Sunday, July 19, 2026

CHUYỆN CON TRĂN DƯỚI BỤI CỎ HÔI (edition)


xã Sơn Mỹ tháng  9/1988
kỷ niệm ngày đầy tháng con trai thứ hai: Đinh trọng Trữ Khang 

vùng đất Sơn Mỹ- Hàm Tân và những vồng trồng khoai bắp năm 1995 ngó vô xa là ngọn núi Mây Tào Long Khánh (hình tác giả)

BỔI CỎ HÔI CHO KHOAI NHIỀU CỦ

Vài dòng tâm sự mở bài

    Đám đất quanh vườn ngôi trường tiểu học từng dành cho nhà tôi trú ngụ càng lúc càng bạc màu do người kể chuyện chưa bao giờ nghỉ trồng trọt. Nếu có "luân canh" như thế thì phải chịu tốn tiền mua thêm phân tô bồi cho đất.  Kể ra kẻ này khá "bốc lột" nhưng tiền đâu? Nhớ làm sao cũng đám đất pha cát đó, hết vụ bắp xong lại trồng khoai. Trồng gì cũng phải đánh vồng cả thôi. Bạn đọc chưa hề làm nông chắc khó nghĩ  ra "đánh vồng" là gì nhỉ?

Bạn đọc hãy xem hình trên sẽ rõ... Đánh vồng là ta dùng cuốc un đất lại thành từng luống vồng song song để tập trung "chất bổ trong đất" còn lại, nếu có cho cây có chất mà nảy nở. Thế nhưng cách canh tác như vậy; cứ "đào lên bới xuống" -một lối chơi chữ của người viết hay dùng trong hồi ký mình- sau nhiều trận mưa thì đất đai càng trôi, càng bạc màu nhanh hơn. 

Tính từ năm 1980 tôi được "ra trại" về với gia đình, ba năm sau thì người viết lập gia đình với vợ tôi, người đồng môn cũng là đồng hương Quảng Trị. Bà xã người viết may mắn lắm mới có được nghề dạy học. Người "phó thường dân" như kẻ này lập gia đình với "hai bàn tay trắng" đúng nghĩa nhất của nó.



BỨT BỔI LÓT VỒNG TRỒNG KHOAI 

 Trồng khoai mà không lót bổi thì chỉ có cuốc ra "rễ khoai" chứ chẳng có củ nào! Bổi càng lúc càng hiếm; hết cắt xa rồi lại cắt gần.

cây bổi nàng nàng loại cỏ hôi  lót vồng trồng khoai sẽ cho nhiều củ

Cây bổi lót cho vồng khoai, người dân xã Sơn Mỹ chúng tôi gọi là cây 'nàng nàng' ; ngoài quê Quảng Trị còn gọi là cây cỏ hôi hay cây bông cợi, ở tù 'cải tạo' nhất là tại Ái Tử chúng tôi hay đi cắt loại "phân xanh" này hết núi sạch rừng. Tôi nghĩ vậy không biết có đúng chăng?

Hôm đó tôi gặp may do có đám bổi mọc gần nhà, cạnh con đường dẫn vào xóm trong. Vừa cắt bổi, tôi vừa nghĩ đến ngày đầy tháng đứa con trai thứ hai, chưa biết lấy chi làm cho nó 'vui cửa vui nhà'?

Nhà tôi lúc đó thật ra ở tạm trú dưới mái trường, nơi vợ tôi dạy cho con em trong thôn. Từ ngày có gia đình tôi trú ngụ, mái trường hết cái cảnh 'buồn hiu- buồn hắt' nhờ có tôi là người trông nom. Dù sao, nhờ vào công việc tự nguyện vừa trông nom trường, tôi vừa có đất của trường để trồng trọt kiếm thêm lợi tức[1]

Đám bổi xanh ngắt, đẫm ướt hơi sương vào sáng sớm. Tôi khom người cầm cái liềm cắt bổi tiếng nghe soàn soạt. Vừa cắt, tôi vừa nghĩ tới ngày "khảm tháng" tức là đầy tháng đứa con trai thứ hai. Có thể vợ tôi chỉ cần mua thêm ít nếp, hai cặp đường đen trên chợ. Chuyện gà vịt, thì nhà tôi đã có con gà mái tơ chưa nhảy ổ.

Những lúc cắt bổi, tôi hay sợ mấy 'chú' rắn lục. Loại rắn này hay đeo vắt vẻo trên cành lá. Thứ lá này có màu xanh lục, tiệp với màu da của rắn lục lá nên khó phân biệt. Thật vậy,  hai tay tôi vừa làm nhưng lại 'ơn ớn' trong người. Nhưng nghĩ tới hình ảnh cuối mùa thu hoạch tức ngày bới khoai-  bao nhiêu là củ khoai to căng tròn, láng bóng nhờ có thứ lá bổi đó làm phân lót vồng, thế là tôi quên cả lo sợ.

-Sợ thì lấy chi ăn?

Đúng vậy, "sợ thì lấy chi ăn" bụng bảo dạ thế; ý nghĩ kia giúp tôi càng bạo dạn hơn lên. Tay trái trần trụi vơ lấy mấy cành bổi, tay phải tôi cắt thoăn thoắt, xong gom thành từng đống...

Đám bổi mới lên sau vụ mưa đầu mùa, mới đó mà đã bị cắt sạch thành từng đống. Triền đất cạnh cái vực lở trong làng, giờ đã lộ ra nền cát trắng, lợn cơn lá khô. Những gốc bổi cây cỏ hôi vừa bị tôi cắt xong, chơ vơ như những ngọn chông nhìn thẳng lên trời.


Chợt tôi điếng người! tim như thót lại! ...một vật gì đó, dài tròn như khúc gỗ nằm yên cạnh chân tôi bao lâu mà tôi chẳng hề hay biết?!

-UI CHAO CON TRĂN!!!

Màu của nó thì tôi không lầm vào đâu được. Những bông tròn như loài trăn gấm còn sót lại ở những vực khe gần biển Hàm Tân sau thời kỳ "khai hoang phục hóa ", di dân Quảng trị vào đây hồi 1973. Tôi không ngờ con trăn nằm bất động ở miếng đất bổi gần vực lở này. Không chừng? nó có thể nuốt con gà, con chó, hay con gì đó của nhà chú Đồng, hàng xóm với tôi?

Thật ra, tôi không sợ hãi ngoại trừ lay hoay như "gà sắp nhảy ổ"!  không biết tính sao, sợ con trăn đi mất?  Nó mà bò đi xem như tôi mất tiêu "một đống tiền"! Mấy năm nay người ta đi săn lùng mua trăn nhiều lắm. Họ làm gì trên Thành Phố không biết? xem chừng phát triển ngành nghề khá nhiều. Nghe còn có hợp tác xã đâu trong kia nuôi "trại cá sấu" nữa? Xóm người viết ở, chú Thu nay làm nghề mua trăn cùng thú rừng hiếm ai cũng biết. Tính tôi khá sợ rắn rít, nhưng từ ngày tù về tôi chẳng hề sợ gì, huống chi giờ đây con trăn tôi gặp hôm đó, cả một "đống tiền" trước mắt?! 

Ngoài cái liềm đang cầm trong tay, tôi chẳng có cái gì? bao cũng không, dây cũng không? Tôi quay quắt...

Làm răng đây!?

 Con trăn giờ đó hình như hơi nhúc nhích, đang từ từ... di động?!

Bỗng có một bóng người đang tới gần...tôi mừng quá la to:

            -Chú Đồng, chú Đồng ơi! con trăn! con trăn...

Chú Đồng [*]đang dắt chiếc xe đạp thồ ra khỏi nhà ; sáng nay hình như chú ấy lên rẫy trễ hơn mọi khi.

        -Mô? ...Mô?

Chú Đồng vứt ngay chiếc xe đạp nghe cái "phịch" bên con đường mòn, chạy tới gần tôi. Thời này mà nghe chuyện được trăn là chuyện vớ được cả đống tiền chứ không phải là chuyện sợ hãi, rùng rợn nào cả. Chuyện trong thôn người ta đem bán trăn đồn "hà rầm"! ba con thú như tắc kè, trút (còn gọi là tê tê), kỳ đà, nhím...thợ rừng đem về còn bán được khá tiền huống gì trăn là món hàng thuộc dạng "cao cấp"!?

Tôi đưa tay chỉ ngay xuống con trăn đang nằm trở lại yên như khúc gỗ dài cạnh chân, khoảng xa chưa tới một mét...

        -Chú Phúc giữ chặt khúc đuôi nghe, để tui chận khúc đầu hắn cho!

Chú Đồng nói là làm ngay. Phần người kể chuyện lúc này không biết sao rất can đảm, chẳng e dè chút nào? Thật vậy, đó là lần đầu tiên trong đời, tay tôi túm vào loài rắn. Tôi mím môi dùng hai tay cầm chắc vào phần đuôi. Chú Đồng túm ở phần cổ, hai người nhấc bỗng con vật lên...

Quả nó nặng thật, may mà không vùng vằng gì? Tôi ước đoán, con trăn phải dài non hai mét, nặng chình- chịch. Lần đầu tiên trong đời, tôi túm một con rắn lớn -con trăn! Mà lạ thật? nó im lìm "ngoan ngoản" không một phản ứng chống cự gì!; Nó chẳng khác chi đang "bị bệnh', ai làm gì thì làm. Đó là cái may mắn cho hai chúng tôi. Chú Đồng vừa xách một đầu con trăn vừa tiến ra phía đường lộ vừa nói lớn cho tôi nghe:

            -Chắc con trăn ni đớp gà của tui nên hai ngày ni tui tìm không ra con gà mệ nơi chú Phúc ơi!?

            -À ra rứa!

Tôi đồng ý với chú Đồng, chắc nó ăn con gà mệ của chú chứ không ai vào đây cả. Trăn ăn rồi thì nằm yên chờ tiêu hóa...tiêu hóa ra răng tôi chẳng biết. Biết ra sao qua sách vở mà thôi; lời kể trăn chưa ăn thì hung hăng, nhưng ăn rồi thì nằm yên ai làm chi thì làm?!

Quả thế, hắn nặng thiệt. Khúc bụng của nó trĩu xuống. Hai chú cháu ráng hết bình sinh túm ở đầu và đuôi mang nó đi. Ngang nhà tôi , vợ tôi mới thức dậy, vội che mắt không dám nhìn khi thấy hai chúng tôi xách con trăn bông đi ngang. Thời kỳ này, nhà ông Thu ở xóm trên , cạnh con đường chính lên xã là nhà buôn bán trăn cung cấp cho Thành Phố ( hay Sai Gon). Cũng may nhà ông Thu không xa lắm. Chưa vào sân nhà, hai chú cháu đã kêu ông Thu ơi ới!

Trước cái sân rộng của nhà ông Thu đang phơi vài mẫu da trăn chờ ngày lên Thành Phố  bỏ mối. Hồi này người viết nghe đồn mang máng, có thể da trăn dùng làm bóp ví loại cao cấp dành cho "xuất khẩu" hay thứ gì đó? Tôi chẳng cần biết làm gì, chỉ cần biết số tiền chú Thu hôm đó mua con trăn là bao nhiêu thôi?

Ông Thu cố ra dáng "chuyên nghiệp", lấy cái thước dây ra, đo lui tới vài lần, xong ông cố làm vẻ suy nghĩ nhíu mày tính toán gì đó?!

        -Con trăn ni...thiếu một tấc!? ...Chà tiếc thiệt! nếu khôn (g) thì hắn thuộc loại 3 rồi ! giờ hắn thuộc loại 2 thôi mấy eng (anh) nờ!

Người viết cũng xin nói rõ một tí với bạn đọc:

Loại 3 thì khoảng từ 30. ngàn trở lên giờ nó loại 2 thì trong vòng hai chục ngàn trở xuống.

Hai chúng tôi nghe thì nghe và biết thì biết vậy. Nếu chúng tôi không bán con trăn này ở đây thì biết bán nó chỗ nào? Không bán thì vô lý đem về nhà cho vợ con sợ bỏ "chạy tán loạn" khỏi nhà hay sao?

Giờ ông Thu mới "tính chi ly" thêm một lần nữa, ông cho giá cuối cùng là mười tám ngàn đồng, tiền tươi "chồng" ngay không thêm không bớt!
Mấy chục năm qua người viết vẫn còn nhớ như in trong đầu con số 18,000 đồng bạc vào năm đó. Một tiều phu cực khổ ngày ngày bận bịu rẫy rừng, làm sao quên được một số tiền "nằm mơ cũng không có" thế kia?

Năm đó một ngày tôi vào rừng bửa ra cho đầy chiếc xe đạp thồ củi về chợ bán chỉ vỏn vẹn 100 đồng bạc "cụ Hồ" thôi. Nói thế để bạn đọc hình dung dễ dàng ra giá trị mười tám ngàn đồng ngang đâu? Và cũng nhân tiện đó bạn đọc có thể người viết nghèo đến cỡ nào, một ngày một xe củi vỏn vẹn "100" đồng bạc?!

hình tác giả 1988 anh nông dân và tiều phu nghèo, thời gian câu chuyện, và con trăn trong chuyện thuộc vùng đất của ngôi trường đó nơi gia đình tác giả tạm trú qua ngày


Chú Đồng và tôi không nói ra, nhưng chắc rằng đều cùng một ý tưởng đó là: tiếc hùi hụi ! do con trăn 'trời cho' kia chỉ thiếu có MỘT TẤC!?

Chỉ một tấc mà mất đi MƯỜI NGÀN bạc, lớn quá đi thôi?! bao nhiêu gánh khoai mới được một ngàn?

Mấy đứa con nít lúc đó nghe chúng tôi bắt được trăn, bắt đầu bu tới sân nhà ông Thu càng lúc càng đông. Mấy o đang nách rổ đi chợ Tân Sơn, chỉ dám liếc sơ vô sân nhà ông Thu, đàn bà thì sợ rắn. Con trăn bông vẫn nằm yên không chống cự, chẳng vùng vẫy gì?! tuy thế, tay chúng tôi nào đâu dám buông, cả một đống tiền!?

TIỀN TRAO NGAY GIỮA SÂN NHÀ ÔNG THU: MƯỜI TÁM NGÀN!

Chủ nhà giờ bỏ con trăn vào cái bao, chuẩn bị chiều nay giao lên Ba Tô, có mối của ông trên đó.


Hai chú cháu cầm tiền xong liền rủ nhau ra quán chú Hoàng trước chợ "liên hoan "một bữa cho 'sướng cuộc đời'. Cả hai đồng ý cùng tiêu chung một ngàn, còn lại mỗi người chia nhau tám ngàn rưỡi.

Chú Đồng bỏ ngày rẫy , tôi mất một ngày bứt bổi trồng khoai. Tiếc gì hai ngày lao động, khi không, của đâu trên trời rơi xuống?!



Chú Hoàng chủ quán, giờ đó đem hai chai bia Sài Gòn "xanh" ra kèm theo một ít lòng heo bóp rau răm làm món nhậu. Hình ảnh dân làm rẫy cực nhọc như chúng tôi đang ngồi uống bia Sài Gòn, ăn thức nhậu hôm đó kể cũng lạ!? nhưng rồi chẳng lạ gì do chuyện bán con trăn một chút chi trong làng ai cũng nghe tin.

tác giả và chú Hoàng chủ quán gần chợ Sơn Mỹ 7/1995

Quán chú Hoàng vừa là quán ăn, chú còn sửa xe đạp. Thời này xe đạp là phương tiện chính cho người dân di chuyển. Vào rừng cũng nó- đó là xe đạp "thồ". Đi buôn xa cũng nó- tức là xe đạp thồ heo con hay chuyên chở hàng hóa. Hình ảnh con đường đất liên tỉnh 23 lở lói hư hao và phương tiện chỉ là những chiếc xe đạp là số một mà thôi. Nếu không có xe đạp thì chỉ có hai bàn chân con người tháng ngày nhịp bước chai lì  cũng như bao bàn tay thô ráp của giới nông dân năm tháng làm bạn với rẫy nương.
Tôi khó quên trước mặt quán chú Hoàng còn có hai cái quán chuyên sửa xe đạp khác của anh Oai và anh Lợi nữa. Một thời thợ sửa xe đạp làm không hết việc...

Chú Đồng và tôi vừa uống bia vừa nói chuyện "trên trời dưới đất", không đâu vào đâu. Chuyện rẫy bị đốt luộc [**] khổ như thế nào? chuyện con heo rừng phá sắn, chuyện thằng Thanh bẫy được con heo rừng thật to, tiếc thiệt đến khi vào thăm lại bẫy, con heo rừng chết ngắt ba ngày, thịt có mùi thối!?


Nói gì thì nói, hai chú cháu không dám quá chén , nghĩa là "liên hoan" trong 'một ngàn thôi' , không quá hạn. Vừa nhấp nháp miếng bia Sài Gòn thơm thơm vị bia la de ngày xưa , tôi vừa lấy tay sờ ngoài túi quần xem tám ngàn rưỡi phần tôi còn không? cùng lúc cảm giác ngụm bia mát lạnh đang trôi dần, sâu vào cổ.

Chú Đồng hôm đó vui vẻ cười nói , nhưng chú không biết rằng tôi, người cùng liên hoan với chú còn mừng vui hơn chú nữa do cái hôm may mắn đó chính là ngày đầy tháng con trai, khi không cha nó "trúng số trời cho"!



HAI MƯƠI TÁM NĂM SAU
 (1988-2016)


LOGO Đại Học Y Khoa Harvard

ngày 26.5.2016



Đinh trữ Khang tốt nghiệp TS Y Khoa Harvard 26.5.2016 (ưu hạng Cum Laude) đang chụp hình chung với thân mẫu
 người viết và con trai Đinh trọng Trữ Khang 

====================

ngày 27.5.2016


LOGO LIÊN TRƯỜNG Y KHOA HARVARD & MIT 



Ngày hôm sau 27.5.2016, Trữ Khang tiếp tục nhận thêm một bằng
TS Y Khoa thứ 2  tại Liên Trường  Harvard & MIT 



Từ ngày 2.8.1995 tới nay hơn ba mươi năm vợ chồng người viết cùng năm đứa đã thực sự xa lìa miền đất khổ. Nước Mỹ bao dung từng dang tay đón những người cùng hoàn cảnh như kẻ tiều phu này. Quê hương mới, một đất nước cơ hội cùng tiến thân, đứa con trai trong câu chuyện kể này cùng bốn các anh chị em lần lượt thành công nơi đất Mỹ. Tuổi về chiều, khi vợ chồng chúng tôi tạm coi là xong nhiệm vụ, chợt một chút chạnh lòng nhung nhớ nào đó dâng lên trong lòng  chúng tôi...biết bao hình ảnh ngày xưa ngập tràn kỷ niệm gian lao, khổ cực! chắc hẳn giờ đây con cái tôi, lớn lên nơi quê hương mới, khó lòng tưởng tượng ra hết dù có đọc, có nghe kể lại?! Hình ảnh ngày xưa... một đám đất bạc màu nơi nguồn sống dường như cạn kiệt, sự mừng vui của một người cha cùng hình ảnh con trăn nằm dài thườn thượt trong đám bổi hoang nơi vùng thôn dã.  Những ngày đi củi một mình cùng chiếc xe nặng nề chỉ còn là công kêu vượn hú trong rừng sâu. Đó là hình ảnh một quê hương mà ba mẹ các con phải từ giã ra đi sau những lúc chống cuốc thở dài hướng về một tương lai cạn khô mạch sống do thân phận đã bị chối bỏ sau một lần thua cuộc đắng cay./.


CHI Memorial Hospital Chattanooga

 2525 de Sales Avenue Chattanooga, TN 37404



Tennessee Hoa Kỳ, năm 2023

TRÁI QUA: 

BS xạ trị  ĐINH trọng TRỮ-KHANG VN, BS Justin Wilkes, BS Rishabh Shah đang đứng trước Trung Tâm Ung Bướu xạ trị  CHI Memorial's Rees 

Staff Photo by Olivia Ross / Doctors Tru-Khang Dinh, Justin Wilkes, and Rishabh Shah stand in front of CHI Memorial's Rees Skillern Cancer Institute on Friday.


tác giả Đinh trọng Phúc đã edit lại phần cuối cùng thêm hình ảnh vào ngày 19/7/2026

phụ ghi


 nhà văn Huy Phuong có viết ve tác giả bài này nhu sau... "Ông thuộc lớp trẻ vào trận khi mới hai mươi tuổi, phục vụ cho đất nước chưa tới hai năm thì bị bắt làm tù binh, đã qua 5 năm tù khổ sai và 15 năm sống cuộc đời một người dân bị bỏ quên trong vùng “kinh tế mới”..."


dù ngay cả bạn bè họ cũng không hình dung ra 'cái cực' ở cái vùng kinh tế mới xã Sơn Mỹ ra sao ?
Họ nói cực là do thiếu tiền bạc mới là một cách nghĩ thôi.
Sơn Mỹ hồi đó cực từ ngọn gió , cục đất , cho đến miếng nước :
-Gió thổi thì đạp xe không nỗi, có lúc xe đạp như ngừng hẳn khi phải ráng đạp ngược gió ..
-đất cát lún bánh xe thồ đẩy củi về nhà , đoạn trường thật sự
-nước phải đi múc ...từng ly , cái gàu nước phải nghiêng lóng cát ra mới có đúng 1 ly nước đó . Bạn hãy xem đáy giếng nước mạch ra chỉ vỏn vẹn bằng mặt cái thau trên thành giếng cả chục người gánh thùng ra ...đợi
Thôi chờ 1 giờ sáng 2, giờ sáng gánh thùng ra , té 'tư tưởng lớn gặp nhau" vài người đã có mặt bên thành giếng rồi .
Làm ra củ khoai, củ sắn thì cái nạn sùng ăn , sùng khới , hay hạt điều thì sâu đục đọt
Muốn mang nông phẩm về tới Lagi thì phải đạp xe chở về 10 cây số

 20/12/2014


-BỔI: phân xanh , lá cây non để lót trong vồng khoai khi mục nát rất tốt cho cây có năng suất . Bổi người làm nông còn dùng để trộn với phân heo bò để một thời gian làm phân hữu cơ 
[1] hồi này tôi xin làm phu trường để có thêm 'tiêu chuẩn' vài ký gạo nhưng không được vì 'lý lịch'
[*]:chú đây là cách gọi thân mật bà con lối xóm
[**] :rẫy luộc : rẫy chặt hạ xong , chưa khô hoàn toàn bị cháy dang dở nên dọn dẹp rất tốn công 

Saturday, July 18, 2026

MƯA QUÊ HƯƠNG




    Mưa quê hương, đó là lúc ta đưa tay hứng những giọt nước trong ngần, mát lạnh; chợt một niềm thương, nỗi nhớ len lén vào lòng. Kỷ niệm về một thuở tuổi thơ, những chiếc thuyền giấy nổi bập bềnh theo trọt nước trước hiên. Ngày đó xa rồi,  dưới mái tranh quê hay miền trung chứa chan hoài niệm.  Nhưng mỗi khi quê hương đang chống chọi trong dòng nước lũ cố tìm sự sống thì bao giọt mưa kia lại hiện thân cho nỗi lo sợ hãi hùng. Mưa quê hương mỗi lúc đông về kèm theo nước lũ đó là lúc trời đất biến thành khổ ải, tang thương phủ chụp lên lớp người dân nghèo lam lũ. Bao dòng nước mắt đau thương miền trung sao vẫn tuôn rơi mãi với số phận định phần.


Cố gắng quên những bi khúc do mưa để thi vị hóa hình ảnh của mưa đó là "khúc luân vũ" đáng yêu từ trời cao ban xuống trong ngần từ bao giọt nước trong ngần, long lanh rơi xuống trần gian. Chất phát, gần gũi với người làm ruộng- mưa là lúc kẻ nông phu ngước mặt nhìn trời, lòng hả hê vui sướng khi nghĩ đến bao hạt lúa vàng căng đầy nhựa sống cho mùa gặt tới.  


đồng lúa vại (gieo) no nê làn nước

Lắm lúc mưa là lúc người thi sĩ nhìn qua khung cửa hay nghe tiếng nước rơi trên hàng sầu đông rồi dệt nên nhiều vần thơ mượt mà, cảm tác. Người nhạc sĩ chợt rung động vội ghi ngay từng nốt nhạc buồn trong tiếng mưa rơi. Lại buồn thay cho người cô phụ, con tim giá băng quặn thắt, bao năm dài nhớ chồng vĩnh viễn đi xa. Tình cảm hơn, ta lại nghĩ về bao mối tình mãi vương vấn tơ lòng, ai đó lúc tương tư  trên  căn gác vắng. Sống với hoài niệm, biết ơn, ta sẽ nhớ về chuyện ngày xưa trên vùng biên giới xa xôi, có anh chiến sĩ vội kéo tấm poncho  lúc màn mưa theo gió quất xối xả vào người...


hình- khoai măng cắt khô dành khi ăn độn


Nói sao hết chuyện trần gian khi mưa trời rơi xuống.  Dù sao chăng nữa, mưa muôn đời vẫn là mưa. Đó là sự  kết tinh bao làn hơi, trả lại thế gian những giọt nước tinh khiết, sau bao chuyến phiêu lưu kỳ thú trong không gian thênh thang và quãng khoát. Những mầm xanh sẽ nhú, bao mạch sống sẽ tiếp nối vào đời cũng nhờ mưa. Lạy trời mưa xuống    Lấy nước tôi uống  Lấy ruộng tôi cày... 

Niềm ước mơ, mong muốn của người dân quê mộc mạc biết chừng nào. Biết bao khao khát nhưng thực tế của những ai từng an phận với đời sống "chân lấm tay bùn".  Cuộc đời của lớp người "cày sâu cuốc bẫm" như quyện vào những câu ca dao chất phát truyền miệng với nhau dù qua bao nhiêu thế hệ người làm nông vẫn luôn ghi nhớ nằm lòng.  Người bám đất và đất nuôi người. Người dân quê lớn lên từ ruộng đồng chỉ những ước mong đơn điệu. Cuộc đời mộc mạc, họ đâu mơ chi phù phiếm xa hoa? Bao ước mơ từ xóm làng lam lủ không gì hơn là hình ảnh của những "bát cơm đầy"hay "rơm đun bếp".

Nhưng khi lụt về, đó là lúc "ông tha mà bà chẳng tha", điệu luân vũ của trời và đất lại trở thành hung tợn. Dòng nước cuồng điên đang gieo muôn triệu khối nước đày đọa lên bao tấm thân gầy nghèo khổ, tội tình.  Biết bao kiếp người chỉ biết những cầu xin đơn thuần bình dị. Mưa bỗng dưng hóa thân thành khổ ải, tang thương với bao dòng nước lũ băng băng, chảy xiết!  Ôi! những mái tranh tan tác, nổi trôi;  bao ruộng nương chìm đắm. Mưa giờ không là thơ là nhạc, mà là những tiếng khóc  ai oán thê lương!



Miền trung bao đời vẫn thế: căng mắt canh chừng cơn thịnh nộ của thiên nhiên khi thu về đông đến. Những giấc ngủ chập chờn trong gió thét mưa gào. Lụt -bão sao mãi hoài  là 'định mệnh an bài' cho miền đất khổ -nắng cháy da người-mưa dầm thối đất?  Thế mà lạ làm sao? Ai đi xa cũng muốn mau về nhà. Chỉ vắng nhà ít hôm thôi, người xa nhà chưa gì đã nhớ đã thương. Mẹ già nhớ hàng cau, thương bụi rơm bên mái tranh nghèo, vấn vương làn khói cơm chiều hay chắt chiu từng chút rơm đun bếp. Bác nông phu nhớ con trâu già cùng mấy thửa ruộng thân yêu. Bác nhớ làm sao những trưa nghỉ cày lúc ngồi vấn thuốc. Đó là những trưa bác dựa lưng bên gốc cây làng ngó lên Trường Sơn xanh thẳm. Tình quê chỉ ngần ấy thôi nhưng mặn mà chẳng chút nhạt phai. Một quê hương gian khó với thiếu thốn gian nan nhưng tình quê mãi mãi nồng nàn, lòng yêu thương làng nước chẳng hề phai nhạt.


đồng ruộng xã Triệu Tài, Triệu Phong sau năm hồi cư,  nơi tác giả từng đóng quân ngày đầu về đơn vị Quảng Trị
        


    LỤT LẠI VỀ, chuyện "đày đọa của ôn trời" chẳng hề thay đổi. Nước tràn vào làng, chảy băng băng ngoài ruộng. Lụt mấp mé vào đến cái trọt nước trước hiên. Mấy cặp mắt đau đáu  nhòm chừng, phấp phỏng lo âu...


 Lạy trời nước rút!  

 Cái sập lúa vẫn còn an toàn trước mắt mạ. Trai tráng trong nhà chẳng còn việc chi, đang đi kiếm vài mớ cá nước lụt. nước lên phủ ngập cánh đồng, đôi bờ tre xóm dưới lờ mò theo làn mưa. Cái tơi không đủ che thân, người lo đi cất rớ, kẻ khác đi nơm. Mớ cá kiếm về, nặng mùi bùn đất làm ai cũng vui quên cơn gió lạnh.


Nhạc mẫu tôi kể lại cho vợ chồng người viết nghe chuyện dưới quê ngày xưa vào cơn giáp hột. Môn khoai cũng cạn sạch, nhưng lúa ngoài đồng chưa chín. Có lúc túng quá người mình phải ra đồng truốt những hạt lúa chín trước ở phần chót bông về giã ra nấu ăn tạm. Những ngày giáp hạt như thế, người dưới quê ngó quanh nương chẳng còn gì bỏ được vào om. 


 Thế mới biết tại sao người xưa (hay miền trung) hay để dành, hà tiện chắt chiu từng củ khoai khúc sắn là thế. Dù được mùa, nhưng chẳng ai quay lưng phụ phàng với khoai môn cả.




Hình ảnh mạ ngồi cắt từng mớ khoai măng, phơi khô phòng đói.  Những sợi khoai khô vuông dài, mạ mừng do phơi được nắng. Ngoài khoai khô, mạ còn cất vài thúng sắn lát, mong mỏng cong cong... Khoai sắn phơi khô, con nhà nông ai mà chẳng quý. Nhớ hình ảnh mạ lom khom cất đặt từng mớ khoai khô vào trong sập gỗ, mạ cất đặt như nâng niu thương mến vô cùng.

Mạ còn gắng chắt chiu, gom từng cọng rơm, mong răng ngọn lửa phập phồng trong gió ngoài nương vẫn nấu chín nổi nồi cơm hấp sắn. Mớ cá hôm nay, những con cá mụn mạ kho cho cả nhà, sao thơm tho ngon miệng lạ thường. Giêng Hai đến là lúc trời lạnh như "cắt da".  Bao thiếu thốn, bao tính toán lo toan.  Đàn ông vác cày ra ruộng thì lại phải lo ăn, mà ăn 'làm răng' thì đã có mạ lo. Mạ lo, là 'lo ăn cho đủ  đến khi giáp hạt.

Chỉ rứa thôi,  khi cái vòng lo toan không bị ông trời làm cho trắc trở thì con nhà nông thở ra nhẹ nhõm. Cũng là lúc cái "vòng đời" lam lũ tính đủ một năm tròn mong sức người vẫn còn dẻo dai để cấy cày làm ra hạt gạo. Mong làm răng thoát cái cảnh nước tràn vô đồng mà chảy băng băng làm ngọn lúa không ngóc đầu lên được. Đó là lúc trời còn giúp cho con nhà nông lo toan đủ hai vụ cấy cày. Đầu mùa gieo mạ cấy lúa, cuối mùa gánh về nhà những gánh lúa được mùa nặng hạt. Trời còn thương thì người làm ruộng chẳng màng chi tuổi đời chồng chất, tưởng sức mình như đeo mãi với ruộng lúa con trâu...


Chuyện ngày xưa, chuyện những ngày giáp hạt, đó là lúc con người chân lấm tay bùn vẫn mãi bấm bụng nhịn cho qua cho quen những ngày thiếu đói. Đó là lúc lúa ngoài đồng đang nặng dần những hạt lúa kết tinh từ mồ hôi nước mắt của người nông dân tháng ngày miệt mài trên đám ruộng thân yêu, ươm đầy hi vọng của ấm no trước mắt. Cứ mỗi lúc "qua truông giáp hạt" đó là vòng tuần hoàn của một năm tròn. Rồi bác nông phu bấm đốt tay tính thêm được một tuổi đời hay vòng trần thế già thêm mười hai tháng.  Bên mảnh đất thân yêu muôn thuở, bên mái tranh ấp ủ tình quê, cạnh bụi chuối bờ tre người nông dân vẫn mãi tấm lòng chung thủy đất-người. Ngày lại ngày qua bốn mùa xuân hạ thu đông 'cày sâu cuốc bẫm'. người làm ruộng chỉ một niềm mong đợi đơn sơ 

 "Ăn sao cho đủ tới khi GIÁP HẠT !"

Thế thôi, một đời dân dã, đơn thuần người miệt quê chẳng ai biết mong chi lâu dài hay cao sang hơn nữa. Qua bao nhiêu năm hay nhiều đời con cháu tiếp nối, sau lũy tre làng lòng người dân quê chỉ ngần ấy ước mong. Nhưng rồi mỗi khi gió thét mưa gào, nước chảy băng băng, đó là lúc lòng người chỉ biết nhất tâm cầu nguyện ơn trời. Cho đến khi trời êm lụt hết, tình quê vẫn mãi nồng ấm tràn trề không hề thay đổi. Người làm ruộng vẫn miệt mài một nắng hai sương chắt chiu tháng ngày bên bờ mương thửa ruộng trong tình cảm thủy chung cho đến khi sức tàn lực kiệt, trọn kiếp con người./.


Đinh hoa Lư edition

DƯA CẢI "THƯỢNG DU"




RAU TÀU BAY hay MÓN DƯA CẢI THƯỢNG DU

 

(nhớ bạn tù 'cải tạo' Ái Tử, Quảng Trị)


Chào bạn đọc

    Tàu bay còn gọi là phi cơ thứ mà người mình hiện tại có thể đa phần đều biết. 

Kinh tế đổi mới xã hội đi lên phương tiện giao thông dồi dào, ngoài các chuyến xe khách hạng sang giờ đây các thành phố tại VN đều nối với nhau bằng những chuyến tàu bay phản lực bay tuyến nội địa.

 

Chuyện tàu bay kể lại đây không dính líu chi đến những chuyến phi cơ vần vũ trên trời mà tàu bay đây là "Rau Tàu Bay" một loại cỏ hoang ăn được. Một thời từng làm BẠN cho những người tù binh ngày thua trận.

 

Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay (ca dao)

 

    Người viết tin tiếng "DƯA TÀU BAY "là một danh từ chỉ dành cho thành phần tù nhân chính trị sau 1975 họ mới biết thôi. Miền nam sụp đổ những người còn lại đã bắt đầu chịu sự hành hạ ghê gớm qua một danh từ 'cải tạo' đó là thời gian mà hàng ngày có quá nhiều cái bao tử tù chính trị đang bị hành hạ, bào xé "tận xương"!

 

     Ba tiếng kẻng báo cho từng khối tù đi lãnh phần sáng lên chia trước khi đi làm. Chuyện trước tiên là chia phần MUỐI. Đúng vậy quan trọng nhất là muối. Những người 'cải tạo' như chúng tôi cần muối. Tuy mỗi người chia ra khoảng non hai muỗng cà phê muối sống nhưng ai cũng cất thật kỹ!?

 

Chuyện cũng lạ đời từ khoai sắn cơm canh gì cũng chia đều lại phần muối ban sáng để chấm sắn ăn cũng phải chia! Mà lại chia cho cân phân mới là khó cho anh nào trực trong ngày.

 

Tại sao lại cần và cất kỹ thế? 


Trốn trại ư?

 Không dám!

Hay làm gì khác?


Thưa thật, chuyện là vậy...

 

 Chúng tôi đã đạt đến trình độ 'thượng thừa' về làm DƯA. Mà dưa thì CẦN MUỐI. Nguyên tắc đơn giản là vậy thôi.

Chà ở tù mà ăn dưa thì cầu kỳ quá sá? 

Dưa giá chấm thịt heo à?

Không đâu quý bạn ơi! Dưa giá thịt heo là chuyện nằm mơ trong giấc ngủ thôi. Đêm về hai cái sạp dài trong cái lán dài lê thê có hai dãy người. Sau một ngày rừng rẫy giờ chúng tôi đang say sưa trong giấc ngủ ngon lành. Đây là thời gian tha hồ mà thả hồn về dĩa dưa giá, thịt heo... Khi tỉnh giấc, thực tế của chúng tôi còn lại là dưa tàu bay thôi!

 


Ngày đó, vùng đồi càn, cằn cỗi trung du Quảng Trị sao rau tàu bay mọc nhiều quá? Những bao tàu bay non mơn mởn chúng tôi hái xong, khi qua suối không quên rửa sạch.  Về lại trại tù chúng tôi sẽ ăn độn thêm với cháo sắn ngõ hầu nhét đầy cái bao tử xép ve đang sôi "lục bục ì xèo"! Nhiều cái bao tử, chúng "biểu tình đòi hỏi"?! Đói bắt cái đầu chúng tôi phải "biết cách sinh tồn", nói cách khác là vừa cuốc đất vừa "dáo dác" ngó quanh?...

 Sau ngày 21 tháng 5, 1975 tù binh từ Ba Lòng đưa về vùng này hàng ngày khai hoang trên những triền đồi đầy sỏi. Chúng tôi un vồng trồng sắn khoai. Nhiều đôi mắt không hề bỏ qua những mảng đất sau mấy trận mưa, rau tàu bay đang hồi lên, xanh non mơn mởn. Thế là vào lúc nghỉ giải lao, chúng tôi tha hồ kiếm thứ rau dại đó nhét vào mấy cái bao cát quân đội từng được xếp dẹp, gọn, giấu đằng lưng.

Có anh bạn tù nào đó nảy sinh sáng kiến khá thông minh, làm thử "dưa tàu bay" xem nó ngon dở ra sao?

Qua vài đợt thử đầu tiên chúng tôi thấy dưa đó quả ngon thật! Nhiều cái đầu "gật gù" đồng ý, tán thưởng. Dĩ nhiên trong cái thế "vô kế khả thi" hay "thế giới người mù kẻ chột làm vua", loại dưa lạ lùng đó nó là "số một"! do chẳng có gì cạnh tranh, với loại dưa đó cả? Thích quá, chúng tôi đặt tạm đặt tên cho nó là "Dưa Cải Thượng Du".

 Nghĩ cho cùng vào hoàn cảnh ngày đó, sao mà không là dưa? Gô dưa làm xong nó có vị chua, giòn, chăm chú ngửi kỹ hơn, quả gô dưa có mùi thơm thơm dưa cải...thoang thoảng thôi không đậm lắm nhưng đối với cái mũi người tù lúc đó "thiếu thốn" tột độ thì nhạy bén vô cùng. Đã kể thì phải kể thật lòng,  người viết thưa với bạn đọc,  có khổ một điều do chúng tôi thiếu  DĨA THỊT HEO BA CHỈ (ba rọi) cùng  CHÉN NƯỚC MẮM ỚT TỎI”!?



Thật là chuyện "viễn mơ" làm gì có dưa giá thịt heo? Ai đó có nhớ dưa giá thịt heo thì xin đợi đêm về! Sau tiếng kẻng Trại báo đi ngủ, chúng tôi sẽ  thiếp đi trong giấc mộng. Ai  nấy tha hồ thả hồn phiêu du rồi "liên hoan cùng  "DƯA CẢI THỊT HEO"!


Hiện tại ta có miếng dưa tàu bay đưa khúc sắn "tiêu chuẩn" cho bữa tối vào miệng cho no, thế là ngon rồi. Đó là lý do tại sao chúng tôi cần muối. Rồi buổi kiểm thảo phê bình công tác ban đêm, dưa tàu bay cũng là đề tài bị đem ra chỉ trích? Người đội trưởng lại một lần nữa nhăn mặt nhíu mày. Anh cực chẳng đã phải phê bình, kiểm điểm...nếu không anh cũng khổ với trên!? 

   

Chuyện nhắc nhở vấn đề CẢI THIỆN LINH TINH làm phiền lòng người "vệ sinh viên" phải dọn dẹp trong lán (nhà) khi tù đi làm rồi.  Chuyện 'vi phạm' của mấy lon gô DƯA TÀU BAY ai đó treo lủng lẳng từ đầu nằm trong lán  ngày đó đều trở thành đề tài 'thời sự'. Sao mà không "thời sự"? khi "đồng bệnh tương lân" phong trào làm "dưa cải thượng du" trở thành mốt ăn toàn lán, không có không được! Thứ dưa từng giúp đỡ hay thực ra là "trấn áp" được từng đợt "biểu tình" của mấy cái bụng tù trong những ngày thiếu đói. "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay..." nói như Cụ Nguyễn Du xưa, chỉ có người tù binh sau 1975 mới cảm được nỗi niềm ngày tháng cũ. Biết bao đau khổ từ cơn đói lòng và bốn chữ trong cái tội "cải thiện linh tinh" người viết thiết nghĩ chỉ có người tù 'cải tạo' mới nhớ mà thôi.

Thương hại cho số tù khi đi làm về làm sao! Có người buồn lòng nín lặng, có kẻ lại "càm ràm, ca cẩm" do hũ dưa tàu bay, thứ dưa đang hồi chua chín, thơm mùi dưa cải đã bị vệ sinh viên "tịch thu" mất rồi?!


Một loài hương dưa, hương vị không bao giờ quên khi tết đến xuân về. Nhớ mùa xuân xưa nào soạn sành phẩm vật cúng kiến, nào dọn mâm linh đình. Ôi dưa hành củ kiệu, chả thịt, nồi  hầm ngon đáo để! Lại còn có dưa cải chua, thịt heo ba chỉ trong mâm cơm cúng tất niên...

 

Còn ai từng làm thân phận người tù Ái Tử Quảng Trị nhớ đến những mảng đồi trung du ngập trắng hoa tàu bay. Những sợi bông  trắng, đến mùa nở bung, nhẹ bấc từng la đà bay theo gió núi.

 

hiện nay tại quê nhà rau tàu bay không còn "rau dại" nữa mà nó được sánh ngang với các loài rau thông dụng khác dùng trong bữa ăn 


Hiện nay trên quê hương mình,  rau tàu bay; loài rau dại đều là vị thuốc, là tiền! Tàu bay cũng như bao cây dại khác như cây mây, cây đót... khắp vùng trung du là "của trời ban" giúp người nghèo kiếm sống. Chuyện thời nay là vậy. Chỉ còn chúng tôi, lớp tuổi về già ngồi nhớ chuyện xưa...nhớ sao chuyện muối và dưa tàu bay. 


Tàu bay, tên nghe thật lạ! nhưng lại là một kỷ niệm làm người kể hôm nay nhơ nhớ, thương thương, rồi bỗng nhiên lại cay cay con mắt ./.


Đinh trọng Phúc 

edit 18/7/2026

PEARL S. BUCK-- NGÔI SAO NGÀY GIÁNG SINH ( TRỌN TẬP)

      Ngày Giáng Sinh, ông tỉnh giấc vào lúc trời mới rạng sáng. Trong khoảnh khắc đầu tiên ông chưa thể nhận ra mình đang ở đâu. Trong trí ...