Tuesday, July 28, 2026

NHỚ TRIÊNG BÚN XÁO THÔN TUI QUẢNG TRỊ XƯA





Bạn đọc thân mến

Từ hình ảnh Chiếc Xe Phở năm xưa dưới khung trời Quảng Trị được nhắc lại trong niềm nhớ dịu dàng nhưng da diết lại được sự hưởng ứng từ những đồng hương Quảng Trị và đồng môn Trường Trung Học Nguyễn Hoàng.

Nào cái tên "Phở Ôn Ngẫu, Hột Vịt Lộn ôN BA ở Xóm Cột Điện 192...

BÁNH ƯỚT BÁC ĐỘI, BÁNH TRÁNG NHÀ ANH HOÀNG Ý Cửa Hậu, còn có Bún Bò Xáo của Mụ Đức xóm Heo, 

Rồi bạn đọc đồng môn còn góp ý thêm: Có cháo Bánh Canh vịt của THÍM HIA vợ thầy Bồi xóm Heo,  có ĐẬU Hũ CỦA NHÀ hai CHỊ THA BA. Có Bánh Ướt nhà chi Nghệ em anh Nguyễn Lam Ty Tiểu học QT , nhà TỐNG THỊ HUÊ cũng có bánh ướt, - quán THIỆN TÍN: Bún, Cháo lòng, cháo bò, tiết canh, món nhậu ...
Rồi "Chiếc xe phở này đẩy bán khắp thị xã. Có lẽ đây là cái xe phở độc nhất của thị xã QT. Chừ vẫn còn nhớ cái thơm ngon của đĩa xí quách phở vào buổi chiều tối" 

Người khác lại nhắc thêm "Ôn Vọi ni nhớ  xe phở  của ai hè? 
Còn phở của ôn Vịt xóm mình là ôn gánh phở đi bán trên phố.
Tui ăn chừ vẫn nhớ mùi không nơi nào giống phở ôn Vịt .
Nhớ luôn lát chả tron tròn mỏng và những sợi tiêu mịn rắc lên trên ..nước pho trong veo.."
Còn nhiều lắm nhắc không hết nói chẳng vừa, nhưng tựu trung qua nét ẩm thực của những gánh hàng rong đơn sơ hay vài ba cái quán bình dân khiêm nhường trong xóm nhỏ ngõ kiệt đìu hiu đã nhắc chúng ta những người CÒN LẠI cùng hoài niệm về một khung trời kỷ niệm nay đã thực sự tiềm ẩn tận đáy lòng.
Thời gian lạnh lùng trôi xa về vùng kỷ niệm. Những mệ những o những chị năm xưa nay phần nhiều đã nắm tay nhau về khung trời miên viễn để lại trong ký ức chúng ta một khoảnh trời thương nhớ nằm sâu dưới mấy tầng cát bụi thời gian.
Chuyện gần nhất của người viết đó là  nhớ lại một ngày, người anh rể bên vợ- anh Lê hữu Bang (anh của Thầy Lê hữu Thăng- anh Bang đã quá vãng) có một ngày nọ anh từ Sacramento về San Jose thăm gia đình do bà xã  của tác giả là chị em bạn con dì với bà xã người viết.

Tác giả cứ nhớ mãi lời tâm đắc mộc mạc  và rất thật lòng của anh Bang diễn tả khi ăn tô bún xáo nấu theo kiểu Quảng Trị. Anh cho rằng...

-Ăn bún bò QT phải và xong một miếng rồi cắn trái ớt thật cay vô mới đả, ăn răng mới đúng 'gu' của hắn là miềng phải "hít hà nước mắt nước mũi ròng ròng" mới được mới đúng là "mốt"  ăn bún xáo...

Thế mà thời gian qua quá nhanh, anh đã ra đi do tuổi già sức yếu (11/2021 tại Sacramento Cali) không còn cơ hội mời anh ăn tô bún xáo QT thêm lần nữa. Thương và nhớ anh Bang thiệt tình. Ước mong chi anh Bang giờ còn tại thế  để vợ chồng người viết mời anh về nhà ăn lại tô bún quê hương!

Người viết xin tiếp nối một bài viết miêu tả Triêng Bún Xáo O Đức mà chị  Lê thị Thạnh (phu nhân của anh Nguyễn Bích 'em Đại Tá Bé  XDNT) vừa nhắc ở trên.

             Vào Bài                                   




Thời nay khi nhìn lên màn hình TV nhất là Youtube có nhiều chương trình ẩm thực của VN rất đặc sắc, đa dạng.  Nhưng nhìn chung sự phong phú, đặc sắc này phần nhiều đều nhờ vào sự giàu có về vật thực, dễ dàng phương tiện mọi mặt để hình thành nhiều món ăn độc đáo.

Ngày xưa có những nét độc đáo ý vị của món ăn nhưng lại bị 'ép mình' vào trong vấn đề nghèo, hạn hẹp phương tiện cũng như vật chất.  Nhưng trong bao nét mộc mạc ngày xưa lại toát lên tính khéo léo, nhẫn nại từ bàn tay nội trợ của người phụ nữ Việt Nam những người  mẹ, người chị dấu yêu muôn thuở.


NHỚ TRIÊNG BÚN XÁO

   Triêng bún xáo hay gánh bún xáo là hình ảnh quen thuộc cho khách ăn hàng vặt. Bữa sáng, bữa chiều đều có triêng bún do các o gánh đi bán rong dọc mấy con phố hay đầu thôn, cuối kiệt  ngoại ô.

Người Huế chắc ai cũng quen mắt hình ảnh triêng bún xáo. Người Quảng trị cũng chẳng lạ lùng chi cái cảnh mấy o, mấy chị vừa chạy lúp xúp vừa rao:

-Ai bún bò?

Tiếng rao có khi bị mấy o rút bớt,

-Ai ...bún?

Nhưng chẳng hề chi, nghe tiếng o là khách ăn biết ngay rồi.

Khó diễn tả cái động tác o gánh 'triêng' bún ra sao? cũng không phải chạy, nhưng đi lại không phải đi? Thứ động tác hai chân o làm sao cho chiếc đòn gánh cong cong, vẫy nhịp thật đều theo bước chân, vừa nhanh vừa nhẹ bớt sức nặng trên vai. 

Có điều nguời viết muốn mô tả cho thật rõ ràng, o chẳng khi nào "trở vai" lúc đang gánh. O chỉ thuận một bên vai. Những lúc có khách là lúc gánh bún đuợc đặt xuống cho vai o đuợc nghỉ, thế thôi. Có thể vai bên phải, o đã chịu đựng lâu ngày nên thành thói quen. Nhắc chuyện "trở vai" của người xưa gồng gánh nuôi chồng đợ con, người viết mới nhớ thương mạ mình. Những ngày nghèo khổ sau cái Tháng Tư Đen não nùng kia, ngày hai buổi chợ, quảy gánh truân chuyên, tuổi già lận đận với cái đòn gánh đè vai mà sức trai sau ngày tù tội chẳng làm chi nên hồn để giúp đỡ mẹ cha?

Thôi, tôi xin trở lại chuyện triêng bún xáo quê mình...

Tôi không bao giờ thấy mấy o người Huế hay ngay cả Quảng Trị bận áo cụt đi bán hàng. Gánh triêng bún ra đuờng là các o bận áo dài. Ngày xưa là vậy, đàn bà đi chợ, hay ra khỏi nhà là có cái áo dài; có cũ chi cũng có cái áo dài. Những chiếc áo dài bạc màu, sờn rách theo năm tháng o ruổi rong theo 'cơm gạo áo tiền' nuôi sống gia đình. 



Nhớ làm sao những tô bún bình dân, đáy nhỏ miệng to ngày xưa đó. Khách ăn hàng đủ hạng người. Người có tiền thì ăn tô 5 đồng, ai bình dân thì ăn tô 3 đồng; thậm chí con nít o cũng bán cho "chút chút" nửa tô 2 đồng. Gánh bún xáo của o bán đủ giá; o không hề than vản và khách ăn chẳng ai 'nề hà' chi. O vẫn chiều lòng khách. 





Ôi thương bàn tay của O răng mà quá khéo đi.  O múc theo đồng tiền của khách. hai, ba, nhiều nhất là năm đồng. Bạn đọc nhìn lại hình ảnh mấy đồng bạc xưa mà tưởng về ngày xưa thân yêu trìu mến...Vài lát thịt bò pha gân thôi, nhai sần sật mà răng ngon lạ ngon lùng. Hai ba miếng huyết. Đã kêu là bún bò thì không thể nào thiếu lát huyết. Rồi tiếp theo là chi nữa? Làn nuớc mỡ đỏ thẳm nằm trên, chưa và miếng bún vào miệng đã cảm nhận mùi cay rồi. Tiền nào của đó. Biết vậy, nhưng giá nào cũng trân trọng tô bún từ tay o đưa cho. Một chút hành ngò rau răm cắt mịn, o bỏ thêm lên mặt, chính xác, vừa đủ, thế mà thiếu nó là biết ngay. Từ cọng bún, miếng thịt, tí huyết, chút nuớc màu trên mặt, trái ớt, (cho nguời ghiền cay), rắc chút tiêu và thứ rau răm cắt mịn là điều bắt buộc sau cùng. Bàn tay lẹ làng và chi ly chính xác của o phải là điều bắt buộc. Bạn có biết răng không? Cái đích cuối cùng là o phải kiếm ra gạo ra tiền để nuôi trong nhà. Một gánh "giang sơn" của O theo ngày tháng ruổi rong chất chứa bao nhiêu là mong ước đồng lời đếm theo từng ngày. Tất cả đợi mong đó đều dựa vào bàn tay dịu dàng nhanh gọn của o.

Triêng bún xáo, chiều chiều vẫn bốc mùi thơm thoáng qua lỗ mũi bắt mình phải thèm thuồng. Chính đó là mùi thơm rất riêng của nồi bún xáo. Mỗi lần o giở cái nắp nồi lên,  từ cuối gió khách chờ mua, biết đuợc gánh bún o tới rồi...


Những thứ thịt bò loại rẻ tiền, bạng nhạng 'nhiều mỡ ít nạc'. O chỉ ưa mua về loại hai loại ba này thôi. Vừa có đồng lời, vừa hợp với một thứ gọi là 'bún xáo'. O nói: 
     

   - Thịt bạng nhạng, pha chút gân lẫn ít mỡ làm bún xáo mới ngon mới hợp.

 Đúng như rứa, thịt quá tốt, chúng ta hay gọi là thịt thượng hạng chỉ dành cho món bí tết, tiệc tùng hạng sang hay kỵ giỗ. Bữa ăn thịnh soạn như thế tất nhiên không có 'chỗ đứng' trong mấy triêng bún xáo của các o

Người thưởng thức tô bún xáo  sẽ chú ý đến chuyện phân biệt 'xáo bún' là gì? và khi ta đã hoàn thành múc thứ xáo này lên tô bún thì nó nghiễm nhiên trở thành "tô bún xáo". Nói như thế để giới rành ăn sẽ đòi hỏi rằng nước súp phở hay những thứ khác không bao giờ thay thế để làm tô bún xáo được



 Đưa tô bún nho nhỏ, vừa tay, lên miệng; khách ăn sẽ ngửi được mùi thơm nước xáo đúng 'gu' do tay người miền trung nấu không lầm vào đâu được.  Thoang thoảng mùi rau răm, tiêu và miếng bún nức mùi xáo vào miệng.  Rồi khách ăn sẽ cảm nhận được lát thịt bò xần xật giòn, bùi bùi, xen một lát huyết đậm đà, beo béo. Người thưởng thức, vừa nhai vừa cắn miếng ớt chìa vôi thơm, cay nồng xông lên tận hốc mũi



Cảm giác đói, thèm, càng tăng khi gánh bún của o còn mãi đàng xa, do o đang bận khách. Chiều chiều ai cũng chờ, cũng trông gánh bún đi qua. Dọc phố, các chị , các mệ cũng đợi gánh bún các o đi ngang. Có mấy o là có bữa sáng tới rồi. Mùi bún xáo phố Huế hay phố Quảng nào cũng giống nhau. Khách ăn của mấy o không bao giờ chê, chẳng bao giờ ngán mới lạ làm sao?

Có phải huơng vị cùng hình ảnh gánh bún xáo mấy o mấy chị ngày xưa đã thẩm đượm vào phong cách ẩm thực của người trung bao đời nay chăng? Người ta chẳng hề quan tâm, chỉ một tâm lý vắng gánh bún xáo ngày đó thì nhớ và thèm đó thôi.

Cái nồi tròn nhôm một đầu, đầu kia là tô, đũa hay những thứ linh tinh, lỉnh kỉnh. Mọi thứ đều cũ kỹ trước mắt khách đợi. Khi nắp nồi xáo được o giở lên, cái vá nhẹ nhàng, chính xác chi ly o chan từng thứ lên tô bún; mùi thơm của nước xáo không lầm lẫn vói bất cứ loại món ăn nào làm khách ăn nhớ đòi.

Một thời, khi cái từ "kéo ghế" chỉ dành cho những cơ hội hiếm hoi vào tiệm trên phố; thì  những triêng hàng ăn là hình ảnh thân quen cho thực khách bình dân. Những mệ những o...người viết nhớ làm sao mấy triêng hàng tháng ngày kẻo kẹt dọc theo từng con hẻm hay men theo mấy con đường dẫn vào xóm nhỏ. Trong những hình ảnh xa xưa đó, triêng bún xáo dường như  "bất tử' trong lòng chúng ta phải thế không thưa bạn đọc?


Đinh trọng Phúc 
Cửa Hậu, Thành Cổ, Thôn Đệ Tứ QT xưa

Monday, July 27, 2026

CÚC HOA (The Chrysanthemums by John E. Steinbeck ) TRUYỆN NGẮN



nguyên tác:
 The Chrysanthemums 
by John E. Steinbeck 

DỊCH THUẬT: Đinh Trọng Phúc

                                  

Sơ lược tiểu sử của Văn Hào John E. Steinbeck

nhà văn John Steinbeck

Lời dẫn:
John Ernst Steinbeck, Jr. là nhà văn Mỹ. Ông sinh năm 1902 và mất năm 1968. Ông nổi tiếng trong văn giới Hoa Kỳ sau khi đoạt giải Pulitzer văn học với tác phẩm Chùm Nho Phẫn Nộ(The Grapes of Wrath, 1939) và qua Hướng Đông vườn Địa Đàng, (East of Eden 1952), Của Chuột và Người (Of Mice and Man, 1937).
Ông là tác giả của 27 tác phẩm bao gồm 16 tiểu thuyết, 6 tự truyện, 5 tác phẩm tổng hợp thuộc nhiều truyên ngắn. 
John Steinbeck thắng giải Nobel văn học vào năm 1962.
Nhà văn Steinbeck bắt đầu viết trước thời Khủng Hoảng Kinh Tế thập niên 1930s của Hoa kỳ. Như trong Chùm Nho Phẫn Nộ, ông miêu tả sự di cư ào ạt của nông dân Mỹ cùng cuộc sống khó khăn từ miền trung tây Hoa Kỳ nơi chịu khủng hoảng nông nghiệp tiếp theo lại đại họa DUST BOWL – những đám bụi khổng lồ che kín các tiểu bang Texas , Oklahoma lan tới cả bờ biển phía đông Mỹ quốc. Hàng loạt nông dân thất nghiệp phải bỏ quê hương đi kiếm sống tại California. Trong tác phẩm đó, ông nói lên một thực trạng bất công trong xã hội Tư Bản giữa giới chủ Nông Nghiệp và tầng lớp đông đảo làm thuê. Từ ngòi bút bộc trực và không kém sắc bén của ông nên có lúc ông bị giới tư bản 'ghép' cho ông là Cộng Sản. Thật sự, với khả năng miêu tả phong phú, Steinbeck chỉ có nhiệm vụ "lột trần" những sự thật mà thôi.
Trở lại truyện ngắn The Chrysanthemums tạm dịch là Cúc Hoa, Nhà văn John Steinbeck một lần nữ,  muốn nói về cuộc sống khó khăn của người dân Mỹ trong cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế. Công ăn việc làm quá hiếm hoi, người ta kiếm ra đồng bạc độ nhật qua ngày không phải là chuyện dễ dàng?
Gã thợ dạo chuyên đi rong đó đây làm nghề mài dao kéo phải uốn cong “ba tấc lưỡi” đánh trúng vào tâm lý yêu hoa của nhân vật nữ Elisa, người chủ vườn cúc. Gã  giả vờ ca tụng hoa cúc, sở thích của nàng  hầu mong nàng sửa cho một ít đồ. Mục đích của gã chỉ vì tiền, thế thôi. Trái lại, nàng Elisa thì đớn đau chua xót trong lòng do sau này biết được lòng yêu mến nghề nghiệp cùng nghệ thuật của nàng đã bị lợi dụng và chà đạp phũ phàng. 
Sự mâu thuẫn giữa nhu cầu thực tế hàng ngày để sống cùng tính cao đẹp của nghệ thuật và đam mê nghệ thuật đó cũng là sự  va chạm giữa thực tế đời thường cùng lý tưởng xa vời.
Nhà văn không phải nhấn mạnh vào điều trên mà muốn nói lên một thực trạng tiêu điều của đời sống  Mỹ trong thời đại Đại Khủng Hoảng kinh tế  trong lịch sử Hoa Kỳ mà nguyên nhân chính là chính sách kinh tế Tư Bản đã xô đẩy con người đến những láo lường xảo trá hầu sinh tồn 
Trong cuốn Truyện Dài The Grapes of Wrath (Chùm Nho Phẫn Nộ) từng nói rõ hơn về lý tưởng của nhà văn John E. Steinbeck ra sao?

Mời bạn đọc vào...

                                        
                                                    ***





   







thung lũng Salinas (Monterey California)


    Vài đám sương mù mùa đông mờ xám lướt thướt bay trên cao như tách rời  thung lũng Salinas ra khỏi bầu trời quảng khoát của thế giới bên ngoài. Sương mờ che kín dãy núi bao quanh thung lũng trông y cái nắp khổng lồ cho một cái nồi vĩ đại.

Trên các dãi đất bằng phẳng, người ta cày sâu vào làm tơi lên màu đất đen kim loại. Mấy nông trại nằm ở chân đồi cạnh con sông Salinas. Sắc vàng do những đám đất còn trơ gốc rạ đang tắm ánh nắng yếu ớt mùa đông. Thực ra chẳng có ánh nắng nào trong cái thung lũng này vào tháng Chạp. Bụi liễu khô rậm cạnh bờ sông rực rở hẳn lên từ đám lá nhọn hoắc, vàng đậm.

Đây là lúc của im lặng và đợi chờ. Làn không khí lành lạnh, êm đềm. Ngọn gió nhẹ nhàng từ hướng Tây Nam làm anh nông dân mơ màng về một trận mưa lớn sẽ tới; nhưng khi trời sương mù thì làm gì có chuyện mưa?

Bên kia sông dưới chân đồi, nông trại của nhà Henry Allen vẫn còn ít việc phải làm. Cỏ khô phải cắt cất vào kho cùng đất vườn cần cày xong để đợi trận mưa đầu mùa sắp đến. Đàn bò trên dốc giờ lông chúng thô ráp xù- xì.

Elisa Allen vừa làm  trong mảnh vườn hoa của nàng vừa ngó xuống phía dưới thì thấy Henry, chồng nàng đang nói chuyện với hai gã đàn ông. Hai người khách này ăn bận theo kiểu thương nhân. Cả ba đứng cạnh mái nhà chứa xe kéo.Hai người khách để một chân bên hông chiếc xe nhỏ hiệu Fordson, hút thuốc, bàn chuyện máy móc...
Elisa chỉ nhìn sơ qua rồi tiếp tục làm. Nàng độ tuổi ba mươi lăm, khuôn mặt đầy đặn thoáng mạnh bạo cùng đôi mắt trong như làn nước. Dáng nàng đóng khung trong bộ áo quần làm vườn thô kệch với cái nón đàn ông đen kéo thấp che cả mắt.Đôi giày làm vườn nặng chịch.  Bộ áo quần có vẽ hình gần như bị che phủ bởi cái cái tạp dề vải bông dầy có bốn túi lớn đựng nào kéo tỉa, nào xẻng, cào, hạt giống cùng dao. Nàng còn mang cả đôi bao tay da để bảo vệ hai tay.
Elisa dùng cái kéo ngắn mạnh cắt bớt mấy cuống cúc già. Thỉnh thoảng nàng trông qua mấy ông khách vừa tới trang trại. Mấy người đó còn đứng cạnh chiếc máy kéo. Mặt nàng giờ đẹp lạ lùng,đây đầy nét hăm hở, hồn nhiên. Khi làm với chiếc kéo cắt cây trông Elisa thừa hăng say và tràn đầy sức mạnh. Những cành cúc yếu đuối kia giờ thật nhỏ bé so với năng lực của nàng.

Dùng phần lưng của bao tay, nàng khẻ vuốt lại làn tóc đang rũ trước mắt làm vương một vết bẩn dưới cằm. Đàng sau là nhà nàng, màu trắng xây theo kiểu nông trang. Nó trông gọn gàng với những cây phong lữ màu đỏ xung quanh chiều cao chúng ngang tầm với mấy khung cửa sổ. Căn nhà coi bộ quét dọn kỹ. Mấy khung cửa sổ đánh bóng tinh tươm  cả cái bậc tam cấp trước nhà cũng có cái thảm chùi bùn hẳn hoi.

Elisa liếc mắt lại hướng cái chái và chiếc xe máy cày lần nữa. Hai người khách đã vào lại chiếc xe Ford. Nàng cởi bớt một chiếc bao tay, dùng đầu ngón tay lách mạnh mạnh vào đám cúc con mới nhú mầm xanh non quanh mấy cái rễ già. Nàng luồn lách ngón tay giữa đám lá non để biết chắc không còn loại sâu, côn trùng, rệp lá hay sên nào hại cúc. Elisa  phải giết hết  những thứ  này trước khi nó sinh sôi...





Chợt tiếng chồng vang lên sau lưng, anh im lìm tới gần Elisa không biết lúc nào? Hơi nghiêng người qua hàng kẽm gai bảo vệ vườn hoa hay chống lại bầy bò, lũ chó, gà:
-Lại trồng thứ đó nữa?
-Em lại thêm một vụ cúc nữa đây rồi, khá chứ em?
Elisa thẳng lưng dậy, nàng lại kéo bao tay ra:
-Vâng, vụ hoa năm này chắc hẳn là khá lắm.
Nàng cao giọng, sắc mặt đầy vẻ tự hào.
-Những thứ này là món quà cho em đấy.
Henry nhận xét.
-Năm nay em gầy được loại cúc vàng lớn đoá thật, anh đoán nó to đến mười phân lận. Anh ước sao em cũng tạo được trong vườn cây ăn trái nhà mình mấy trái táo to đến ngần ấy thì hay biết mấy.
Mắt nàng bỗng sắc sảo hơn:
– Làm được chứ anh. Đã nói, em giỏi về món này mà. Mẹ em cũng thế đó anh. Mẹ chỉ cắm cành xuống vườn là mọc ra cây trái ngay. Mẹ em thường nói phải bắt những bàn tay người làm vườn phải biết làm sao trồng cho được mà.
-Vậy thì, trồng hoa coi bộ chắc ăn.
– Henry, hai người nào nói chuyện với anh vậy?
-Bởi thế anh mới tới nói cho em biết đây. Mấy gã đó là người của Công Ty Thịt bò Miền Tây. Anh đã thuận bán bầy bò thịt ba mươi con rồi. Cũng suýt soát với giá anh muốn.
-Tốt thật.
Nàng buông nhẹ:
– Tốt thật cho anh đó.
– Và anh nghĩ rằng …
Henry tiếp tục:
– Anh mong trưa thứ Bảy này chúng mình sẽ về Salinas ăn tối tại tiệm. Ăn xong chúng mình sẽ đi xem phim coi như là ăn mừng chuyện này nhé.
-Tốt.
Nghĩ sao nàng lặp lại:
-Ồ vâng, vậy thì tốt quá!
Giọng Henry có vẻ đùa:
– Tối lại có một trận võ đài. Em có thích võ đài không nào?
-Ô, không.
Nàng như muốn nín thở:
-Em không thích võ đài đâu.
-Anh đùa thôi, Elisa. Chúng mình sẽ xem phim. Xem này, bây giờ là hai giờ, anh sẽ gọi thêm Scotty giúp lùa bầy bò trên đồi xuống. Sẽ mất hai giờ nữa. Chúng mình sẽ về phố khoảng năm giờ ăn tối ở khách sạn Cominos. Em thích chứ?
– Dĩ nhiên là em thích rồi, ăn một bữa xa nhà thú lắm.
-Tốt , thôi anh đi lấy hai con ngựa đã.
– Giờ em còn nhiều thời gian để bứng trồng một mớ cây này đã.

Nàng nghe tiếng chồng gọi Scotty cạnh kho rơm. Lát sau, có bóng hai người đàn ông cưỡi ngựa ngược lên triền đồi vàng chệch màu cỏ úa vàng vọt kia để lùa bò về.

                                                        ******
       Salinas Valley




Một cây cúc có một khoảng nhỏ đất pha cát vuông vắn. Elisa dùng cái xẻng nhỏ liên tục trộn đều đất, xong nàng ém quanh đễ giữ chặt từng gốc cúc. Nàng xới đều mười khoảnh đất song song với nhau để trồng những gốc cúc này. Nàng tiếp tục dùng kéo xén bớt lá và rể thừa và để từng cụm rác nhỏ bên cạnh.


Chợt có tiếng bánh xe “cót- két” nghe thật nặng nhọc từ con đường vẳng lại. Elisa khẻ nhìn lên.

một cảnh trong phim The Chrysanthemums 
Con đường quê xuyên qua mấy rừng liễu cùng bông gòn dày đặc tiếp giáp với con sông. Từ đằng xa có một cổ xe trông là lạ, gợi tính tò mò. Đó là một toa xe ngựa, loại toa chở hàng có lò xo nhún cho êm với một tấm bạt tròn cong cong che cao trông giống toa xe kéo thuở xưa. Con ngựa già và một con lừa hai màu trắng, xám, đang kéo toa xe. Ngồi trên toa xe này, gã đàn ông hàm râu lởm chởm. Trên đầu gã chỉ có vài miếng che sơ sài. Gã gắng điều khiển, kéo lê toán lữ hành chậm chạp tiến lên từng bước trên đường. Dưới toa xe, khuất sau phần trong mấy chiếc bánh xe đang chạy, có con chó lai ốm tong teo thong thả bước theo. Hàng chữ viết trên tấm bạt coi bộ vụng về, cẩu thả: 

 Nồi, chảo, dao , céo (sic), làm cỏ. SỬA HẾT MỌI THỨ

 Hai hàng chữ ở trên cùng chữ SỬA to tướng có vẻ tự tin ở dưới. Gã còn cẩu thả để những vết sơn đen chảy dài xuống chữ gã viết.


 Elisa ngồi xổm trên nền đất, lặng ngắm toa xe khập khểnh lăn bánh đi qua. Nhưng toa xe này không qua ngay. Nó đang rẽ vào con đường trước ngõ vào nhà nàng, mang theo tiếng cót- két chói tai từ mấy chiếc bánh xe ọp- ẹp kia. Con chó lai dưới gầm bánh giờ chui tọt ra ngoài, chạy ra hướng trước. Lập tức hai con chó chăn cừu trong nhà phóng vụt ra. Đuôi của ba con chó dựng đứng, hơi ngo ngoe, cẳng căng ra trong dáng điệu sẵn sàng nghênh chiến, hết sức thiện nghệ và cẩn trọng.



Toa xe xe thực sự dừng hẳn trước hàng rào của vườn Elisa. Giờ đây con chó mới này cảm thấy vô tích sự, đuôi cụp xuống, nó chun lại vào dưới gầm nằm đợi nhưng lông cổ vẫn còn dựng, hàm răng nó còn nhe ra ngoài.

Gã đàn ông trên xe nói vọng ra:

-Con chó này chiến đấu coi tệ thật phải không bà?

Elisa cười:

 -Tôi cũng thấy thế, nó đi theo ông bao lâu rồi?

Gã không bỏ qua cơ hội lúc nàng đang vui vẻ trả lời ngay:

-Cũng không phải tuần này qua tuần khác đâu thưa bà...

Vừa trả lời gã vừa men theo bánh xe trụt xuống. Hai con ngựa và lừa giờ đầu cụp xuống, trông chẳng khác gì những cánh hoa thiếu nước chút nào.Gã là một người đàn ông to lớn. Tóc râu tuy xám ngắt nhưng trông gã không già lắm. Bộ đồ đen nhăn tụm, lốm đốm vết dầu mỡ. Cùng lúc tiếng cười của gã ngưng, nụ cười cùng ánh mắt gã biến mất theo ngay. Đôi mắt tối thẩm, ủ ê, thần sắc của những kẻ rong ruổi lâu ngày trên xe hay đi biển lâu ngày. Đôi tay chai sạm của gã tựa lên hàng kẽm gai trông nứt nẻ, những vết nứt đen bầm.

 Gã giở chiếc mũ méo mó xuống:

-Thưa bà tôi từ ngoài lộ chính vào...có phải con đường đất này sẽ băng qua sông và dẫn tới xa lộ Los Angeles không hả bà?

Elisa giờ mới đứng dậy, vội bỏ cái kéo dày vào túi trước:

-Ồ vâng, con đường này sẽ tới đó, nhưng phải đi men theo con sông mới có chỗ cạn lội qua. Tôi không biết cỗ xe của ông có lội qua cát nổi không ?

Gã nhanh miệng đáp ngay, giọng cộc cằn:

-Tôi dám cá chắc, bà phải ngạc nhiên khi bầy súc sinh này sẽ lội qua được ngay.

-Thế thì khi nào xe ông sẽ tiếp tục đi lại?

Thoáng một giây gã cười:

- Vâng thưa bà khi nào chúng ‘đáng bắt đầu’ đi lại ạ .

-Vậy à.

 -Tôi nghĩ cách tốt nhất để tiết kiệm thì giờ ông nên ra lại đường Salinas và gặp được xa lộ chính theo hướng đó thì hay hơn.

Gã đưa ngón tay thô kệch vừa đè lên lưới thép ngăn gà vừa phân bua một cách nghề nghiệp:

- Tôi chưa vội lắm đâu thưa bà, hàng năm tôi vẫn đều đều đi từ Seatle về đến San Diego và trở lại. Cuộc đời tôi cứ mãi thế. Một chuyến đi mất hết sáu tháng. Tôi biết nhắm lúc thời tiết thuận lợi nhất bà ạ.

Elisa cởi bao tay, cái kéo làm vườn, cất lại vào túi trước cái tạp dề đang bận. Ngón tay nàng lần vào dưới vành cái mũ đàn ông sờ mấy lọn tóc dấu kín bên trong:

- Cuộc sống của ông nghe thú vị thật!

Dáng điệu gã giờ tự tin, gã nghiêng người qua hàng rào:

- Có lẽ bà đã đọc mấy chữ tôi viết bên xe rồi chứ bà. Tôi chuyên nghề đi sửa nồi dao kéo. Thế thì bà có cái gì cần sửa không thưa bà?

-Ồ không, không có, không có những thứ đó.

 Nàng vội trả lời ngay. Đôi mắt nàng chợt thoáng chụn lại nét bất nhẫn nào đó.

-Kéo cắt cây mau hư lắm bà ơi!

 Gã cố giải thích:

-Người ta càng cố làm kéo bén chừng nào thì càng làm cho kéo mau hư chừng đó, nhưng duy chỉ mình tôi có một dụng cụ đặc biệt, chuyên môn. Mọi ai khác dù có bảo chứng tôi cũng chắc là trò giả thôi bà ơi!

-Ồ không, kéo tôi tất cả còn bén lắm ông à.

-Vậy thì bà đem cái nồi cho tôi làm cho?

Giọng gã khẩn khoản van nài:

 - Cái nồi nào móp hay cái nào lủng. Tôi cam đoan sẽ làm cho nó mới ngay và bà khỏi cần mua mới. Nó tiết kiệm cho bà nhiều lắm đó.

-Không!

 Giọng Elisa nghe cụt lủn.

-Tôi đã bảo với ông tôi không có cái gì để sửa cả!

Mặt gã chợt buồn thiu, giọng nghe như rên rỉ:

-Hôm nay tôi chưa có món đồ nào để sửa cả bà ơi. Có lẽ tối nay tôi không kiếm ra bữa ăn tối rồi. Bà thấy đó, do tôi phải rẽ vào đường tắt này, chứ dọc theo xa lộ từ Seatle cho đến San Diego ai cũng để dành đồ chờ tôi sửa vì họ biết tôi sửa khéo và tiết kiệm được tiền cho họ nữa đó.

  -Xin lỗi.

 Elisa bỗng nổi cáu:

  -Tôi không có bất cứ cái gì cho ông sửa hết!

Mắt gã giờ đây đảo quanh soi mói trên mặt vườn. Ánh mắt dừng lại trên thửa cúc nơi nàng đang làm:

-Loại cây gì đó thưa bà?
cuc hoa
Vẻ khó chịu và bất nhẫn vội biến mất trên gương mặt Elisa:

  -À, chúng là cúc vàng, cúc trắng loại đại đóa đấy. Hàng năm tôi trồng những loại này và chưa ai quanh đây có hoa này lớn hơn tôi cả.

- Loại hoa cuống dài, chúng trông như những ngụm khói màu phải không thưa bà?

- Phải, phải ông tả nghe thật chính xác!

-Nó ngửi có vẻ khó chịu cho đến lúc nào chúng ta quen dùng nó nữa đấy.

Nàng chỉnh lại:

-Nó có mùi khá nồng, hoàn toàn không phải khó chịu như ông nói đâu.

Gã đổi giọng ngay:

- Tôi lại thích mùi ấy đó bà. 

Elisa khoe:

-Năm nay tôi trồng được loại cúc lớn đến mười phân đó ông.

Gã lại nghiêng ngưòi sâu thêm vào trong hàng rào:

-Này bà, dọc đường tôi vừa quen một bà.  Bà này có vườn hoa thật xinh chắc bà chưa hề thấy. Bà trồng đủ loại hoa nhưng không có loại cúc so được với cúc của bà tại đây. Tôi vừa vá cái đáy bồn tắm cho bà ta. Thật khó nhưng tôi làm được. Bà ấy có dặn tôi rằng, khi tôi đi qua nơi nào có cúc đẹp nhớ kiếm cho bà ấy một ít hạt giống. Bà ấy bảo tôi vậy đó thưa bà.

Đôi mắt Elisa giờ đây trở nên linh hoạt, háo hức:

 -Bà ấy dĩ nhiên không biết nhiều về cúc đâu. Ông có thể lấy hạt trồng ra nó, nhưng lấy mầm và trồng nó thì dễ hơn nhiều như ông thấy ở đây vậy.

-Ồ!  Gã kêu lên.

- Vậy thì tôi chắc không đem gì cho bà ấy được rồi.

-Sao lại không?  Elisa kêu lên.

-Tôi sẽ cho vào một ít cát ẩm, xong ông có thể mang chúng đi theo. Chúng sẽ ra rễ trong chậu, nếu ông tiếp tục giữ cho nó ẩm rồi bà ấy có thể bứng ra mà trồng thôi .

-Bà ấy chắc chắn sẽ có những chậu cúc đẹp lắm. Chính bà nói chúng là loại đẹp nhất phải không thưa bà?

-Đẹp. Nàng thốt lên.

-Ồ! phải đẹp chứ.

Đôi mắt Elisa chợt long lanh.

Nàng hất cái mủ rách sờn vội rủ làn tóc đen nhánh và thật đẹp ra ngoài:

- Tôi sẽ bứng nó đem vào chậu hoa, rồi ông có quyền đem theo, nào hãy vào đi.

Trong lúc gã lách mình qua hàng rào, Elisa hăm hở chạy vội theo hàng cây phong lữ lui hướng sau nhà. Khi trở ra, nàng mang ra một chậu đựng hoa màu đỏ. Nàng quên mang cả bao tay, quỳ trên nền đất, làm cho nền đất ẩm phẳng phiu. Elisa dùng ngón tay cùng cái xẻng nhỏ bứng đất vào chậu hoa mới tinh này. Xong xuôi nàng đặt vào đó mấy nhúm mầm cúc đang lên vào chậu. Đầu ngón tay nàng ấn mạnh chúng sâu hơn vào trong lớp cát ẩm kia xong, nàng dùng khủyu ngón tay ấn đều xung quanh.

Đợi khi gã đứng gần, nàng bảo:

-Những thứ tôi dặn ông, nhớ bảo bà ấy làm như vậy nhé.

   -Tôi cố nhớ lời bà dặn, thưa bà.

   -Tốt lắm, ông hãy nhìn xem. Những cái mầm này sẽ bén rễ trong vòng một tháng. Xong bà ấy sẽ bứng nó ra cách nhau chừng một bộ (foot) một cây vào thứ đất thật tốt như tôi làm ở đây, ông thấy không?

Vừa nói nàng bốc lên một nắm đất đen nhánh cho gã thấy.

- Những cây cúc này sẽ lớn nhanh và cao lắm. Giờ xin ông nhớ điều này. Dặn bà ta vào tháng bảy cắt chúng đi chừa lại cao khoảng tám phân (inch) thôi nhé.

  -Trước khi nó ra hoa phải không thưa bà?

  - Đúng, trước khi nó ra hoa.

Mặt nàng đầy vẻ thiết tha:

 -Chúng sẽ mọc thêm ngay. Khoảng cuối tháng Chín chúng bắt đầu ra búp non.

Chợt nàng ngưng nói và xem bộ hơi lúng túng:

-Khi cúc ra búp nó cần chăm sóc kỹ.

Ngập ngừng nàng tiếp:

 -Tôi không biết làm sao để nói thêm với ông.

Nàng nhìn sâu vào mắt gã như dò xét. Miệng nàng hơi hé xem chừng như muốn lắng nghe .

-Tôi sẽ gắng giải thích cho ông, có khi nào ông nghe nói ‘bàn tay trồng cây’ là gì chưa?

-Thật sự chưa bà ạ.

- Vậy thì, tôi bảo ông thứ cảm giác ông sẽ cảm nhận khi muốn ngắt bớt những búp nào mà ông không thích. Mọi chuyện ăn thua ở mấy đầu ngón tay ông. Ông sẽ nhìn ngón tay ông làm việc. Những đầu ngón tay này tự làm công việc của chúng. Ông sẽ cảm nhận chúng ra sao. Chúng ngắt và ngắt những búp hoa. Chúng chẳng bao giờ sai sót. Chúng dành cho cây cỏ, ông thấy đó không? Ngón tay ông và cây cỏ. Ông có thể cảm nhận rằng cánh tay ông. Chúng biết chúng không bao giờ làm sai. Ông có thể cảm nhận nó. Mỗi khi ông ưa thích rồi thì ông sẽ không làm trật. Ông có thấy đó không? Ông hiểu không vậy?

Nàng vừa quỳ trên nền đất vừa ngước mặt lên nhìn gã. Ngực nàng phập phồng đầy cảm kích.

Đôi mắt gã hẹp lại, tự giác quay đi:

-Có lẽ tôi biết, thưa bà, có đôi khi trong màn đêm trong toa xe ngoài kia...

Giọng của Elisa trở nên khản đục. Nàng ngắt lời gã:

- Tôi chưa bao giờ sống cuộc sống như ông, nhưng tôi biết ý ông muốn nói. Khi màn đêm xuống lại tối tăm..tại sao, những tia sáng nhọn hoắt của những vị sao lập lòe trong khoảng không im vắng kia. Tại sao, ông lại càng lúc càng lớn hơn thêm?Vì mọi ngôi sao lập lòe kia đã thẩm thấu vào trong ngừơi ông. Giống như thế. Nhiệt tình và tinh nhanh và cả...trìu mến nữa kia.

Tiếp tục quỳ trên nền đất , tay nàng với rộng hướng về phía chân gã đang đứng với cái quần đen dính đầy dầu mỡ. Những ngón tay ngập ngừng gần chạm vào thứ vải kia. Tay nàng chợt buông xuống nền đất. Nàng khom lưng thật thấp trông giống chú chó đang mừng chủ.

Gã vội nói:

-Như lời bà chỉ thật quý hóa quá! Làm bà quên luôn bữa tối đây rồi, không thể như thế này được.

Elisa vội đứng thẳng dậy, mặt nàng thoáng thẹn thùng. Nàng nhẹ nhàng đưa chậu hoa vào tay gã:

- Đây, xin ông đặt nó vào toa xe cạnh chỗ ngồi, nơi ông có thể canh chừng nó. Có thể tôi đi tìm cho ông thứ gì cho ông sửa đây.

Nàng tìm trong đống đồ cũ sau lưng nhà ra hai cái chảo nhôm méo mó xong mang lại cho gã:

-Đây, nhờ ông sửa cho.

Thái độ của gã giờ đây lại đổi khác. Gã trở lại tính cách nghề nghiệp của mình:

- Bà sẽ thấy nó mới toanh, vâng tôi sẽ làm ngay.

Cuối toa xe gã đặt một cái đe nhỏ. Trong cái hộp dụng cụ dính dầu mỡ có cái búa máy nhỏ. Elisa bước ra cổng xem gã làm.  Gã đang đập lại mấy vết lõm bên trong cái ấm nước. Miệng gã có vẻ tin chắc và thành thạo. Đến phần khó nhất, môi dưới gã bậm lại.

-Ông ngủ trong toa xe này hả?

-Ngay trong xe này, thưa bà. Mưa hay nắng tôi đều khổ sở như con bò đằng kia kìa.

-Thế thì thú quá, như thế thì quá thú đi, ước gì đàn bà cũng sống và làm như ông vậy.

-Đây không phải cuộc sống thích hợp cho đàn bà đâu.

Môi trên nàng hơi trề ra, làm lộ hàm răng:

- Sao ông biết? Sao ông lại nói thế?

-Tôi không biết bà ạ. Gã chống chế.

- Dĩ nhiên tôi không biết. Xong rồi , ấm mới của bà đây. Bà không cần đi mua ấm mới nữa nhé.
-Bao nhiêu đây ông?

- Ồ, bà cho năm mươi xu, tôi luôn lấy tiền hạ. Đó là nguyên do tại sao tôi luôn giữ được khách suốt từ trên xuống dưới dọc theo xa lộ ngoài kia đó bà.

Elisa mang trong nhà ra đồng năm mươi xu thả vào tay gã:

-Ông có thể ngạc nhiên đôi khi có những đối thủ. Như tôi có thể mài kéo nữa. Và tôi có thể dằn những vết lõm bên trong mấy cái ấm nhỏ. Tôi còn có thể bày cho ông những việc đàn bà nên làm.

Gã cất búa vào lại cái hộp đồ nghề dính dầu mỡ kia lại xô mạnh cái đe nhỏ cất đi:

-Đây là cuộc sống cô độc cho phụ nữ, thưa bà, nó còn nhiều sợ hãi nữa vì những con thú bò ở dưới sàn xe ban đêm đó.

Gã leo lên toa xe qua môt thân cây sát đó, giữ thân mình vào cái mông trắng của con lừa. Sắp đặt chổ ngồi xong nắm lại mấy sợi dây cương:

-Xin cám ơn lòng tốt của bà, thưa bà , tôi sẽ làm y như lời bà bảo; tôi sẽ đi trở lui gặp con đường Salinas.

-Hãy nhớ, nàng nói theo:

- Nếu ông đi lâu nhớ giữ cát cho ẩm nhé.

-Cát hả , thưa bà ?...Cát? Ồ, chắc chắn thôi. Bà bảo xung quanh mấy cây cúc chứ gì. Vâng tôi sẽ nhớ.

Giọng hắn như muốn phụ họa. Hai con vật ngoan ngoản tròng đầu vào hai cái ách đắt tiền của chúng. Con chó lai trở lại đi giữa hai bánh xe sau. Toa xe quay đầu lại từ từ bò ra đường cái, lui con đường nó vừa tới dọc theo con sông.

                                                      *****




SALAD BOWL của Salinas, quê huơng John E. Steinbeck

Elisa đứng trước hàng rào nhìn theo toa xe chậm chạp bò trên đường. Đôi vai nàng cố rướn lên, đầu nàng hơi ngã lui sau, đôi mắt nàng nheo lại cố thu hình ảnh đoàn lữ hành ra đi mờ dần. Môi nàng mấp máy.

-Tạm biệt, tạm biệt!

 Bất giác nàng thì thầm một mình:

- Hướng đó mới tươi sáng, mới tràn trề hi vọng.

 Nàng giật mình với tiếng thì thầm của mình, lắc đầu nhìn quanh xem ai có nghe nàng vừa nói một mình không? Họa chăng là chỉ mấy con chó nhà nàng. Đang nằm trên nền đất, mấy con chó hơi ngẩng đầu nhìn nàng xong, chúi mõm xuống tiếp tục ngủ. Elisa quay lại chạy vụt vào nhà.

Vào bếp, nàng lui đằng sau rờ thử cái thùng chứa nước nóng. Nước nóng bằng ánh nắng buổi trưa. Trong phòng tắm nàng lột phăng bộ áo quần đầy đất, vứt vào một góc. Dùng mảnh xốp, nàng kỳ cọ thật kỹ đôi chân, đùi, thắt lưng, lên ngực, hai cánh tay cho đến khi da nàng đỏ ửng. Giờ đây nàng đứng trước gương đợi khô cùng ngắm thân thể mình. Eo nàng nhỏ nhưng phần ngực nở nang. Xong quay ngang, nàng ngắm phần vai và lưng.

Sau cùng, nàng bận vào bộ áo quần đi chơi phố. Cử chỉ nàng chậm rãi, khoan thai. Trước tiên nàng dùng bộ đồ lót mới, đôi vớ dài xinh nhất cùng bộ đồ ưu tiên phù hợp với sắc đẹp của nàng. Nàng cẩn thận trau dồi mái tóc, viền hai lông mày và tô son đôi môi.

Gần xong trang điểm, nàng nghe chân bò rầm rập trở về chuồng, tiếng la hét của Henry cùng người theo phụ đang lùa bầy bò lông đỏ về, tiếng cửa chuồng đóng mạnh.  Tất cả âm thanh đó cho nàng biết rằng Henry đang về nhà.

Tiếng chân chồng nàng ngang trước hiên nhà và anh ta gọi:

- Elisa ơi, em đâu rồi?

-Em đang ở trong phòng, đang bận đồ đây, chưa xong đâu. Có nước nóng cho anh tắm ở trong, nhanh lên kẻo trể mất!

Nghe tiếng chồng tắm bên kia, Elisa vội đặt bộ đồ xám trên giừơng cho chồng, chiếc sơ mi, đôi vớ cùng cái ca -vát bên cạnh. Nàng không quên đặt đôi giày đánh bóng sẵn cạnh giường. Xong, nàng ra hiên, nghiêm trang và ngay ngắn ngồi đợi chồng.

Elisa nhìn về phía con đường men theo con sông, nơi rặng liễu vẫn một màu vàng cháy do lá chết lạnh. Dưới làn sương đậm, trông như dãi nắng dưới ánh mặt trời. Đó là sắc màu duy nhất trong buổi chiều xám ngắt. Nàng ngồi bất động, thật lâu mới thấy mắt nằng nhấp nháy.

Henry mở mạnh cửa, vừa tới gần vừa thắt ca vát khi mặt xong chiếc áo vét. Nét mặt Elisa thoáng nghiêm lại, dáng trầm tư. Henry lại gần chợt thốt lên khi ngắm nàng:

- Sao vậy, Elisa. Hôm nay trông em đẹp lắm!

-Đẹp? Anh nghĩ em đẹp hả? Anh nói "đẹp" có ý gì đây?

Henry vụng về:

-Anh không biết nữa? Anh muốn nói hôm nay em xem khác lắm, mạnh mẽ ,vui sướng hơn mọi khi.

-Em mạnh mẽ? Vâng, thì mạnh mẽ. Anh nói mạnh mẽ với ý gì vậy?

Anh ta càng lúng túng hơn:

 - Coi bộ em muốn thách đố anh rồi!

Giọng Henry nghe yếu xìu.

- Thôi cho anh đùa chút nghe. Trông em thật mạnh, đủ bẻ chân con bò; sướng vui như đang ăn một trái dưa hấu vậy đó.

Trong thoáng giây nàng mất vẻ cứng nhắc lúc đầu, nàng nói hết ý mình:

- Henry! Anh đừng nói thế. Anh không hiểu được lời chính miệng anh nói ra đâu.

-Em mạnh mẽ...

 kiêu hãnh nàng tiếp tục:

 -Thế mà từ lâu em chẳng biết mình mạnh đến thế.

Henry hướng về phía nhà che chiếc máy kéo.  Khi ánh mắt trở lại bên nàng, anh trở về thực tại:

-Đợi anh lấy chiếc xe kéo, em choàng áo vào,  anh đi nổ máy nhé.

Elisa bước vào nhà. Nàng nghe tiếng chồng lái chiếc máy kéo ra hướng cổng đợi nàng. Lận bận với chiếc mũ khá lâu, nàng làm chồng phải tắt máy cũng vừa lúc nàng vừa choàng được chiếc áo, vội bước ra.

                                         Salinas City 1930s


Chiếc xe kéo loại nhỏ chạy rập rình, lắc lư, trên con đường đất men theo con sông. Mấy đám chim bay toáng lên, mấy chú thỏ sợ hãi chạy biến vào mấy bụi dại bên đường. Hai con sếu nặng nề vổ cánh khỏi rặng liễu, buông mình xuống lại lòng sông.

 Xuất hiện xa xa trên con đường, nàng chợt thấy một đốm nhỏ?

Khi sắp vượt qua “cái đốm” mà nàng phát giác trước đây, nàng cố “lảng đi” nhưng đôi mắt nàng chẳng còn “tuân theo”. Buồn bả nàng thì thầm một mình:

- Hắn đã vứt nó mất rồi. Chẳng hề chi, chẳng quan trọng. Nhưng ít ra hắn ta còn giữ lại cái chậu.

 Nàng tự giải thích:

 -Hắn còn biết giữ lại cái chậu, đó là tại sao hắn không vứt nó xuống đường.

Chiếc xe kéo chợt vòng lại bắt nàng phải thấy toa xe của hắn xuất hiện lần nữa phía trước. Khi xe vượt qua, nàng cố xoay hết người qua chồng để khỏi nhìn lại cái đám người và vật hổ lốn kia.Trong thoáng giây mọi thứ đều qua. Nàng chẳng cần nhìn lại làm gì. Chợt Elias nói lớn, cố át tiếng máy xe:

- Hay! hay lắm! bữa tối hôm nay chắc hẳn phải là tuyệt vời.

-Rồi, em lại sao đây nữa rồi? Henry làu bàu.

Anh rời một tay lái, vổ nhẹ đầu gối nàng:

-Kiểu này anh phải năng dẫn em đi ăn tối mới được. Sự thay đổi này sẽ tốt cho hai đứa mình. Ở nhà chúng mình nặng nhọc quá mà.

-Henry?

-Chúng mình có thể uống rượu tối nay chứ?

-Chắc chắn thôi, không hề gì đâu.

Nàng Im lặng một lát, nàng tiếp:

-Henry nè, tại võ đài người ta đánh nhau tàn bạo lắm không anh?

-Đôi khi cũng có, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Sao em hỏi vậy nhỉ?

-Vậy à, em đọc mới hiểu rằng vì sao họ bị vỡ mũi, máu chảy ròng ròng xuống ngực. Em còn hiểu được vì sao mấy chiếc bao tay ở võ đài nặng hơn vì ướt sũng máu.

Anh chồng nhìn quanh người nàng:

-Chuyện gì thế, Elisa? Anh không hay em đã đọc thứ đó.

Mang xe tới chỗ đậu xong, hai người đi về hứơng phải, lên cầu Salinas.

-Đàn bà có hay đi xem võ đài không vậy anh?

-Ồ, có chứ, có một số đi xem. Mà chuyện gì vậy hả em, Elisa? Em muốn đi xem hả? Anh không nghĩ là em thích đâu, nhưng em muốn thì anh đưa đi?

Vào chỗ ngồi, nàng cố gắng làm dịu câu chuyện một cách yếu ớt:

- Ồ không, không, em chẳng muốn đi đâu. Chắc chắn là em không muốn.

Nàng như muốn tránh cái nhìn của chồng.

-Có rượu như thế là đủ lắm rồi. Nhiều lắm rồi anh ạ.

Elisa chợt kéo cổ áo khoác lên cao để chồng khỏi thấy nàng đang khóc; tiếng khóc yếu đuối như một bà già.

John Steinbeck 1938

HẾT

CHUYỆN KỂ VƯỜN ĐIỀU của HAI LÚA và BẦY GÀ MANG DÉP LỐP tại XÃ SƠN MỸ

V ƯỜN ĐIỀU của Hai Lúa năm nay coi bộ được chăm sóc kỹ lắm. Chẳng lạ chi vì nghe đâu dưới huyện năm nay thu mua không cò...