạ lùng? sao lại "chống gậy" lúc mới 21 tuổi đời? Số là sốt quá, tôi mắt lúc nào cũng hoa lên, cảm giác sẵn sàng nôn ói?  Hơn hai tháng trời không có chất gì trong người. lại phải canh chốt, thức ngủ thì làm sao không chống gậy được?


Tiểu Khu QT đóng tại cồn cát Diên Sanh. Lúc này ông Trung tá Đỗ Kỳ làm Tiểu Khu Trưởng. Vào năm sau Ông Kỳ lên đại tá- là "dân" TQLC thì họ biết tin còn chúng tôi ở trên núi chẳng nghe tin này. Thật ra ông Đỗ Kỳ ít được người Quảng Trị biết nhiều. Đại Tá Đỗ Kỳ làm TK Trưởng do cả sư đoàn TQLC đóng tại QT là chuyện hợp lý.

Trở lại chuyện tôi, được về nằm bệnh xá Tiểu Khu nhưng để lại phía sau một trung đội thiếu quân số, thiếu mọi thứ...những anh em khác đau quá về trước tôi. Có gắng chi cũng đến phiên người trung đội trưởng, con vi trùng bệnh chẳng chừa một ai. Tôi là người bệnh chống gậy về sau cùng. Ngày đó quả thật người tôi trông ốm quá người quen chẳng nhận ra, gặp tôi ai cũng thảng thốt:

`    -Ui chao ơi ! mi đó Phúc?

 Người nhà của Trần Tài, người bạn cùng xóm Cửa Hậu, thôn Đệ Tứ, thành Phố Quảng trị trước đây bất ngờ gặp lại tôi, ai cũng động lòng thương cảm thốt lên như vậy. Bác Cai Trà, mạ Tài hay anh Tài, tất cả gia đình người bạn này đều ở vùng đất lúc đó được gọi là KHU THỊ TỨ, trước mặt Tiểu Khu. Cả một vùng đóng trên cồn cát Diên Sanh. Bà con cố cựu đều là dân THỊ XÃ năm xưa. Người cùng xóm cũ, quả thật ai cũng ái ngại, thương cho tôi hoàn cảnh xa gia đình cha mẹ. Nhà tôi tất cả đều di dân vào nam rồi.











Em Gái Hậu Phương & Tiểu Đoàn 105 TKQT tại Cầu Ba Bến 1969 (2 đại úy Lê kim Chung và Trần quang Hiền người giữa) Thời gian này tác giả chưa ra đơn vị 


 Lúc nằm bệnh ở đây tôi biết có Ông Đại Uý Quân Y Hoàng Trọng Mộng làm trưởng Bệnh Xá. Tôi biết ông bác sĩ Mộng do Ông là "người tình" của dì tôi. Khi hai người có đứa con gái tên Hoàng thị Mộng Hằng thì dì tôi và gia đình đã ra đi theo chương trình Khẩn Hoang Lập Ấp.  Đứa con gái dì tôi nay ở Trị An, sau này cũng liên lạc được với cha mình.  Ông Hoàng trọng Mộng sau 1975 được tái hành nghề bác sĩ tại Sài Gòn cho đến khoảng gần năm 2020 thì mất.  Ngày đó nằm bệnh xá, ông Mộng có xuống thăm thương bệnh binh. Thật tâm tôi chẳng muốn nói hay nhìn quen biết làm chi. Tôi về nằm bệnh ở đây là hợp lý chẳng cần "thân quen hay xin xỏ" ai nữa. Nhìn người tôi lúc đó- ốm tong teo, xanh xao do sốt rét, thiếu ăn, mất ngủ như rứa thì ai mà không cho nằm viện?

Nằm tại Bệnh Xá được năm mươi lăm ngày, tôi dần hồi khỏe người vui vẻ trở lại. Ngày ngày vào câu lạc bộ tiểu khu, vui quá nói chuyện huyên thiên đến nổi có bà ngoại mẹ người chủ rầy la "sao ồn quá". Hết bệnh tôi cầm tờ giấy phép vào tận Mỹ Tho thăm gia đình. 

Tôi có ghé Bình Tuy thăm bà con ở Động Đền. Động Đền là một cái tên của một vùng chứ không phải tên thôn hay tên xã nào cả. Động Đền là một vùng từ múi đầu của tỉnh lộ 55 chạy đến chân dốc xã Tân Sơn thuộc Quận Hàm Tân, Bình Tuy hồi đó.

 Người QT năm 1974 đã vào Bình Tuy hơn một nửa, chỉ một phần ba hồi cư về lại QT thôi. Tiểu Khu QT cũng chia đôi để đi theo Chương Trình Khẩn Hoang LẬP ẤP. 

Tôi ghé thăm vùng đất mới Động Đền vỏn vẹn hai ngày nhưng nhiều ấn tượng. Hình ảnh những cánh rừng mới bị chặt hạ ngổn ngang trên vùng đất cao xã Tân Sơn. Có mấy cái quán tranh bán cà phê nho nhỏ trước cái chợ có tên Động Đền. Những mái nhà tôn xi măng và tranh xen kẽ. Đi đâu cũng là người là người QT. Bà con gần nhau, đùm bọc nhau mà sống. Năm này chỉ có bà con ngoại tôi ở đây. Dì kế mẹ tôi có mở cái quán cà phê cũng lợp tranh tại chợ Động Đền. Cái quán ngó qua con đường tỉnh lộ 55 là quán tiết canh. Mệ bán tiết canh một thời nổi tiếng tiết canh ở chợ Sãi QT trước 1972. Nay mệ mở quán, bà con đặt cho cái tên là "Quán Mệ Tiết Canh". Năm 1974 người QT Khẩn Hoang Lập Ấp vào đây, than củi bán mua còn tấp nập. Cà phê bán cũng đắt khách do người dân còn trợ cấp, còn tiền làm than rồi đất đai mới khai hoang nông sản dồi dào. Trường học như tư thục Thanh Linh do Linh mục Nguyễn vân Nam làm hiệu trưởng. Bên cạnh đó trường học công do chương trình Khẩn Hoang Lập ấp BS Phan Quang Đán tài trợ mở mang từ Động Đền cho đến các xã trên cao như Sơn Mỹ đều được xây bằng xi măng lợp tôn vững chắc...

Gia đình ba mẹ tôi một năm sau tức là sau 1975 mới giã từ Mỹ Tho để về Động Đền. 

Hết phép mười lăm ngày, tôi ra lại miền trung  đúng vào dịp Noel 1974. Trước khi lên núi lại, tôi có hai ba ngày, lẩn quẩn về  thăm xã Hải Thọ thăm nhà mợ tôi. Cậu Võ Hoa tôi làm Phòng Ba/ TKQT và mợ tôi cũng là người Diên Sanh. Nhà mợ Lành gần ngã ba vào Chợ Diên Sanh. Vùng này một thời ai cũng biết người anh của mợ tôi. Anh ấy tên Xíu; người to con vạm vở, sức mạnh vô cùng. Sau này anh mất sớm.

 Ngày đó tôi dắt đứa em gái, con đầu của cậu mợ tôi- Võ thị Sớm Hồng- mới hai, ba tuổi đi vào Chợ Diên Sanh. Ai cũng ngỡ ngàng: 

-A Ôn Ch. Úy có con, mà răng còn trẻ dữ rứa?

 Ra trường vào cuối tháng 11 năm 1973, tôi đúng hai mươi tuổi đời, còn độc thân. Chuyện lập gia đình quả là xa vời, thật lòng tôi chưa bao giờ nghĩ đến.  Ngày đầu tiên trong đời binh nghiệp, từ Quân Trường Đống Đế tôi là người đầu tiên trong khóa  tình nguyện chọn về lại quê hương Quảng Trị. Cả khóa đứa nào cũng vỗ tay cho là 'anh hùng'? tôi đâu phải là anh hùng, do tôi chỉ muốn về lại quê hương mà thôi.

 Những ngày trình diện đơn vị mới là mùa Giáng Sinh 1973. Đúng một năm sau, mùa giáng sinh 1974, tôi đi phép bệnh và ra lại TKQT trả phép. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi đi phép đơn vị. Một cái phép "bất đắc dĩ" do nằm bệnh non 2 tháng mà có.  Tôi vào nam xong ra lại Đà Nẵng thăm cậu tôi- Đại Úy Võ Bình, binh chủng Lôi Hổ đang đóng tại Sơn Trà. Quà cậu tôi cho là quả lựu đạn mini nhỏ xíu bằng trái cau, bỏ túi phòng thân. Tại sao tôi gọi là "quà" do thứ lựu đạn nhỏ xíu đó chỉ có "dân biệt kích nhảy toán" hay "bóng ma biên giới" mới có, binh chủng khác không bao giờ được cấp phát.

Khác với năm 1973, vào Giáng Sinh năm 1974 người QT tại Hòa Khánh và Non Nước đã hồi cư hay di dân vào nam hết. Các trại tạm cư tại Đà Nẵng không còn. Tôi giã từ Đà Nẵng, vội về lại Diên Sanh.

trường TH Nguyễn Hoàng và khu Thị tứ  1973


THỊ TỨ BUỒN HIU DIÊN SANH 1974

Tôi chưa vô gấp Tiểu Khu, lại lên Khu Thị Tứ Diên Sanh. Khu Thị Tứ lập ngay trước mặt Tiểu Khu QT. Tôi đi  thăm bà con lối xóm mới hồi cư, tức là đã giã ừ vùng tạm dung Đà Nẵng từ mùa hè 1972 cho đến cuối năm 1973. Nhà người bạn trong xóm Cửa Hậu năm xưa tức là nhà Trần Tài là nơi người kể chuyện phải tìm đến trước tiên. Tài là con út của ôn mệ Cai Trà, Phường Đệ Tứ QT cũ.  Tôi vào nhà Tài. Lúc này còn gặp mẹ Tài. Gạo hồi cư 6 tháng cũng vừa hết. Bà con sống nhờ vào đồng lương lính hay công chức quá eo hẹp không biết làm sao sống trên cồn cát trắng phau? Có thể bà con giờ này ai còn sống cũng có thể quên những ngày 'cơ khổ' lúc hồi cư? Gạo thiếu củi hết? những cồn cát bới tung hết rễ sim mốc làm chất đốt, nhưng rồi dần dà cũng cạn kiệt? Đời sống phải giảm thiểu từ ba bữa ăn trở thành hai bữa ăn tức là lúc 10 giờ sáng và 4 giờ chiều. Đó là chương trình hồi cư thì chỉ biết là hồi cư nhưng sống ra sao thì không ai tính trước cho người trở về Khu Thị Tứ Diên Sanh.

TKQT và khu Thị Tứ Hải Lăng 1973


Đó là những gì gọi là đời sống bà con cố cựu của tôi khi tôi về đơn vị. Vào hậu cứ Tiểu Đoàn 105 chờ xe tiếp tế lên núi để đi theo. Tôi không đợi quá lâu vì mỗi tháng đều có ba chuyến tiếp tế lên đơn vị.

            TRỞ VỀ ĐƠN VỊ


    Chiếc GMC của tiểu đoàn 105 ì ạch mò quanh co theo con đường sơn đạo lên hướng Ô Do phải mất gần nửa ngày. Tất cả mạch sống của mấy tiểu đoàn hướng núi đều nhờ vào sơn đạo này. Làm gì có máy bay vào lúc này hoạ chăng TQLC còn may ra. Lính Địa thì mong chờ vào hai bàn chân và mấy chiếc GMC của TK tuy cũ kỹ nhưng là người tiếp vận đắc lực cùng trung thành nhất.


              CĂN CỨ ĐÔNG Ô ĐÔ 



Men theo những triền tranh tôi về chốt trung đội. Anh em gặp nhau mừng vui hỉ hả như thể người thân vừa về lại  nhà. Tội nghiệp tôi chẳng có quà gì cho anh em ở lại. Đi bệnh viện về có gì đâu ngoài cái thân  ốm "còm nhom" đó thôi.

Trung đội phó tên Thản suýt xoa kể cho tôi nghe chuyện đêm kia khi nghe quả lựu đạn gài dưới chân đồi phát nổ ra sao? Tất cả Trung đội lên đạn sẵn sàng, tưởng sắp bị đánh?

 Đó là một đêm vắng mặt tôi, người trung đội trưởng. Sáng dậy một người bò xuống chốt. Té ra con mang bị vướng lựu đạn chết oan. Được mười mấy ký thịt- chất tươi đàng hoàng.  

"Tiếc quá không có mặt ch. uý liên hoan một trận cho đả"


Trung đội phó Thản vừa kể vừa phân trần. Phó Thản  vác sang đại đội trưởng Lê Kim Chung một cái đùi sau, còn chia cho 2 chốt tiểu đội kia...

-Vừa xong thì chuẩn uý lên...

Tôi không nhớ có cám ơn tấm lòng anh em trung đội hay không?  chỉ tiếc là chưa thưởng thức hương vị thịt mang ra sao? xưa tôi hay nghe "Mang lạc là mác làng" không biết lành hay dữ?

Nói đúng ra ở chốn núi rừng có nhiều đêm tôi hay nghe mang 'tác', nhưng sau đó chẳng có gì lạ cả. Động trời thì mang tác chẳng có điềm xấu gì cả.

***

Trời sắp đón xuân 1975 hay cái tết đầu tiên tôi đón xuân trên miệt núi. Có những đêm đứng gác trên đỉnh cạnh nguồn con Sông Nhùng , nhìn về hướng đồng bằng tôi thấy rõ những mảng ánh sáng đèn điện phía Khu Thị Tứ Diên Sanh mà nhớ bà con dưới đó. Đứng gác rồi nhớ Tết 1974, cái tết đầu tiên tôi ra đơn vị.  Thời gian đó, đơn vị tôi đang đóng ở cầu Ba Bến lúc tôi mới ra trình diện đơn vị- Tiểu Đoàn 105 đang đóng ở cầu Ba Bến. Về đại đội, người viết còn nhớ được đại Úy Lê Kim Chung cho giữ cái cầu Tham Triều. Nhớ làm sao những ngày mưa phùn rả rích, tôi ngồi bó gối trong cái hầm bên cống Tham Triều mà nhớ gia đình ba mẹ anh em đang ở tận trong nam.

Giờ thì Xuân 1975 về rồi. Ban ngày từ chóp núi, tôi ngắm về đồng bằng. Dưới tầm mắt tôi là cả một mãng mù sương. Ngày nào quang đãng, hướng mắt về Diên Sanh tôi thấy rõ những viền cát trắng. Những lúc trời thật trong tôi còn nhìn thấy mép đại dương xanh ngọc bích.

Ban ngày chúng tôi có thú vui là đánh bài xẹp. Bài xẹp gần giống bài tứ sắc. Đó là cái thú tiêu khiển cho đời lính đóng chốt ở đây. Radio nghe riết cũng hết pin mà hết pin thì khó lòng mua được ngoại trừ dùng lại những cục pin cũ của máy PRC 25 tức là máy truyền tin của trung đội. 

Tất cả đều thiếu thốn. Mười ngày mới có một chuyến xe tiếp tế phải tới đỉnh Ông Đô nhận hàng do xe không thể bò tới chốt của từng đại đội được. Từ chốt trung đội tôi có thể men theo đồi tranh đi tắt bằng con đường tự mở để tới chốt đại đội 'ký sổ'. 

Ký sổ có nghĩa là mua thiếu hàng tại chốt đại đội. Nào kẹo đậu phụng nào sữa ông thọ cộng với bột bích chi nào thuốc hút .. những thứ này không thể thiếu. 

Nước uống thì vác ống đạn bò xuống chân núi để lấy nước khe. Đoạn đường nguy hiểm và hồi hộp, nhưng không có nước thì xem như ngồi trên chóp núi mà chết khát thôi. 
Dù nguy  nan cũng phải chia phiên vác ống đạn mò xuống khe lấy nước. Bên chốt kia, có người đi xuống lấy nước bị mất tích luôn? Hạ Sĩ Hoát (hoác?) xuống khe Trai lấy nước, không về? Sau này khi ở tù tại Trại Ái Tử, chúng tôi đi chợ mua rau tại chợ Đông Hà, bạn tù cho hay hạ sĩ Hoát làm phu kéo xe tại chợ Đông Hà. Thì ra ngày đó ông Hoác bị phía bên kia bắt cóc chứ không phải cọp vồ mất xác.


Đủ thứ nghi ngại cho căn bệnh sốt tại miền núi Ông Đô vào thời gian này: co thể do thuốc khai quang, có thể do muỗi vì sao nguyên nhân nào không quan trọng. Chuyện đáng lo là quân số quá thiếu, tiếp vận quá nghèo? 

***

Chuyện đời lính là vậy, còn 'cái mạng' để ngày ngày ngắm cảnh trời trăng mây nước, kể ra cũng còn may lắm.


Một con sông nhỏ, một khám phá lý thú đối với riêng tôi khi dò trong bản đồ vùng tôi đóng quân. Nó mang tên là "SÔNG NHÙNG'. Ngày xưa tôi  quen gọi là "Nhồng'. Cầu Nhồng là cái tên tôi không quên. Thời lớp nhì lớp nhất tôi hay vào Diên Sanh, xe phải qua Cầu Nhồng. Hồi này con đường Quốc Lộ 1 vào Diên Sanh phải qua Hải Thượng tức là con đường cũ. Qua Cầu Nhồng rồi mới đến Cồn Dê trước khi đến Diên Sanh tức là Xã Hải Thọ. 

Huyền thoại về Cầu Nhồng, thời nhỏ tôi chưa quên: người ta kể rằng: thời Pháp qua Cầu Nhồng hay có ma có khi nó xui cho tài xế thấy cả "hai cầu Nhồng" trước mắt và lái tòm xuống sông? Đó là chuyện ma thời xưa khi còn Pháp hay tôi chưa ra đời.  Rồi ba năm 1963-65 khi ba tôi làm tại Chi CA Hải Lăng, người hay lái xe vào Cầu Nhồng.xong đi lên một đoạn ném lựu đạn bắt cá. Có hôm bắt được con cá tràu quá lớn. Con cá nằm sau xe,  khoanh lại to gần bằng cái bánh xe hơi ? 

Hôm nay, Cầu Nhồng có thể đã vào quên lãng khi QL 1 đổi hướng từ Ngã Ba Long Hưng qua Cầu Dài vào tuốt Mỹ Chánh không qua Diên Sanh nữa. Từ thời có con đường mới nối QT tới tận Mỹ Chánh, khi không Diên Sanh trở thành "Thị Trấn Đìu Hìu"!



hơn 40 năm sau Sông Nhùng sạt lở  khiến nhiều căn nhà của người dân nứt nẻ, có nguy cơ đổ sật bất cứ lúc nào (Baomoi.com 12/2017)

Tôi cảm thấy thú vị với hai chữ Sông Nhùng để ngày ngày ngắm nó uốn éo lượn lờ dưới chân núi. Tiếng là sông nhưng chỉ là con suối dài, nước chảy còn mạnh qua nhiều nơi tung nước trắng xoá. Sông và thảm rừng dưới xa, hợp với nhau trông chẳng khác chi một bức tranh thủy mạc. 

***

Đời lính và quê hương đôi lúc tình cảm phát sinh là những lúc lặng ngắm non sông. Năm 1974, chính xác hơn là hè 1974 khi tiểu đoàn chúng tôi rời Ba Bến, chuyển quân về mạn biển hoán đổi Tiểu Đoàn 120. Mấy tháng đóng ở đây, khi lắng tai nghe sóng trùng dương dội vào bờ cát hoang vu cùng ngắm biển trời bao la, tôi cảm thấy tình cảm đối với quê hương dâng trào trong gió lộng. Tiếp nối, đơn vị lại hoán chuyển lên vùng núi. Tôi lại có dịp đứng trên đỉnh cao, trông xuống một dòng sông nhỏ đang lượn lờ uốn khúc. Chính lúc này, tôi mới nhận chân ra quê hương sao đẹp quá, hồn thiêng sông núi ngàn đời mãi xanh!

 Xuân 1975 sắp tới rồi, chỉ hai ba hôm nữa thôi. Một buổi trưa im vắng, tôi lại đứng trên đồi cao.  Quanh tôi toàn là những đám  rừng tranh bạt ngàn. Xuân đơn vị không một sắc hoa đó là điều chắc chắn. Màu xanh của lá màu áo ô liu thay hoa màu tết. Quà tết hậu phương, bánh chưng bánh ú từ Diên Sanh, hậu cứ Tiểu Khu đang được gửi lên.  

Đúng năm muơi mùa xuân qua rồi, nhưng lòng tôi vẫn nhớ mãi mùa xuân của MỘT CHÍN BẢY LĂM. Từ mùa xuân đó những người lính VNCH vĩnh viễn chẳng còn cơ hội nào đứng trên đỉnh cao để chiêm ngưỡng cảnh đẹp non sông núi rừng hùng vĩ. Mùa xuân biên giới hay "mùa xuân lá khô" thật sự trôi nhanh về miền dĩ vãng; nhưng ĐÓA HOA QUÊ HƯƠNG vẫn thắm mãi trong lòng người bao người con xa xứ. Cứ độ tết đến xuân về nơi chân trời góc bể, vẫn còn nhiều người lính già xa quê còn ngồi vọng NHỚ đến một thời cống hiến, bên chiến hào xưa rồi chợt dâng lên nỗi hoang lạnh tâm hồn ./.

edition by ĐHL 

đoản văn- LỐI VỀ ĐẤT MẸ

thân tặng những người Quảng Trị từng ra đi và đã thành công nơi xứ người (ĐHL)


    Người Quảng Trị tha hương không phải đợi đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, lúc khói lửa chiến tranh điêu tàn phủ chụp lên quê hương bản quán khiến hàng vạn người phải ly hương thất sở. Đó là dấu ấn u buồn đau khổ khó ai quên. Có những thế hệ trưởng bối đã "khăn gói" lên đường xa rời Quảng Trị từ trước. Những lớp trai nuôi mộng tương lai, xây dựng sự nghiệp từng ra đi với bao hoài bão trong đời. 

    Những ngôi trường bề thế, những đại học tiếng tăm từ Cố Đô Huế cho đến Sài Thành hay những thành phố to lớn khác đều có những lớp thanh niên Quảng Trị ra đi từ độ đó. Có những lớp chọn đường binh nghiệp họ xa rời quê mẹ từ thuở thiếu thời, khi ra đi để lại đằng sau lớp sương mù kỷ niệm chập chùng một thuở xa xăm. 


Ngày qua giã từ đất mẹ mà đi
Vì nghe tình quê tình nước đôi bề
Nước chia hai đường nước chưa về
Trót thương cho người lỡ câu thề
Lên đường từ ly, hỏi rằng lòng lưu luyến gì...



    Hạnh phúc cho ai công thành danh toại, nhưng nay tuổi đã bát cửu thập hay đang bước vào lớp người "bách niên giai lão". Lớp người ra đi ngày xưa đó có thể đã tản mạn khắp nơi từ Sài Thành hoa lệ cho đến nam kỳ lục tỉnh và còn ra tận hải ngoại. Một phương nam xa vời hay tận chân trời góc bể, cho đến một ngày người tha hương ngồi nhớ quê xưa...



    Ngày xưa ra đi tìm công danh mẹ tần ngần tiễn con ra tận cuối con đường làng. Lối quê mờ nhạt, người đi còn ngoái lại như muốn lưu giữ hình ảnh mẹ già. Con đường sự nghiệp nơi phương xa như chờ đón thôi thúc bước chân chàng trai háo hức tiến về phía trước. Rồi bao nhiêu nghiệt ngã cam go, từng bước đường đời mò mẫm hay từng chặng đường thăng tiến công danh...đều là lớp lụa là nhung gấm trải bậc cho những người con ra đi tìm sự nghiệp. 

    Thời gian qua nhanh quá, cho đến khi giật mình nhìn lại đời mình đã là tóc bạc lưng còng. Ngọn gió chiều hiu hắt, lòng người chợt thấy lạnh buốt tâm hồn nhớ lại cố hương thì nay đã thăm thẳm xa vời. Bao người thân yêu nay đã nằm trong quá khứ mịt mù xa. Nhớ ngày đi, mẹ tiễn đưa con với nắm cơm thơm mẹ nấu. Đôi tay run run sờ nắn bờ vai đứa con yêu. Bầy em nhỏ mắt rưng rưng ngấn lệ, nhìn theo anh lên đường cho đến khi bóng người anh thân yêu khuất dạng trước lũy tre làng...



ngựa Hồ hí gió Bắc, chim Việt đậu cành nam

Chiều nay, lối về đất mẹ là đây
Đường xưa còn ấp ủ bóng trăng gầy
Có nghe đêm trường tiếng rú hời
có nghe đêm trường tiếng ai cười
suối lệ đoàn viên giữa lòng đất mẹ triền miên


    Ngọn gió thu phong làm lòng người thấy lạnh. Có những tâm hồn trở nên hiu quạnh trong bao năm tháng xa quê. Ai ngồi tưởng nhớ đến bóng người xưa nơi quê cũ xa vời? Đường xa cố lý nay đà hư ảnh do tất cả chắc đã không còn. Có về, dù chỉ một lần thì đường xưa lối cũ và bóng mẹ nay cũng trôi xa về miền dĩ vãng./.


ĐHL


 






SÀI GÒN XUÂN CỦA MIỀN NAM

Miền Nam, niềm vui chan chứa đêm mơ hồ Miền Nam, tình xuân sưởi ấm thêm đôi bờ Giờ đây mùa xuân đang xóa tan mây mờ Quên đi đau thương sầu n...