Thursday, April 30, 2026

NHỮNG ĐOẢN VĂN TỔNG HỢP VỀ NGÀY BUỒN THÁNG TƯ 1975

Chào bạn đọc

Tác giả của trang blog Đinh Hoa Lư Hồi Ký và Tạp Bút xin tổng hợp lại những "điệu buồn" của cuộc chiến Tháng Tư, không qua những trang biện luận đầy dấu ấn hận thù dân tộc, không qua những dịch thuật xa gần có tính cách chính trị cùng học thuật cũng không qua những trang viết đầy kỳ thị võ đoán hay ghét hận khôn nguôi...

Tác giả chỉ đơn giản tổng hợp lại những trích đoạn trong suốt thời gian viết lách liên quan đến cuộc chiến vừa qua trên quê hương đất Mẹ mà thôi.

Năm mươi năm nửa thế kỷ quá, hãy bỏ đi bao chuyện thắng bại hơn thua, chúng ta hãy thắp lên nén tâm nhang tưởng niệm cho những người Việt Nam đã nằm xuống trên quê hương ba miền đất nước


Đinh hoa Lư 



LÀNG TRẠCH PHỔ ƯU ĐIỀM BỜ SÔNG Ô LÂU

Ruộng Trạch Phổ mới cấy xong, nhà hoang cửa vắng
Dĩ nhiên khỏi viết hết lên đây thì bạn đọc cũng hiểu rồi; đó sự tan rã đến nhanh. Nhưng trong tiếng súng và làn hơi áp mạnh của B 40 tấn công, tôi nghe có tiếng hét của hạ sĩ Lộc người y tá trung đội:
-Ch úy , ch Úy ! thằng Thành bị đạn rồi, ngay ngực nặng quá!
Thành chẳng chút may mắn, em bị trúng đạn ngay vào loạt đạn đầu của bắc quân vượt sông ngang xã Hải Văn... Càng lúc áp lực của những toán quân chính quy bên kia vừa qua sông càng bắn xối xả mạnh hơn.
Tất cả đại đội 2 chúng tôi bị dồn ra phía cánh đồng trống trải vừa mới cấy xong của Làng Trạch Phổ.
Bên cạnh cái lăng mộ ai đó giữa đồng lúa mới cấy tôi nghe tiếng rên của một người bị đạn, tiếng của Thành. Có thể bạn cho rằng tiếng rên kia phải là to lớn kêu gào hay thống thiết lắm chăng? Không phải thế! Qua bao nhiêu năm tôi không quên được tiếng rên của người lính trẻ. Thành chỉ rên lên tiếng “ i ..;i...” mà thôi. Người bị đạn không còn đủ sức để kêu to do đạn đã xuyên qua ngực, giữa tiếng nổ chát chúa của những tràng đạn tấn công, tiếng B 40 và từng hồi còi 'súp-lê' xung phong của bắc quân nghe lanh lảnh...
.
Âm thanh của người lính trẻ trúng đạn, đó là tiếng rên hay tiếng kêu đau đớn của một thanh niên vừa rời cái roi giữ trâu hay cái cày bên luống ruộng quê nhà. Một làng quê, nơi đó Thành có mẹ già. Những người thân yêu của Thành vĩnh viễn không còn thấy được Thành về. Tôi đoan chắc là Thành đã chết bên cánh đồng Trạch Phổ do người y tá bỏ cuộc và cả đơn vị tôi cũng tan nát thối lui ra giữa cánh đồng và tán loạn rút về rú Ưu Điềm. Tôi bị bắt tù binh từ cái rú càn đó. Có hai người tiểu đội trưởng cũng ngẩng đầu lên lần cuối cùng và gục xuống trên đồng ruộng thôn làng. Trong hình ảnh đau khổ đó, có Hạ Sĩ Hách người tiểu đội trưởng già mà tôi còn nhớ tên.
Làm sao tôi quên được Thành, em là người lính trẻ mới về đơn vị tôi chỉ hai tháng, lại vĩnh viễn ra đi trong ngày tàn cuộc chiến? Tiếng rên “i ..i” của em -một người bị trúng đạn nhưng sao tôi nhớ mãi đến hôm nay? Tiếng kêu đau thương của một người thanh niên hay đúng hơn là một em nhỏ mới lớn. Một lứa xanh chưa có niềm vui nào khi tập tễnh bước vào đời với làn vải kaki, màu áo trận, cùng nòng súng lạnh lùng? Một lứa trai vừa giã từ cuộc sống đơn sơ bên mái tranh nghèo cùng mẹ hiền dưới khóm tre làng. Thành chỉ quen và nhìn đời qua những ngày chân lấm tay bùn bên con trâu, nhánh lúa.
Giờ đây em chỉ còn những làn hơi yếu ớt còn lại. Chút sức lực cuối cùng của một người trai, chới với thảm thương cùng sự tan nát của đơn vị mình giữa cánh đồng chưa xanh lá mạ ...Một tiếng rên đớn đau nhưng quá âm thầm, rời rạc không còn đủ sức để kêu thêm hai tiếng:
-MẸ ƠI!
Đó là tiếng nói cuối cùng người lính trẻ hay là nỗi buồn sót lại của một cuộc chiến ĐANG TÀN trên quê hương đau khổ Việt Nam...





-0-0-0-  

RỪNG VÀ ĐÓT ...

Phố Huế đìu hiu-  u buồn khi khách vắng teo. Chẳng ai màng quét dọn, thì làm sao đót từ rừng về thành phố bán chạy? Vài dãy phố mua bán cầm chừng, tiền bạc hiếm hoi, chuyện "lộc trời" chắc gì khấm khá?


Xưa, tôi có khi tay cầm chổi đót. Tôi còn nhớ hình dạng cái chổi, qua tay nguòi dân quê hay người thợ nào đó bó cho mà dùng. Giờ, tôi đứng đây giữa rừng đót Bastogne ngày xưa "gầm vang' đại pháo, 155, 175 ly? tất cả đã trả lại im lìm muôn thưở cho núi rừng Truờng Sơn. Lòng cảm thấy vui vui, tôi như  như một khám phá "bất ngờ và lý thú" nào đó...
 
Cứ trưa trưa mỗi người mỗi vác đót thật lớn đứng xếp hàng "đếm số" vào lại cổng trại. Cái sân trại giờ đây phơi đầy những hàng đót , chờ khô có xe chở về Huế. Chuyện bán đót là chuyện của cán bộ, đời tù chỉ mong đến giờ nghe kẻng để đi nhận phần ăn là xong. Củ sắn, thìa muối sống buổi sáng , phần "
canh đại dương" kèm theo sắn hay khoai ...thời hái đót ,năm ngày mới được thuởng thức một chén cơm từ khẩu phần 100 gam gạo; gạo là "thuốc bổ" phụ cho thời khoai sắn thay cơm.   Đó là những năm tháng khó quên, những kỷ niệm "rưng rưng " với đót, với  Trường Sơn - Huế,  
với những rừng đót lung lay theo gió. 

Ngày đó từng bó đót được đổi miếng ăn cho tù, là kỷ niệm, là dĩ vãng. Tôi nhớ đót như nhớ (hay thuơng) những mãng rừng no nắng trên vùng biên giới, quê hương.

 Ý niệm hận thù, ghét bỏ, đã qua đi như ngọn gió rừng lao xao lướt qua thảm rừng đầy tràn hoa đót. Giờ đây đót vẫn còn; nhưng là tiền, là gạo,  cho bao lớp tuổi thơ VN, đời sống bấp bênh, nghèo đói so với tuổi thơ thành thị. 

 Qua bao năm, chắc hẳn giờ đây hoa đót vẫn đu đưa, "ru đời" qua đi sau từng cơn gió núi. Đót Trường Sơn vẫn vươn qua bao tàn phá của những bàn tay tham lam mở đất; đót còn nuôi em, nuôi mẹ vùng cao. Xã hội còn nghèo, hay tình nguòi cùng sự công bằng xã hội "còn nghèo"?  Trường Sơn vẫn oằn lưng chịu bao nhát chém của lòng tham; đất Cao nguyên vẫn lở lói cho 'tiền muôn bạc tỷ' của những kẻ ngất ngưởng quyền uy ! Người dân núi vẫn nghèo, tuổi thơ vùng cao vẫn đói ! Bó đót qua thác vượt ghềnh, vẫn chống chọi với cái chết để đổi lấy miếng cơm! những chiếc cầu "công lý" vẫn chưa nối bờ cho đám dân rách rưới xác xơ ? 


   Thôi, biến cố nào cũng qua, sướng khổ nào cũng hết;  xin lắng tâm tư về kỷ niệm , mong sóng lặng gió qua bình yên như nước hồ thu. Trong muôn vàn ký ức của những thế hệ , những lớp người đi trước, bao người dân nước  Việt dù bắc hay nam, dù người lính VNCH hay bộ đội Cụ Hồ, chắc hẳn đã có nhiều người mang nặng trong tiềm thức dấu ấn Trường Sơn. Một dấu ấn khó quên cho những thân phận lính chiến suốt dọc Trường Sơn trong đó có hình ảnh nhiều cánh rừng đót, đến mùa hoa nở trắng phau lung linh dưới nắng. Tôi không ngờ hôm nay những hình ảnh và câu chuyện về đót cũng được nằm trong vùng kỷ niệm...


(trích Rừng và Đó t cùng tác giả ) 

TRANG BLOG ĐINH HOA LƯ: RỪNG VÀ ĐÓT


-0-0-0-


 HAI LẦN MẠ THĂM CON TRONG TÙ 


Sáng lại tôi đinh ninh là không còn gặp được mạ và em tôi để từ  giã. Nhưng một DỊP MAY lại tới:


   Trại 4 sáng đó có công tác đem bán mấy trăm gánh tranh cho Hợp Tác Xã Triệu Long phía ngoài đường 1 hướng Chùa Ái Tử ngó ra. Tức là gần Chợ Hôm và sông Thạch Hãn. Lán 2 của tôi tức lán hồi hôm mạ tôi được vào thăm cũng gánh tranh ra Triệu Long. Cả đoàn tranh lũ lượt gánh ra gặp lúc mạ và em tôi cũng trên đường ra ngoài đó. Quả là một dịp may. Thật vậy hai mẹ con không có gì mừng hơn. Mạ và em tôi bươn bả đi nhanh theo đoàn người. Cả trăm gánh tranh nhấp nhô lên xuống theo con đường đất đỏ của căn cứ Mỹ trước đây, lúp xúp chạy theo là mạ và em tôi cố gắng chạy theo ở giữa đoàn tù đang gánh gồng.


   Tôi thì quen rồi gánh gồng hai năm nay rồi. Được dịp may gánh tranh ra hướng Quốc Lộ để đi với mạ mình một đoạn đường như vậy thì không gì mừng hơn. Nhưng mạ tôi một tay dắt con trai út, vừa bám theo tôi nhưng tôi thoáng thấy trên mặt mạ mình sao quá nhiều ĐAU XÓT. Tôi hiểu từ ngày giã từ thời học sinh cho đến lúc vào lính ra trường ‘lon lá’ đàng hoàng oai phong tề chỉnh, có khi nào mà mạ tôi lại thấy và đây là lần đầu tiên trong đời người mẹ thấy đứa con trong bộ đồ tù rách rưới, gầy gò và gánh hai bó tranh to chạy lúp xúp như thế này đâu? Tôi lại nghĩ chắc mạ tôi đang đau xót cho tôi đang đau vai và mệt lắm chăng? Mạ tôi đâu có biết rằng tôi đã quen rồi với những ngày lao động. Cả cây gỗ nặng, lội trong rừng, ra đến rừng bụng đói còn vác được mười mấy cây số về trại. Huống gì giờ đây là gánh tranh khô khốc, và được gánh chạy bên mẹ và em mình thì chẳng có gì là khổ.

   Đoàn tù gánh tranh đang qua chiếc cầu vượn bắc qua con suối, đoạn này đã đến thôn Ái Tử.

   Chợt mạ tôi lên tiếng:

            -ĐỂ MẠ  GÁNH  CHO  CON ?

           -Thôi mạ,  con không mệt, ăn thua chi mô, con quen rồi mạ đừng lo.


    Nét mặt mạ tôi vẫn không hết âu lo áy náy. Tôi không có thì giờ và thật sự chẳng có điều kiện nào để dừng lại nói cho mạ tôi hiểu, để người bớt lo buồn. Cán bộ dẫn tù cho mạ và em tôi đi bám theo đoàn tù như hôm nay thật sự mà nói họ quá tử tế rồi.  Dỉ nhiên không ai nỡ lòng đành đoạn cản ngăn chuyện này. Mạ tôi và em tôi cũng là hình ảnh gia đình của họ ngoài kia. Và người chiến thắng họ chẳng cần gì làm chuyện khó dễ làm chi.


   Mấy cây số ba mẹ con gần nhau, trên đoạn đường quê hương của một miền rú càn gần chùa Sắc Tử. Ngoài chùa Sắc Tử còn có mộ phần của những người thân, một ngôi chùa thân quen với bà ngoại tôi từng là bà Vãi và tôi với những kỷ niệm ra chùa thăm. Sau lưng tôi là Nại Cửu Phường cũng là bà con làng ngoại lên đó lập nghiệp. Những con đường quê hương đầy mùa sim chín đầu tiên của tháng tám năm 1975 là năm đầu tiên xây trại tù Ái Tử…từ lúc ở Ba Lòng chuyển tù về đây.


   Cho đến hôm đó một lần mạ tôi ra thăm đứa con trai lần đầu. Cũng là lần đầu mạ tôi thấy tôi lam lũ, mồ hôi ướt đẫm bên gánh tranh vẫy nhịp chạy với cả đoàn tù gánh tranh đi bán dài lê thê như thế. 


   Trong niềm sung sướng vô bờ khi biết tin con trai còn sống, còn ở tù ở đây và cũng kèm theo những quặn thắt đau trong lòng mạ tôi khi nhìn hình ảnh tôi tiều tụy thảm não như hôm đó?


   Đoàn tranh đi bán chúng tôi đã ra đến Quốc Lộ 1. Mạ và em tôi đứng lại bên đường chờ xe hàng ngoài hướng Đông Hà vô…Tôi không được phép dừng lại tiễn mạ và tôi vô nam, chẳng được thì giờ dừng lại nhắn nhe điều gì…Tôi phải gánh chạy theo kịp đoàn tù vượt qua bên tê đường vào giao tranh cho Hợp Tác Xã Triệu Long. 


   Tôi cố gắng ngoái lại nhìn hình dáng hai người mạ và em tôi đứng đợi xe chơ vơ bên đường Lộ một. Hình bóng hai mẹ con nhỏ dần và khuất hẳn sau những lùm cây dứa dại, phần tôi tiếp tục lo gánh tranh chạy theo cho kịp  đoàn tù. Vừa chạy, lòng tôi vừa dâng lên nỗi buổn ảo não,  nguyện cầu sao cho mạ và em tôi mau đón được chuyến xe nào đó để vô nam .




1978 LẦN 2- MẠ TÔI RA CHỈ ĐƯỢC 20 PHÚT GẶP CON 



THƯƠNG CHO MẸ GIÀ HƠN 1000 CÂY SỐ ĐƯỜNG XA !


Ngày 7/9/1978 Nghe tôi t Lòng Hồ Sông Mc đã vào lại Ái Tử,  m tôi t Bình tuy ln li ra thăm con cũng ti trm xá   chữa bệnh cho tù. (trong bài viết Tù Đi Thắt Trĩ) tác giả có nhắc lại.

Thương cho mạ tôi, hơn mt ngàn cây s đường xa, phải vay tiền bạc để ra trung thế mà mạ tôi chỉ được phép gp tôi vn vn hai mươi phút ngay trước  mái tranh trạm xá đó. Thương quá mẹ ơi, hình ảnh mẹ ngồi bệt trước cái sân đất, hai giỏ quà trong chẳng có chi...

Người tù không thể quên hình ảnh đôi mắt người mạ mình u ẩn một nét buồn xa vắng làm sao? Nỗi thương nhớ con dâng trào nhưng chỉ trong 20 phút hiếm hoi ngày đó. Năm 1975 vừa thành lập trại 4 Ái Tử như phần trên mạ tôi ra thăm cùng đứa em trai, có thì giờ nhiều chừng nào thì bây giờ eo hẹp chừng đó.  Tôi chng có đủ thì gi dn dò nhng gì mun nói vi Mạ. 

Rồi Mạ  phi vi vô nam sng nhng ngày cực kh nơi vùng kinh tế mi thiếu vng con trai, thiếu sc lao đng. Tội Mạ, chỉ gặp được con trong hai mươi phút đánh đổi một chặng đường xa, một hơn ngàn cây số ngập tràn lao lư khổ nhọc. Tội nhớ làm sao nét mặt buồn bã của mẹ mình. Mẹ chỉ kịp nói nhỏ với tôi có "gửi 20 đồng" nơi o Cai - người bạn thân quen từ thời  con gái. Tôi nhớ O, người bạn mạ nói giọng bắc, o ngày xưa buôn chè tươi rau trái Gio Linh, Nam Đông nay cũng bán chè lá tại Chợ QT mới. Cái chợ mới đó ở ngã tư QL1 và La Vang, vừa mở thì chạy 1972 sau 1975 cũng mở lại cho dân khi thành phố QT cũ vẫn là đống hoang tàn. 

Tôi không còn nhớ mạ có bới cho con thứ gì? Chỉ nhớ thứ còn lại là mớ khoai luộc khi đổi trại chuyển vào Bình Điền ngày 23/11/1978 và trong hồi ký "Con Chuột trong Trại Tù" chính con chuột đó đã "ăn cắp" mớ khoai luộc cỏn con còn lại của người tù binh.

 Mạ vào nam rồi tiếp tục bán mua tảo tần ở cái chợ nghèo nhưng vẫn canh cánh tìm cách ra lại thăm con lần nữa. 
May làm sao, mạ vừa xin GIẤY ĐI LẠI xong thì con đã được Ra Trại.  Thế là mạ khỏi ra trung, đường lên Bình Điền Tây Nam Huế, lạ lẫm gian nan không giống đường ra Quảng Trị lần trước. Con đã ra trại và mạ không đi nữa, thật may làm sao! 

Giờ Mạ và Ba đã ở phương trời miên viễn, thật xa. Tuổi già đang đến với đứa con trai của mạ năm xưa. Những lúc hoàng hôn trời chiều nhạt nắng nơi xứ lạ quê người có lúc ngồi thơ thẩn một mình con nhớ bóng mạ hiền, thương người cha già sáng sắn chiều khoai...con nhớ ba mạ thương về ngày tháng lao lư sau ngày ra tù về với gia đình, thật nhiều...

trích cùng tác giả
HỒI KÝ NGƯỜI TÙ BINH : HAI LẦN MẠ THĂM CON TRONG TÙ
-0-0-0-

KHI NGƯỜI TÙ 'TRẢ THÙ' MỘT CON CHUỘT

 



Có thể bạn nào  không phải là tù cải tạo chỉ nghe chứ chưa tường tận đời sống những người tù binh VNCH sau 1975 ra sao , chuyện kể có thực của tác giả cũng là người trong cuộc, sẽ đưa bạn hình dung thực tế hơn nữa.

trân trọng

ĐHL


 CON CHUỘT hay là 'TÊN ĂN TRỘM'

            Tiếng sột soạt làm tôi tỉnh thức lúc nửa đêm. Những người bạn tù nằm cạnh tôi đều ngủ say sau một ngày chặt rừng don rẫy. Đúng là nó; con chuột mấy đêm nay thường ‘tấn công’ cái bao cát đựng đồ ‘tư trang’ của tôi móc phía trên đầu. Con chuột tinh khôn và thật nhạy bén. Đêm trước tôi đã vùng dậy chụp lấy cái bao quyết bắt nó trả thù nhưng hắn nhanh quá chun ra vọt mất.

Cơn giận lúc nửa đêm chợt bùng lên như ‘sóng cuộn’ trong lòng tôi. Con chuột nó đánh hơi trong cái bao cát treo tòn ten trên đầu nằm tôi có mùi khoai luộc? Đó là mấy lát khoai cuối cùng còn lại  từ món quà thăm nuôi mạ tôi trong nam ra thăm con tại Ái Tử. Khoai luộc, chúng tôi đặt cho cái tên khá ‘đẹp’ là “sâm Cao Ly”. Sao mà không là 'Sâm"? Những lúc nào thật cần thiết tôi mới đem ra nhai một lát...nhai từ từ thôi để thưởng thức chất ngọt của nó hòa trong một cảm giác dẻo dai của lát khoai. Nhưng có sợ hết chi thì giờ nó cũng gần hết. Có cái gì tồn tại lâu dài được với cái bụng tù ‘ngày đêm đòi hỏi’ đâu? Đói! Vâng đúng vậy. Một cảm giác khó lòng diễn tả sao cho đúng khi bạn chưa bao giờ có dịp cảm nhận một lần với đời tù cải tạo.

Thế mà con chuột 'khốn nạn' đó dám tấn công ‘kho báu’ của tôi! Tiếng động nói trên càng dồn dập, khó chịu xen lẫn trong nhiều  tiếng ngáy đều đều của gần cả trăm con người đang say ngủ trong đêm.

Cái lán tù dài có hai dãy sạp nằm đan bằng tre nứa.  Bề rộng chỗ nằm của chúng tôi, một người chỉ khoảng tám tấc bề ngang. Tôi rón rén ngồi dậy; gắng làm sao không làm cho người nằm hai bên thức giấc. Lòng mong muốn trả thù làm tôi tinh tế và cẩn thận hơn bao giờ hết. Nó đã ăn khoai của tôi và thứ hai là đã cắn rách cái bao cát làm ba lô một lỗ quá lớn!  khó đào ra bao cát lúc này, Căn cứ Ái Tử đã bị đào xới không biết bao nhiêu lần?

Khi cái khom mình của tôi vươn thẳng lên một độ cao cần thiết, bao nhiêu sức lực của tôi tập trung vào hai bàn tay và chỉ một lần này:

                      Phụp!

Hai bàn tay tôi đã chụp đích xác, ép chặt khăng vào cái bao cát không dám rời, Một khối động vật nào đó nhúc nhích bên trong cho tôi biết được chắc chắn tôi đã tóm được nó. Sự tức giận của tôi mấy đêm nay chỉ tung ra vào giây phút này. Bàn tay tôi càng lúc càng siết mạnh vào cái khối nhúc nhích kia. Răng nghiến chặt, những luồng thần kinh đi từ lòng căm hận của tôi truyền xuống bắp thịt của hai cánh tay dẫn xuống hai bàn tay...những động tác mạnh bạo từ những nhát rìu, búa, rựa giờ nó biến thành cái siết kinh hồn của mười ngón tay...một sức mạnh đi từ sự thèm thuồng chất ngọt của mấy lát khoai từ miền nam thân yêu ra đến nơi này…

Khối thịt nhúc nhích, âm ấm bên trong cái bao giờ im hẳn. Nó đã tê liệt. Tôi phải chắc chắn con chuột đã chết.

Mấy người bạn đang ngủ ngon nghe động, thức giấc. Biết chuyện, họ nằm xuống ngủ tiếp.

Tôi vẫn để xác chuột nằm bên trong cái bao cát đó, sau khi cuốn cái bao lại vài vòng cho "chắc ăn". Giờ nó là ‘chiến lợi phẩm’ của tôi, con chuột phải trả cho tôi những gì đã mất!

Ngày mai tôi sẽ có món THỊT CHUỘT...


trích cùng tác giả 


TRANG BLOG ĐINH HOA LƯ: TỔNG HỢP- CON CHUỘT TRONG TRẠI TÙ



Mấy Eng về Chị Có Đen Thì Đừng Chê Nghe Mấy Eng 


...Những trảng đồi khai hoang bị đốt cháy nham nhở. Hai bên con đường đất đỏ vài cái quán tranh sơ sài. Phía sau lưng chúng tôi, trong xa kia là mấy trại tù. Những năm xa cách, không ngờ người dân cũng 'đổi đời' như chúng tôi cùng 'đáo sơn tầm thực'. Tù thì trồng sắn, dân cũng chẳng khác gì, tất cả đều lên đây, phá rừng trồng cây lương thực thay cho lúa gạo.

Chúng tôi không ai bảo ai đều sà vào cái quán cơm bình dân bên đường trong lúc chờ xe đò từ Huế lên.
O bán cơm đon đả mời chào:
-Rứa (thế) là sướng quá rồi mấy eng ơi , dưới nhà chắc mừng lắm hỉ!


Mấy anh và tôi 'dạ dạ' luôn miệng, thật lòng cảm tạ lời chúc mừng của O. Lạ gì, thấy chúng tôi, người dân biết ngay tù mới được tha. Nhiều lần như vậy rồi. O nhìn những chiếc áo vằn vện, sọc ngang dọc ai mà chẳng đoán ra. Phải kể mấy cái ba lô nữa, đủ hình dạng, nhưng tất cả đều nhẹ hều. "Gia tài' của tù đều bỏ lại cho bạn. có gì quý đâu ngoại trừ “mang cái mạng” về với gia đình.
- Mấy eng ăn cơm cá dưa kho hỉ?
-Mấy đồng rứa o?

Tôi chỉ hỏi giá, còn chọn lựa thì không. Cơm là 'nhất trên đời" và cũng là thứ hàng 'độc nhất vô nhị' trong cái quán này.
-Hai đồng eng nờ!
"Thế là miềng (mình) còn 29 đồng còn đón xe hàng về Huế nũa," tôi thầm nghĩ.
Gần sáu năm trời, hôm nay tôi mới ăn tô cơm 'ngon nhất' trên đời. Cơm trắng, O đơm khá đầy, cộng thêm hai con cá nục cùng mấy lát dưa huờng kho thấm thía làm sao! Vị giác của tôi lúc này đang 'liên hoan' trong tài kho nấu của O bán hàng người Huế.  Cái bao tử sẵn sàng tiếp nhận những gì từ miệng tôi sau khi 'thuởng thức' và đưa xuống. Tất cả đều thoải mái, không còn những lúc chần chừ lưỡng lự ...hình ảnh mới hôm qua- những củ khoai, khúc sắn phải chia đều trong trại. Củ sắn chia xong, ăn nhanh thì sợ hết! tôi để dành một ít về đêm, ăn dằn bụng trước khi đi ngủ.
Hầu như mọi người đều có lộ phí và ăn tô cơm cá dưa kho của o bán hàng. Những cái đầu gật gù, những lời nói chuyện râm ran, những hẹn hò gặp nhau sau ngày về với gia đình. Chúng tôi không quên nhau- Ái Tử -Thanh Hóa cho tận Bình Điền, biết bao kỷ niệm buồn vui.
O bán cơm bận áo Bà Ba trắng
 nhưng đã ố vàng do bụi đỏ Bình Điền và dãi dầu ngày tháng trên này.  Tuy nước da O sạm đi do nắng nóng đất khai hoang nhưng không che đi cái 'chất Huế' từ dưới thành phố lên đây. Dáng nhanh nhẹn, giọng mời ngọt ngào bao lâu nay O quen mua bán dưới Huế. Giờ lên đây, cũng bán mua, nhưng là hàng cơm và thức ăn bình dân hạp với dân nghèo, lam lủ với rẫy rừng, cuốc rựa.


-Mấy eng về chị có đen thì đừng có chê nghe mấy eng!


Câu nói ra bất ngờ của o bán hàng làm chúng tôi không ai bảo ai đều ngước lên nhìn!


Có thể mấy năm trước o từng chứng kiến cảnh túng bấn của bao người vợ tù gian nan, tất tả ngược xuôi. Những người vợ, người mẹ hay con dâu này bán hết những cái gì bán được trong buổi 'giao thời'. Từ vòng vàng, nhẫn cưới kỷ niệm, cái máy hát, rồi tủ bàn và áo quần nào còn đẹp, tất cả lần lượt “ra đi” do từ thiếu đói của bầy con, sau ngày ba chúng đi tù.
Trong nhóm, tôi là đứa em cấp bậc nhỏ nhất, lại độc thân. Tôi chưa thấm thía những cảm xúc bằng các anh, những người bao đêm quay quắt nhớ vợ thuơng con.
Những tô cơm hôm nay, O xúc đầy hơn, không tính toán. O mừng cho chúng tôi. O nói thật lòng. Năm tháng chịu đựng gian truân, thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần, những người vợ tù đáng quý biết bao! Sao mà chê 'đen' được các chị ở nhà ? 'thân cò lặn lội' gần xa, bao dặm đường gian nan tìm ra hạt gạo nuôi con, phần lo bới xách cho chồng trên trại. Hình ảnh đoàn người thăm tù hằng hai tháng, những người đàn bà nay quần thô áo vải, theo bước đi vội vàng, hai cái túi xách đu đưa hai đầu đòn gánh...

trích RA TRẠI cùng tác giả  

TRANG BLOG ĐINH HOA LƯ: RA TRẠI (FULL 2) 


-0-0-0-



Bà con sống trên Dốc Sơn Mỹ (trước là xã Tân Sơn-Hàm Tân) ai mà chẳng biết ông. Ông là người Bắc Di Cư, từng sống tại QT. Nhà ông cũng theo bà con QT vào đây thời Khẩn Hoang Lập Ấp, thập niên 1973 cho đến bấy giờ.
Theo con đường đất đỏ, tức là tỉnh Lộ 23 (giờ là tỉnh lộ 55) Bình Châu-Hàm Tân. Trước khi đổ dốc, xuống chợ Cam Bình để về thi trấn LaGi, người ta thấy căn nhà tôn nho nhỏ của ông bán hàng ẩn mình dưới vài gốc mít. Sinh kế của ông ngoài cái quán nhỏ trước mái hiên nhà, vài thẩu kẹo, vài nải chuối, chẳng có món hàng nào đắt giá. Tôi không biết nhà ông có vào rừng canh tác làm rẫy hay không? Mỗi lúc đi ngang, tôi chỉ thấy ông ngồi giữ quán, tay cầm ống thuốc lào, thỉnh thoảng rít một 'hơi' thuốc dài lê thê cùng buông ra làn khói bay bay...
Thân phận tôi chẳng khác gì hơn? Đó là hình ảnh một gã tiều phu đang khom mình thồ chiếc xe củi nặng. Tôi cố dùng hết sức mình, ghì chiếc xe thồ bắt đầu đổ dốc. Mỗi ngày ngang qua nhà ông, hình ảnh 'đậm nét' làm người viết nhớ mãi là gì? tôi sẽ lần lượt kể lại cho bà con QT mình nghe 'chơi'...



Ông bán hàng đang 'rít' ống thuốc Lào, mắt tôi không thể bỏ qua cái áo ông mặc. Những lớp vá chằng chịt, chồng lên nhau không còn một chỗ trống. Hình như ông chỉ mặc cái áo hơi quái dị đó ? Những miếng vải kaki xanh vuông, hết lớp này chồng lên lớp khác. Hình như càng rách, ông lại càng vá thêm! Tôi không mặc nhưng hình dung chiếc áo kia ắt hẳn phải nặng chình chịch mà thôi!
xin mượn hình ảnh minh họa cho cảnh người dân bán than cùng hình ảnh của người viết đang thồ củi ngày đó. "anh hùng mạt vận" vào rừng đốt than làm củi...bạn đọc hãy tưởng tượng xe củi của người viết đang ngang qua cái quán nghèo trong truyện ...
Tôi thông cảm cho ông, có thể do đây là một hành động âm thầm, ông đang chống lại cái gì đó? Sự nghèo túng, thiếu thốn của một miền đất khổ hay hoàn cảnh chung cho toàn thể bà con lối xóm quanh ông ? Vá- chắp tiếp nối vá- chắp? Chiếc xe thồ củi của tôi chẳng hơn gì thân phận ông ? chiếc ruột xe vá 'chằm vá đụp' đến nỗi mấy thợ vá và sửa xe đạp trên xã Sơn Mỹ như anh Hạ (Thuỷ) gần Chùa Huệ Đức, anh Lợi, anh Oai đều là thợ sửa xe đạp trước chợ Xã từng lắc đầu một cách ái ngại. Chiếc xe tôi cùng 'thân phận vá chắp' do hai chiếc lốp xe không còn chỗ nào để vá? Cái thời: mua cái ruột xe đạp, cái đùm, sợi xích, cái rô líp "Trung Quốc' là cả "một gia tài"?!
Lớp trẻ lớn lên sau này không có cơ hội sống qua "CHẾ ĐỘ TEM PHIẾU". Mỗi năm 'tiêu chuẩn' vài tấc vải, ai không may có thể khác màu. Cái áo ' trường kỳ kháng chiến' của Ông có thể là câu trả lời cụ thể và hình tượng nhất cho sự thiếu thốn này. Cán bô- công nhân viên chức- cách gọi thời đó, có thể khá hơn một ít. Một ít thôi; nghĩa là mỗi năm hơn dân vài ba tấc vải,dăm ba lạng thịt heo (nhưng ai cũng ưa nhiều mỡ , rán để dành), một vài lạng trà đường . v v..
Người viết ngang đây cũng chưa nói hết ý mình. Cái áo cùng cái quán nghèo ven đường ngày đó làm tôi nhớ lại Cụ "Hồng thất Công" trong Võ Lâm Ngũ Bá, đề cập ở đầu bài. Cửu Chỉ Thần Cái mà sống lại, đem áo ra so ư ? cũng thua cái áo của 'cụ bán hàng' mà tôi miêu tả vào thời chúng tôi thôi. Bạn thử tưởng tượng xem: cái quần đùi ka ki bạc phếch, bên trên là cái áo vá chằng chịt, chồng chất lớp lớp thời gian, lưu dân QT sống tại vùng này, rẫy rừng làm bạn.
Ông lão ngày ngày ngồi trước cái quán nghèo, lơ đãng ngó ra từng đoàn xe đạp thồ, những toán phụ nữ gánh gồng ngang qua truớc mắt ông. Những đoàn dân quê lao lực, củi than cùng nông phẩm thi nhau đổ dốc. Dưới kia là phố thị La Gi; đêm về từng hàng ghe tàu ra khơi, hàng vạn ngọn đèn măng -sông câu mực thi nhau lấp lánh...
Quá khứ của Ông, cũng sống cùng người dân QT ngoài kia, đồng cam cộng khổ theo bà con mình vào tận Bình Tuy, khai sơn phá thạch, tạo nên một quê huơng thứ hai nói 'rặc giọng mình'; trừ ông, vẫn cái giọng Bắc rất chuẩn. Quá khứ của ông có gì nổi trội? chẳng ai biết ngoại trừ câu chuyện là ông "nấu thịt chó rất ngon", đơn giản chỉ có thế. Tôi cũng xin nhắc lại chuyện ông nhạc tôi kể lại cho tôi rằng: ông nấu thịt chó 'cừ khôi' đến nổi có ông cố vấn Mỹ thời trước đóng tại Quảng Trị 'từng yêu chó, quý chó' mà phải 'chết mê chết mệt' vì món thịt chó của ông!
Có thể trong bút ký này, Ông hay bà con không bằng lòng về chuyện cái "áo vá" ; nhưng nghĩ lại vào thời này bà con mình và ngay cả người viết đều cùng cảnh ngộ. Một hoàn cảnh của rách rưới, cơ khổ, chắp vá cùng mong cầu ...

trích Ông Uy xã Sơn Mỹ
cùng tác giả



-0-0-0-


...
       - Có chi o nói giúp cho con nghe o? con sắp đi thăm nuôi 'dôn'(chồng) con ngoài Trại Sông Mao o nờ!. 

  O đó dáng tuổi dì hay mẹ của T.  O không hẹp hòi chi. Nghe chồng nàng đang ở tù ngoài Trại Sông Mao, o cũng cảm động. Người làng của O cũng có mấy đứa cháu đi sĩ quan trong này còn đang 'cải tạo' ngoài đó chưa về. 

   T. tiếp tục tính toán trong đầu...nếu sáng đó nàng bị mất bao đậu phụng, thì vốn và lời từ  hai bó mực nàng đang cột sát vào hai đùi nàng sẽ bù vốn. Nàng sẽ huề vốn. Nhưng! cái ngày thăm nuôi định kỳ cho chồng ngoài trại SÔng Mao sẽ không có chi cả? Hoặc giả, nếu nàng dùng số tiền còn lại này mua hàng cho chồng thì khi về lại sẽ không còn vốn nữa!

  Mắt nàng giờ liếc nhanh về người quản lý thị trường, cái que xoi vây vẫy, chợt đảo nhanh qua băng ghế đối diện...
    
     -Bao  gì đây?
      -Dạ... dạ...


   Một cái bao lác đan bằng lá buông, trên để một mớ khoai luộc, lại "làm quà cho bà con " nhưng dưới là lớp mực mới phơi xong, đang tìm đường về ...Thành Phố.

  Cái bao lác kia bị lôi xuống, đem ngay vào trạm. Người chủ bao kia không còn giấu được lật đật chạy theo vừa chỉ trỏ khóc lóc, van xin...

  T. giờ mới dám thở mạnh. Nàng chợt thấy khỏe trong người sau những phút quá sức hồi hộp khiến tim nàng như muốn ngừng đập. Mắt T. chợt nhìn vào mặt người đàn bà kia, một ánh nhìn trìu mến, biết ơn.


  
Chiếc xe rồ máy chạy đi, bỏ người chủ bao mực khô kia lại với cái trạm. Hành khách tiếp tục bàn tán, nói chuyện, oán trách chửi khéo, than thở... ôi! đủ thứ chuyện.

  Bác tài xế và thằng lơ càu nhàu, than thở do chưa thu tiền xe người đàn bà thiếu may mắn vừa rồi. Thằng lơ tiếc bao thuốc JET chưa khui, hắn vào và đặt trên bàn cái trạm Lán Gòn nhưng chẳng kết quả gì. Có thể giá trị bao thuốc không đủ sức để trạm 'bỏ qua' chăng? Cái chính là chiếc xe chưa đóng tiền "hụi" tháng này cho trạm? 

-Hèn chi! 

Hắn nghĩ, cho đó là lý do xe hắn bị làm khó dễ sáng nay.

*

ngã ba 46 ( khoảng thập niên 1990) từ Sài Gòn ra, rẽ phải về thị trấn Lagi Hàm Tân

    Xe ra đến Ngã Ba 46, nó rẽ trái vô huớng Sài Gòn.

 Ngọn gió biển yếu dần khi xe ra đến đây. T. không cảm thấy chật chội hay nực nội chút nào. Thay vào đó, một cảm giác hạnh phúc, yêu đời bất chợt ập đến. Biết bao nhiêu mừng rỡ làm nàng quên luôn cảm giác ngứa ngáy khó chịu từ hai bó mực đang bó sát đùi nàng, gần "chỗ kín".

  "Nhờ vậy mình mới thoát được bàn tay "thằng quản lý" kia" 

 Nàng nghĩ thầm và cho đó là một "sáng kiến thông minh". Tuy vậy, nàng không quên cái lợi thế từ cái quần đen rộng ống của mình.

   Còn vài trạm "đột xuất" trên đường nhưng lơ xe và tài xế đã "lo trước" rồi. Những trạm sắp tới còn "nhân đạo " hơn cái trạm "Láng Cón" trong kia - cái trạm từng tịch thu hay làm đói biết bao gia đình.

   Xe bon bon chạy; thằng lơ thỉnh thoảng "ầm ừ " vài câu vọng cổ mà nó thuộc lòng đâu đó.

    T. lim dim mắt nhớ đến chồng ngoài trại Sông Mao đang ngày đêm mong đợi vợ thăm. Mường tượng khuôn mặt xanh xao và tấm thân gầy gò của chồng trong chuyến ra lần trước, bất giác T. không che giấu được  hai hàng nước mắt nhớ chồng  ứa ra không biết lúc nào .


trích từ cùng tác giả 
Nỗi Buồn Qua Trạm 


TRANG BLOG ĐINH HOA LƯ: CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI VỢ TÙ CẢI TẠO-NỖI BUỒN QUA TRẠM


No comments:

Post a Comment

BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT- THẢM NẠN MỌI MẶT MÀ TRUMP GIEO CHO NƯỚC MỸ KHÓ BỀ HÀN GẮN

Trước bầu cử 2024 có nhiều nhà phân tích chính trị đã cảnh báo cho nước Mỹ về những biến loạn cho Mỹ và cả thế giới nếu Trump tái đắc cử từ ...