Chào bạn đọc
Tác giả của trang blog Đinh Hoa Lư Hồi Ký và Tạp Bút xin tổng hợp lại những "điệu buồn" của cuộc chiến Tháng Tư, không qua những trang biện luận đầy dấu ấn hận thù dân tộc, không qua những dịch thuật xa gần có tính cách chính trị cùng học thuật cũng không qua những trang viết đầy kỳ thị võ đoán hay ghét hận khôn nguôi...
Tác giả chỉ đơn giản tổng hợp lại những trích đoạn trong suốt thời gian viết lách liên quan đến cuộc chiến vừa qua trên quê hương đất Mẹ mà thôi.
Năm mươi năm nửa thế kỷ quá, hãy bỏ đi bao chuyện thắng bại hơn thua, chúng ta hãy thắp lên nén tâm nhang tưởng niệm cho những người Việt Nam đã nằm xuống trên quê hương ba miền đất nước
Đinh hoa Lư
Cứ trưa trưa mỗi người mỗi vác đót thật lớn đứng xếp hàng "đếm số" vào lại cổng trại. Cái sân trại giờ đây phơi đầy những hàng đót , chờ khô có xe chở về Huế. Chuyện bán đót là chuyện của cán bộ, đời tù chỉ mong đến giờ nghe kẻng để đi nhận phần ăn là xong. Củ sắn, thìa muối sống buổi sáng , phần "canh đại dương" kèm theo sắn hay khoai ...thời hái đót ,năm ngày mới được thuởng thức một chén cơm từ khẩu phần 100 gam gạo; gạo là "thuốc bổ" phụ cho thời khoai sắn thay cơm. Đó là những năm tháng khó quên, những kỷ niệm "rưng rưng " với đót, với Trường Sơn - Huế, với những rừng đót lung lay theo gió.
Ngày đó từng bó đót được đổi miếng ăn cho tù, là kỷ niệm, là dĩ vãng. Tôi nhớ đót như nhớ (hay thuơng) những mãng rừng no nắng trên vùng biên giới, quê hương.
Ý niệm hận thù, ghét bỏ, đã qua đi như ngọn gió rừng lao xao lướt qua thảm rừng đầy tràn hoa đót. Giờ đây đót vẫn còn; nhưng là tiền, là gạo, cho bao lớp tuổi thơ VN, đời sống bấp bênh, nghèo đói so với tuổi thơ thành thị.
Qua bao năm, chắc hẳn giờ đây hoa đót vẫn đu đưa, "ru đời" qua đi sau từng cơn gió núi. Đót Trường Sơn vẫn vươn qua bao tàn phá của những bàn tay tham lam mở đất; đót còn nuôi em, nuôi mẹ vùng cao. Xã hội còn nghèo, hay tình nguòi cùng sự công bằng xã hội "còn nghèo"? Trường Sơn vẫn oằn lưng chịu bao nhát chém của lòng tham; đất Cao nguyên vẫn lở lói cho 'tiền muôn bạc tỷ' của những kẻ ngất ngưởng quyền uy ! Người dân núi vẫn nghèo, tuổi thơ vùng cao vẫn đói ! Bó đót qua thác vượt ghềnh, vẫn chống chọi với cái chết để đổi lấy miếng cơm! những chiếc cầu "công lý" vẫn chưa nối bờ cho đám dân rách rưới xác xơ ? Thôi, biến cố nào cũng qua, sướng khổ nào cũng hết; xin lắng tâm tư về kỷ niệm , mong sóng lặng gió qua bình yên như nước hồ thu. Trong muôn vàn ký ức của những thế hệ , những lớp người đi trước, bao người dân nước Việt dù bắc hay nam, dù người lính VNCH hay bộ đội Cụ Hồ, chắc hẳn đã có nhiều người mang nặng trong tiềm thức dấu ấn Trường Sơn. Một dấu ấn khó quên cho những thân phận lính chiến suốt dọc Trường Sơn trong đó có hình ảnh nhiều cánh rừng đót, đến mùa hoa nở trắng phau lung linh dưới nắng. Tôi không ngờ hôm nay những hình ảnh và câu chuyện về đót cũng được nằm trong vùng kỷ niệm...
(trích Rừng và Đó t cùng tác giả )
TRANG BLOG ĐINH HOA LƯ: RỪNG VÀ ĐÓT
-0-0-0-
HAI LẦN MẠ THĂM CON TRONG TÙ
Sáng lại tôi đinh ninh là không còn gặp được mạ và em tôi để từ giã. Nhưng một DỊP MAY lại tới:
Trại 4 sáng đó có công tác đem bán mấy trăm gánh tranh cho Hợp Tác Xã Triệu Long phía ngoài đường 1 hướng Chùa Ái Tử ngó ra. Tức là gần Chợ Hôm và sông Thạch Hãn. Lán 2 của tôi tức lán hồi hôm mạ tôi được vào thăm cũng gánh tranh ra Triệu Long. Cả đoàn tranh lũ lượt gánh ra gặp lúc mạ và em tôi cũng trên đường ra ngoài đó. Quả là một dịp may. Thật vậy hai mẹ con không có gì mừng hơn. Mạ và em tôi bươn bả đi nhanh theo đoàn người. Cả trăm gánh tranh nhấp nhô lên xuống theo con đường đất đỏ của căn cứ Mỹ trước đây, lúp xúp chạy theo là mạ và em tôi cố gắng chạy theo ở giữa đoàn tù đang gánh gồng.
Tôi thì quen rồi gánh gồng hai năm nay rồi. Được dịp may gánh tranh ra hướng Quốc Lộ để đi với mạ mình một đoạn đường như vậy thì không gì mừng hơn. Nhưng mạ tôi một tay dắt con trai út, vừa bám theo tôi nhưng tôi thoáng thấy trên mặt mạ mình sao quá nhiều ĐAU XÓT. Tôi hiểu từ ngày giã từ thời học sinh cho đến lúc vào lính ra trường ‘lon lá’ đàng hoàng oai phong tề chỉnh, có khi nào mà mạ tôi lại thấy và đây là lần đầu tiên trong đời người mẹ thấy đứa con trong bộ đồ tù rách rưới, gầy gò và gánh hai bó tranh to chạy lúp xúp như thế này đâu? Tôi lại nghĩ chắc mạ tôi đang đau xót cho tôi đang đau vai và mệt lắm chăng? Mạ tôi đâu có biết rằng tôi đã quen rồi với những ngày lao động. Cả cây gỗ nặng, lội trong rừng, ra đến rừng bụng đói còn vác được mười mấy cây số về trại. Huống gì giờ đây là gánh tranh khô khốc, và được gánh chạy bên mẹ và em mình thì chẳng có gì là khổ.
Đoàn tù gánh tranh đang qua chiếc cầu vượn bắc qua con suối, đoạn này đã đến thôn Ái Tử.
Chợt mạ tôi lên tiếng:
-ĐỂ MẠ GÁNH CHO CON ?
-Thôi mạ, con không mệt, ăn thua chi mô, con quen rồi mạ đừng lo.
Nét mặt mạ tôi vẫn không hết âu lo áy náy. Tôi không có thì giờ và thật sự chẳng có điều kiện nào để dừng lại nói cho mạ tôi hiểu, để người bớt lo buồn. Cán bộ dẫn tù cho mạ và em tôi đi bám theo đoàn tù như hôm nay thật sự mà nói họ quá tử tế rồi. Dỉ nhiên không ai nỡ lòng đành đoạn cản ngăn chuyện này. Mạ tôi và em tôi cũng là hình ảnh gia đình của họ ngoài kia. Và người chiến thắng họ chẳng cần gì làm chuyện khó dễ làm chi.
Mấy cây số ba mẹ con gần nhau, trên đoạn đường quê hương của một miền rú càn gần chùa Sắc Tử. Ngoài chùa Sắc Tử còn có mộ phần của những người thân, một ngôi chùa thân quen với bà ngoại tôi từng là bà Vãi và tôi với những kỷ niệm ra chùa thăm. Sau lưng tôi là Nại Cửu Phường cũng là bà con làng ngoại lên đó lập nghiệp. Những con đường quê hương đầy mùa sim chín đầu tiên của tháng tám năm 1975 là năm đầu tiên xây trại tù Ái Tử…từ lúc ở Ba Lòng chuyển tù về đây.
Cho đến hôm đó một lần mạ tôi ra thăm đứa con trai lần đầu. Cũng là lần đầu mạ tôi thấy tôi lam lũ, mồ hôi ướt đẫm bên gánh tranh vẫy nhịp chạy với cả đoàn tù gánh tranh đi bán dài lê thê như thế.
Trong niềm sung sướng vô bờ khi biết tin con trai còn sống, còn ở tù ở đây và cũng kèm theo những quặn thắt đau trong lòng mạ tôi khi nhìn hình ảnh tôi tiều tụy thảm não như hôm đó?
Đoàn tranh đi bán chúng tôi đã ra đến Quốc Lộ 1. Mạ và em tôi đứng lại bên đường chờ xe hàng ngoài hướng Đông Hà vô…Tôi không được phép dừng lại tiễn mạ và tôi vô nam, chẳng được thì giờ dừng lại nhắn nhe điều gì…Tôi phải gánh chạy theo kịp đoàn tù vượt qua bên tê đường vào giao tranh cho Hợp Tác Xã Triệu Long.
Tôi cố gắng ngoái lại nhìn hình dáng hai người mạ và em tôi đứng đợi xe chơ vơ bên đường Lộ một. Hình bóng hai mẹ con nhỏ dần và khuất hẳn sau những lùm cây dứa dại, phần tôi tiếp tục lo gánh tranh chạy theo cho kịp đoàn tù. Vừa chạy, lòng tôi vừa dâng lên nỗi buổn ảo não, nguyện cầu sao cho mạ và em tôi mau đón được chuyến xe nào đó để vô nam .
1978 LẦN 2- MẠ TÔI RA CHỈ ĐƯỢC 20 PHÚT GẶP CON
KHI NGƯỜI TÙ 'TRẢ THÙ' MỘT CON CHUỘT
Có thể bạn nào không phải là tù cải tạo chỉ nghe chứ chưa tường tận đời sống những người tù binh VNCH sau 1975 ra sao , chuyện kể có thực của tác giả cũng là người trong cuộc, sẽ đưa bạn hình dung thực tế hơn nữa.
trân trọng
ĐHL
CON CHUỘT hay là 'TÊN ĂN TRỘM'
Tiếng sột soạt làm tôi tỉnh thức lúc nửa đêm. Những người bạn tù nằm cạnh tôi đều ngủ say sau một ngày chặt rừng don rẫy. Đúng là nó; con chuột mấy đêm nay thường ‘tấn công’ cái bao cát đựng đồ ‘tư trang’ của tôi móc phía trên đầu. Con chuột tinh khôn và thật nhạy bén. Đêm trước tôi đã vùng dậy chụp lấy cái bao quyết bắt nó trả thù nhưng hắn nhanh quá chun ra vọt mất.
Cơn giận lúc nửa đêm chợt bùng lên như ‘sóng cuộn’ trong lòng tôi. Con chuột nó đánh hơi trong cái bao cát treo tòn ten trên đầu nằm tôi có mùi khoai luộc? Đó là mấy lát khoai cuối cùng còn lại từ món quà thăm nuôi mạ tôi trong nam ra thăm con tại Ái Tử. Khoai luộc, chúng tôi đặt cho cái tên khá ‘đẹp’ là “sâm Cao Ly”. Sao mà không là 'Sâm"? Những lúc nào thật cần thiết tôi mới đem ra nhai một lát...nhai từ từ thôi để thưởng thức chất ngọt của nó hòa trong một cảm giác dẻo dai của lát khoai. Nhưng có sợ hết chi thì giờ nó cũng gần hết. Có cái gì tồn tại lâu dài được với cái bụng tù ‘ngày đêm đòi hỏi’ đâu? Đói! Vâng đúng vậy. Một cảm giác khó lòng diễn tả sao cho đúng khi bạn chưa bao giờ có dịp cảm nhận một lần với đời tù cải tạo.
Thế mà con chuột 'khốn nạn' đó dám tấn công ‘kho báu’ của tôi! Tiếng động nói trên càng dồn dập, khó chịu xen lẫn trong nhiều tiếng ngáy đều đều của gần cả trăm con người đang say ngủ trong đêm.
Cái lán tù dài có hai dãy sạp nằm đan bằng tre nứa. Bề rộng chỗ nằm của chúng tôi, một người chỉ khoảng tám tấc bề ngang. Tôi rón rén ngồi dậy; gắng làm sao không làm cho người nằm hai bên thức giấc. Lòng mong muốn trả thù làm tôi tinh tế và cẩn thận hơn bao giờ hết. Nó đã ăn khoai của tôi và thứ hai là đã cắn rách cái bao cát làm ba lô một lỗ quá lớn! khó đào ra bao cát lúc này, Căn cứ Ái Tử đã bị đào xới không biết bao nhiêu lần?
Khi cái khom mình của tôi vươn thẳng lên một độ cao cần thiết, bao nhiêu sức lực của tôi tập trung vào hai bàn tay và chỉ một lần này:
Phụp!
Hai bàn tay tôi đã chụp đích xác, ép chặt khăng vào cái bao cát không dám rời, Một khối động vật nào đó nhúc nhích bên trong cho tôi biết được chắc chắn tôi đã tóm được nó. Sự tức giận của tôi mấy đêm nay chỉ tung ra vào giây phút này. Bàn tay tôi càng lúc càng siết mạnh vào cái khối nhúc nhích kia. Răng nghiến chặt, những luồng thần kinh đi từ lòng căm hận của tôi truyền xuống bắp thịt của hai cánh tay dẫn xuống hai bàn tay...những động tác mạnh bạo từ những nhát rìu, búa, rựa giờ nó biến thành cái siết kinh hồn của mười ngón tay...một sức mạnh đi từ sự thèm thuồng chất ngọt của mấy lát khoai từ miền nam thân yêu ra đến nơi này…
Khối thịt nhúc nhích, âm ấm bên trong cái bao giờ im hẳn. Nó đã tê liệt. Tôi phải chắc chắn con chuột đã chết.
Mấy người bạn đang ngủ ngon nghe động, thức giấc. Biết chuyện, họ nằm xuống ngủ tiếp.
Tôi vẫn để xác chuột nằm bên trong cái bao cát đó, sau khi cuốn cái bao lại vài vòng cho "chắc ăn". Giờ nó là ‘chiến lợi phẩm’ của tôi, con chuột phải trả cho tôi những gì đã mất!
Ngày mai tôi sẽ có món THỊT CHUỘT...
trích cùng tác giả
TRANG BLOG ĐINH HOA LƯ: TỔNG HỢP- CON CHUỘT TRONG TRẠI TÙ
Chúng tôi không ai bảo ai đều sà vào cái quán cơm bình dân bên đường trong lúc chờ xe đò từ Huế lên.
O bán cơm đon đả mời chào:
-Rứa (thế) là sướng quá rồi mấy eng ơi , dưới nhà chắc mừng lắm hỉ!
Mấy anh và tôi 'dạ dạ' luôn miệng, thật lòng cảm tạ lời chúc mừng của O. Lạ gì, thấy chúng tôi, người dân biết ngay tù mới được tha. Nhiều lần như vậy rồi. O nhìn những chiếc áo vằn vện, sọc ngang dọc ai mà chẳng đoán ra. Phải kể mấy cái ba lô nữa, đủ hình dạng, nhưng tất cả đều nhẹ hều. "Gia tài' của tù đều bỏ lại cho bạn. có gì quý đâu ngoại trừ “mang cái mạng” về với gia đình.
- Mấy eng ăn cơm cá dưa kho hỉ?
-Mấy đồng rứa o?
Tôi chỉ hỏi giá, còn chọn lựa thì không. Cơm là 'nhất trên đời" và cũng là thứ hàng 'độc nhất vô nhị' trong cái quán này.
-Hai đồng eng nờ!
"Thế là miềng (mình) còn 29 đồng còn đón xe hàng về Huế nũa," tôi thầm nghĩ.
Gần sáu năm trời, hôm nay tôi mới ăn tô cơm 'ngon nhất' trên đời. Cơm trắng, O đơm khá đầy, cộng thêm hai con cá nục cùng mấy lát dưa huờng kho thấm thía làm sao! Vị giác của tôi lúc này đang 'liên hoan' trong tài kho nấu của O bán hàng người Huế. Cái bao tử sẵn sàng tiếp nhận những gì từ miệng tôi sau khi 'thuởng thức' và đưa xuống. Tất cả đều thoải mái, không còn những lúc chần chừ lưỡng lự ...hình ảnh mới hôm qua- những củ khoai, khúc sắn phải chia đều trong trại. Củ sắn chia xong, ăn nhanh thì sợ hết! tôi để dành một ít về đêm, ăn dằn bụng trước khi đi ngủ.
Hầu như mọi người đều có lộ phí và ăn tô cơm cá dưa kho của o bán hàng. Những cái đầu gật gù, những lời nói chuyện râm ran, những hẹn hò gặp nhau sau ngày về với gia đình. Chúng tôi không quên nhau- Ái Tử -Thanh Hóa cho tận Bình Điền, biết bao kỷ niệm buồn vui.
O bán cơm bận áo Bà Ba trắng nhưng đã ố vàng do bụi đỏ Bình Điền và dãi dầu ngày tháng trên này. Tuy nước da O sạm đi do nắng nóng đất khai hoang nhưng không che đi cái 'chất Huế' từ dưới thành phố lên đây. Dáng nhanh nhẹn, giọng mời ngọt ngào bao lâu nay O quen mua bán dưới Huế. Giờ lên đây, cũng bán mua, nhưng là hàng cơm và thức ăn bình dân hạp với dân nghèo, lam lủ với rẫy rừng, cuốc rựa.
Câu nói ra bất ngờ của o bán hàng làm chúng tôi không ai bảo ai đều ngước lên nhìn!
Có thể mấy năm trước o từng chứng kiến cảnh túng bấn của bao người vợ tù gian nan, tất tả ngược xuôi. Những người vợ, người mẹ hay con dâu này bán hết những cái gì bán được trong buổi 'giao thời'. Từ vòng vàng, nhẫn cưới kỷ niệm, cái máy hát, rồi tủ bàn và áo quần nào còn đẹp, tất cả lần lượt “ra đi” do từ thiếu đói của bầy con, sau ngày ba chúng đi tù.
Trong nhóm, tôi là đứa em cấp bậc nhỏ nhất, lại độc thân. Tôi chưa thấm thía những cảm xúc bằng các anh, những người bao đêm quay quắt nhớ vợ thuơng con.
Những tô cơm hôm nay, O xúc đầy hơn, không tính toán. O mừng cho chúng tôi. O nói thật lòng. Năm tháng chịu đựng gian truân, thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần, những người vợ tù đáng quý biết bao! Sao mà chê 'đen' được các chị ở nhà ? 'thân cò lặn lội' gần xa, bao dặm đường gian nan tìm ra hạt gạo nuôi con, phần lo bới xách cho chồng trên trại. Hình ảnh đoàn người thăm tù hằng hai tháng, những người đàn bà nay quần thô áo vải, theo bước đi vội vàng, hai cái túi xách đu đưa hai đầu đòn gánh...
trích RA TRẠI cùng tác giả
TRANG BLOG ĐINH HOA LƯ: RA TRẠI (FULL 2)
-0-0-0-
- Có chi o nói giúp cho con nghe o? con sắp đi thăm nuôi 'dôn'(chồng) con ngoài Trại Sông Mao o nờ!.
O đó dáng tuổi dì hay mẹ của T. O không hẹp hòi chi. Nghe chồng nàng đang ở tù ngoài Trại Sông Mao, o cũng cảm động. Người làng của O cũng có mấy đứa cháu đi sĩ quan trong này còn đang 'cải tạo' ngoài đó chưa về.
T. tiếp tục tính toán trong đầu...nếu sáng đó nàng bị mất bao đậu phụng, thì vốn và lời từ hai bó mực nàng đang cột sát vào hai đùi nàng sẽ bù vốn. Nàng sẽ huề vốn. Nhưng! cái ngày thăm nuôi định kỳ cho chồng ngoài trại SÔng Mao sẽ không có chi cả? Hoặc giả, nếu nàng dùng số tiền còn lại này mua hàng cho chồng thì khi về lại sẽ không còn vốn nữa!
Mắt nàng giờ liếc nhanh về người quản lý thị trường, cái que xoi vây vẫy, chợt đảo nhanh qua băng ghế đối diện...
-Dạ... dạ...
Một cái bao lác đan bằng lá buông, trên để một mớ khoai luộc, lại "làm quà cho bà con " nhưng dưới là lớp mực mới phơi xong, đang tìm đường về ...Thành Phố.
Cái bao lác kia bị lôi xuống, đem ngay vào trạm. Người chủ bao kia không còn giấu được lật đật chạy theo vừa chỉ trỏ khóc lóc, van xin...
T. giờ mới dám thở mạnh. Nàng chợt thấy khỏe trong người sau những phút quá sức hồi hộp khiến tim nàng như muốn ngừng đập. Mắt T. chợt nhìn vào mặt người đàn bà kia, một ánh nhìn trìu mến, biết ơn.
Bác tài xế và thằng lơ càu nhàu, than thở do chưa thu tiền xe người đàn bà thiếu may mắn vừa rồi. Thằng lơ tiếc bao thuốc JET chưa khui, hắn vào và đặt trên bàn cái trạm Lán Gòn nhưng chẳng kết quả gì. Có thể giá trị bao thuốc không đủ sức để trạm 'bỏ qua' chăng? Cái chính là chiếc xe chưa đóng tiền "hụi" tháng này cho trạm?
Xe ra đến Ngã Ba 46, nó rẽ trái vô huớng Sài Gòn.
"Nhờ vậy mình mới thoát được bàn tay "thằng quản lý" kia"
Nàng nghĩ thầm và cho đó là một "sáng kiến thông minh". Tuy vậy, nàng không quên cái lợi thế từ cái quần đen rộng ống của mình.
Còn vài trạm "đột xuất" trên đường nhưng lơ xe và tài xế đã "lo trước" rồi. Những trạm sắp tới còn "nhân đạo " hơn cái trạm "Láng Cón" trong kia - cái trạm từng tịch thu hay làm đói biết bao gia đình.
Xe bon bon chạy; thằng lơ thỉnh thoảng "ầm ừ " vài câu vọng cổ mà nó thuộc lòng đâu đó.
T. lim dim mắt nhớ đến chồng ngoài trại Sông Mao đang ngày đêm mong đợi vợ thăm. Mường tượng khuôn mặt xanh xao và tấm thân gầy gò của chồng trong chuyến ra lần trước, bất giác T. không che giấu được hai hàng nước mắt nhớ chồng ứa ra không biết lúc nào .
TRANG BLOG ĐINH HOA LƯ: CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI VỢ TÙ CẢI TẠO-NỖI BUỒN QUA TRẠM




