Tuesday, June 9, 2026

CON CHIM CU GÁY MỘT MÌNH VƯỜN SAU




Nhớ con cu gáy đậu cành tre
cất tiếng cúc cu bóng mẹ về
Tan buổi chợ chiều chân bước vội
Một đời của mẹ với làng quê...

(Pham Khâm, Dòng Sông Thao Thức)


    Những lúc đi bộ quanh xóm hay một mình ngồi ở vườn sau, tôi thường lắng tai cùng để ý tiếng chim cu gáy rời rạc đâu đó quanh xóm tôi ở.

   Khác với những thứ chim khác, chim cu ở đây chẳng lớn hơn chim cu ở bên quê nhà chút nào. Từ vóc dáng đến màu lông, hai nơi đều giống nhau hết sức. Điều khám phá này làm tôi ngạc nhiên nhất. Chim ở Mỹ sao không to hơn mới lạ? Những con cu cườm, cu ngói, cu đất...còn vài con khác nếu bạn có khiếu về chim muông thì có thể nhận xét hay hơn tôi nhiều thứ.

12 giờ trưa 17/1/2026 tác giả chụp hình con chim cu đang gáy trên cành cây red wood 


   Chim cu là loài chim sống thầm lặng nhất. Khác với từng bầy quạ đen đúa, hung dữ, sống từng bầy đông nghẹt. Cũng không giông với bầy sẻ ríu rít ồn ào, hay những con kên kên to lớn, có bầy lên tới hơn gần cả trăm con.

 Chim cu sống từng cặp, từng hai con lặng lẽ đậu trong cành cây nào xa bầy chim dữ.


Cặp chim cu đậu trên sợi dây điện, hay trên một cành khô nào đó vào trưa hè, hay bay qua thăm vườn tôi trong thoáng giây:

-Cúc cù cu cù
-Cúc cù, cu cù...

"Ngôn ngữ" loài cu muôn đời vẫn vậy. Tiếng nó kêu trong buổi trưa nắng hè oi bức chói chang hay buổi sáng mặt trời vừa lên chào một ngày mới vẫn vậy. Tiếng chim cu nghe buồn xa vắng làm sao?

  Trời đông và trời tây, chim cu chẳng khác nhau dù thời gian  và không gian phôi pha mọi thứ. Khi những đàn bồ câu hoang tại xứ này càng ngày càng đông, nặng nề, chen chúc, xú uế khắp mọi thành phố. Loài chim cu vẫn hiếm hoi, xa cách, trầm lặng, giấu mình. 


   Đi tận chân trời góc biển, tiếng chim vẫn 'cúc cù cu', thanh âm  đưa tôi về kỷ niệm. Ngày xưa còn bé dưới bầu trời quê hương, tôi hay lang thang trong buổi trưa hè. Có con chim cu đậu trên cành tre đu đưa theo gió. Chim cu ngày đó chẳng khác gì bây giờ, sống ít ỏi, im lìm.

Thỉnh thoảng chỉ đôi ba tiếng kêu nhau:

-Cúc cù ...
-Cúc cù

    Chúng như 'đối đáp' rồi vội vỗ cánh bay mất. Tôi chẳng biết chúng bay về đâu?  Nếu bầy cu đó trở lại, đó là lúc tôi nghe được tiếng "cúc cù" trên ngọn cây trước nhà. Tiếng "cúc cù" nhè nhẹ, dịu dàng, thoang thoáng rồi chúng lại bay.  Chim chẳng cần 'quan tâm' ai và chẳng ai trong xóm này để ý gì đến chúng. 

    Thật ra, trong lúc này đây, có những mảnh đời xa xứ nghe tiếng chim mà nhớ về quê hương da diết. Tiếng chim cu gáy như phảng phất hồn quê, day dứt cho ai ngày tháng tha hương, biệt xứ. 




Có thể quê hương tuy xa mà gần là nhờ tiếng con chim cu gáy trưa nay. Nhưng quê hương có lúc bỗng trôi xa khi tiếng chim kêu buồn không còn nghe nữa. Một ngày như nhà thơ Phan Khâm từng viết:
...
Cu gáy không còn gáy cúc cu 
Từ ngày vĩnh  biệt mẹ..thiên thu
Thân tre được chẻ làm dây luộc
Trói chặt linh hồn mẹ thế ư

(Phan Khâm-Dòng Sông Thao Thức)

    Đó là lúc bóng mẹ vĩnh viễn đi xa như những bóng chim vỗ cánh bay đi không còn trở lại./.


ĐTP

edition 9/6/2026

Monday, June 8, 2026

NGỤ NGÔN- CHUYỆN CON CÔNG

 

CHỚ QUÁ CẦU TOÀN


Ngày xưa thiên hạ cho rằng loài công trước tiên không có bộ lông đẹp và đáng cho nó tự hào như bây giờ mà ta hay thấy. Bởi thế nó từng xin nữ thần Juno là chúa của các nữ thần trong thần thoại Hi Lạp cho nó một bộ lông và rồi một ngày nữ thần Juno còn cho nó cái đuôi dài đẹp lộng lẫy nhằm khác biệt với các loài chim khác.


 Từ đó công ta khoác lên người một sắc đẹp thiên kiều bá mị nào là xanh ngọc lục, vàng, tím cùng xanh biếc và công đã tự hào sải bước giữa muôn loài chim. Tất cả loài chim thật sự nhìn nó đầy vẻ ghen tị. Loài chim trĩ từng xem là đẹp cũng phải chịu thua vẻ đẹp của Công.


Nữ Thần Juno Sự tích Hi Lạp

Có một ngày, Công ngước lên bầu trời cao chợt nhận ra có một con Đại Bàng đang bay trên cao?! Công cũng ước ao thèm muốn bay được như con Đại Bàng kia? Nó cố gắng dang đôi cánh làm sao bay bổng lên khỏi mặt đất. Nhưng chính sức nặng từ cái đuôi dài đẹp đẽ của công đã kéo công xuống, không tài nào bay được!? 

Cuối cùng thay vì bay lên chào đón muôn vàn ánh dương đầu tiên của mặt trời buổi sáng hay tắm mình trong sắc hồng giữa bao nhiêu đám mây bềnh bồng trong buổi hoàng hôn, Công ta phải phải gắng mà lê bước chân nặng nề mệt mõi hơn bất cứ loài chim nào trên nền đất mà thôi!


LỜI BÀN

Chuyện đời ta chớ quá cầu toàn; cầu toàn thì không bao giờ đạt được thành công mỹ mãn. Cầu toàn bất cập, con Công vừa có cái đẹp của bộ lông không chim nào sánh được lại còn tham lam còn muốn tự do bay lượn thênh thang trên trời cao như con Đại Bàng kia? Vậy có được chăng? Trên đời này có cái gì toàn  đâu? Được cái này thì mất cái khác. Nếu công muốn tự do bay thênh thang như loài Đại Bàng thì chớ cầu xin bộ lông đẹp đẽ cùng cái đuôi dài thậm thượt vốn có của nó thì may ra?  

Ngụ ngôn trên áp dụng vào cuộc sống nhân sinh thật ý nghĩa. Từ thành ngữ nhân vô thập toàn chúng ta cũng hiểu được sự tương đối trong mong cầu để có cuộc sống hạnh phúc. Biết đủ là đủ không nên quá cầu toàn quá tham vọng để rồi không có gì cả hay thất bại về sau. 



The Peacock, they say, did not at first have the beautiful feathers in which he now takes so much pride. These, Juno, whose favorite he was, granted to him one day when he begged her for a train of feathers to distinguish him from the other birds. Then, decked in his finery, gleaming with emerald, gold, purple, and azure, he strutted proudly among the birds. All regarded him with envy. Even the most beautiful pheasant could see that his beauty was surpassed.

Presently the Peacock saw an Eagle soaring high up in the blue sky and felt a desire to fly, as he had been accustomed to do. Lifting his wings he tried to rise from the ground. But the weight of his magnificent train held him down. Instead of flying up to greet the first rays of the morning sun or to bathe in the rosy light among the floating clouds at sunset, he would have to walk the ground more encumbered and oppressed than any common barnyard fowl.

Sunday, June 7, 2026

ĐỪNG TIN VÀO ĐỨA XU THỜI

 

CUỘC CHIẾN GIỮA CHIM -THÚ VÀ LOÀI DƠI


NGỤ NGÔN AESOP

 




ĐỪNG TIN VÀO ĐỨA XU THỜI

Ngày xưa vào thời khai thiên lập địa loài chim muông và thú rừng xảy ra chiến tranh với nhau. Do không có điều đình nào thành công nên chúng tung hết móng vuốt ra quyết đánh nhau cho đến chết. Người ta tin rằng cuộc chiến này khởi đầu do dòng họ nhà ngỗng bị hãm hại dưới nanh của họ nhà cáo. Còn về loài thú chúng cũng có nguyên nhân để gây chiến. Từ đó đại bàng tha hồ vồ thỏ hay loài cú thì hàng ngày thưởng thức món thịt chuột. 

Thật là một cuộc chiến kinh hoàng. Nhiều thỏ và chuột bị chết. Còn gà và ngỗng cũng chết vô số kể kẻ thắng trận thường dừng lại để mở tiệc tưng bừng. 

Ngày đó có gia đình họ nhà dơi chẳng tuyên bố theo phe nào cả. Dòng họ đó rõ ràng khôn lanh về chính trị. Khi chúng thấy loài chim chiến thắng hơn chúng tuyên bố chúng thuộc họ nhà chim. Nhưng khi chúng thấy tình hình mặt trận không khá cho loài chim chúng lập tức tự coi mình thuộc về loài thú?! 

Cho đến một ngày chiến tranh kết thúc, trong cuộc hội nghị hòa bình người ta mới đem thái độ của họ nhà Dơi ra bàn thảo. Không ai có thể dung thứ cho thứ thái độ đáng khinh kia được? Chim và Thú liền hợp lực để xua đuổi đứa xu thời là dòng họ nhà Dơi. Kể từ đó họ nhà Dơi phải đành tìm nơi ẩn náu, núp mình vào những nơi hoang phế, đợi đêm về không ai thấy mới dám bay ra./.


LỜI BÀN 

chuyện ngụ ngôn trên muốn nói lên rằng trên cuộc thế này lắm loại người ba phải như loài dơi trong câu chuyện. Họ sống như chuyện cái tơi mưa bề nào che hướng đó hay kiểu cây tre đu đưa uốn khúc lúc nghiêng bên này, khi ngã bên kia...

Hạng người ba phải tức là không bao giờ trung thành với chính kiến nhất định nào đó. Họ sống và hành động cốt lợi ích và an toàn cho bản thân họ là chính. Hạng người này không bao giờ đáng tin cậy. Trong chính trị hiện đại lúc tình hình quốc tế có nhiều bấn loạn, hạng ba phải nếu cầm đầu một cường quốc, sáng nói một lời trưa lại thay đổi xoành xoạch thì càng không thể tin và hoàn toàn không thể kết giao được. Vận mệnh quốc gia là quan trọng, nếu nước nào có kẻ cầm đầu thuộc loại "Dơi" trên thì đất nước đó sẽ khó lòng ổn định do niềm tin toàn dân càng bị lung lay bất định do chính sách phiêu lưu hay thay đổi của nhà chính khách ba phải, nếu không nói là dối trá nói trên. Ba phải hay đi đôi với lật lọng, và cuối cùng là dối trá rõ ràng là hành vi thái độ của hạng người bất lương, bất hảo mà thôi. Hạng người này trong chính trường hay lịch sử bang giao quốc tế không hề trở thành vĩ nhân cho hậu thế tôn vinh kính trọng được.


Đinh trọng Phúc dịch và viết lời bàn





ENGLISH

The Birds, the Beasts, & the Bat

The Birds and the Beasts declared war against each other. No compromise was possible, and so they went at it tooth and claw. It is said the quarrel grew out of the persecution the race of Geese suffered at the teeth of the Fox family. The Beasts, too, had cause for fight. The Eagle was constantly pouncing on the Hare, and the Owl dined daily on Mice.

It was a terrible battle. Many a Hare and many a Mouse died. Chickens and Geese fell by the score—and the victor always stopped for a feast.

Now the Bat family had not openly joined either side. They were a very politic race. So when they saw the Birds getting the better of it, they were Birds for all there was in it. But when the tide of battle turned, they immediately sided with the Beasts.

When the battle was over, the conduct of the Bats was discussed at the peace conference. Such deceit was unpardonable, and Birds and Beasts made common cause to drive out the Bats. And since then the Bat family hides in dark towers and deserted ruins, flying out only in the night.

BUỒN VUI ĐỜI TÙ BINH


bụi cây lá ngái 


    Ông Trầm người tù binh già nhất Lán 4 đang ngồi nhả khói. Điếu thuốc to tướng vấn bằng giấy báo. Thuốc bên trong chẳng phải là thuốc rê hay cẩm lệ mà làm từ lá cây ngái, chúng tôi hay gọi là cây lá ngấy- loại dây leo nấu nước uống khá lành. Thuốc rê gia đình ông từ làng Vĩnh Lại bên kia con sông Thạch Hãn có lần bới lên lúc thăm đã hết từ lâu. Làng ông Trầm bên kia sông Thạch Hãn, hướng Cửa Việt, giờ đây xem như xa "diệu vợi" đối với thân phận người tù. 


Ông là thượng sĩ thường vụ, và cũng là người tù lớn tuổi nhất trong lán. chúng tôi trong lán phần nhiều là trung đội trưởng, chuẩn úy trẻ măng. Chúng tôi xem ông là người cha già trong lán. Ông Trầm tuy là thượng sĩ nhưng đối với làng ông vẫn bị đem lên đây với hai tiếng là "học tập". Chỉ có người viết là tù binh từ mặt trận và các đơn vị từ Huế trong ngày thất thủ, riêng đối với Ông thì đi từ địa phương lên. Tôi hay lân la bên ông Trầm, chia điếu thuốc vấn từ lá ngấy khô cho đỡ cơn ghiền. Nguyễn văn Sở cũng là người Vĩnh Lại nhưng ngang lứa tuổi với tôi, đứa nào cũng là trung đội trưởng mới ra trường. Thằng Sở lạ lắm, hắn nói chuyện rất nhanh, khó ai nghe kịp. Một lần đi rừng, thằng Sở lại là đứa đi nhanh nhất.



 Bước hắn đi nhanh nhất. Mỗi lần đôi dép lốp kiểu bộ đội bị trật quai, hắn liền ngồi xuống xâu lại đuổi theo toán đi rừng. Bước đi hắn thoăn thoắt chút chi hắn lại tiến lên trước. Thời gian đó, không riêng gì Sở, chúng tôi đều được phát dép lốp đi rừng. Sở hơn chúng tôi nhờ tài xâu lại quai dép, không ai làm nhanh hơn hắn. Đường mùa mưa trơn trợt dép lốp trật quai lia lịa. Đoạn đường lên rừng hay từ rừng về mùa mưa, có khi chúng tôi phải ba bốn lần xâu lại quai dép. 



 Ngày nghỉ cuối tuần như hôm nay ông hay kể chuyện ngày xưa cho mấy đứa tôi nghe. Mồng Hai tháng Chín qua rồi. Đó là cái lễ đầu tiên trong tù có một ít "tiêu chuẩn" mà người kể chuyện còn nhớ. Mỗi người được nửa gói thuốc lá Tam Đảo 10 điếu, nửa gói thuốc lào Thống Nhất. Có tiết kiệm chi rồi cũng hết từ lâu. Ông Trầm là người hút thuốc lá nặng.  Thuốc vấn, cẩm lệ cuối cùng là thuốc rê những thứ ông có trong dịp người nhà lên thăm tù sau này mới đủ cho ông "phê". Nhưng đào đâu ra lúc này lúc mọi thứ đã cạn sạch.  Hút thuốc Lào là phương tiện chính cho những ai ghiền thuốc.  Tôi lại miên man chuyện cái ống thuốc Lào tức là điếu cày. Đã kể thì phải nhắc lại cái "nõ điếu" cày, tức là phần gắn vào ống thuốc để ta bỏ "bi" thuốc vào đó. Chủ nhân cái ống phải tìm cho ra gốc sim để đẽo cho ra cái nõ. Gỗ sim mới không bị nứt nẻ. Ngày cuối tuần là lúc rảnh rang để mấy đứa bạn mân mê gọt dũa cái nõ bằng gỗ sim. Toàn trại, nói chung tất cả người tù đều hút thuốc Lào. Những lúc toàn lán cạn thuốc, thật khó quên cả mấy anh em chia nhau một "bi" thuốc cuối cùng. Người đầu kéo một chút, người thứ hai kéo một phần tư, hay ít hơn...cho đến người bạn cuối cùng rít hết chút khói còn lại trong ống. Anh chàng sau cùng kéo cho tận hết làn hơi cuối còn lại trong cái ống lại phân bua :

-THẬP TOÀN ĐẠI BỔ...

Người bạn tù dùng 4 chữ trong bài thuốc Đông Y nào đó, vừa hài hước vừa bào chữa cho sự tận dụng hay bòn mót làn khói cuối.


Nhớ cái "điếu cày" thì tôi khó quên bao đốt tre giang trên rừng, quả ích lợi cho tù. Từ lạt buộc, đan đát cho đến cái ống thuốc Lào mỗi lần hút tiếng nghe tiếng "phùm phụp", âm thanh đặc trưng và mùi thuốc cũng khó quên. Thuốc Lào là "thượng đế" do nó hút là phê. Không phê thì chưa biết thuốc Lào là gì? Tôi nhớ thằng Thu trong lán vừa phê thuốc do hắn hút lúc bụng đói. Thu say thuốc Lào rõ nặng. Người hắn lảo đảo, ngã xuống nghe tiếng "rầm" may mà không chết nhờ có bạn bè. Ông Trầm là dân chuyên vấn cẩm lệ và thuốc rê nhưng rồi cũng bắt đầu mê cái ống thuốc lào. Thật ra, "có còn hơn không" không ai chê chuyện mê hay ghiền thuốc Lào vào lúc đó. Những lúc chia nhau từng ngụm khói từ một "bi" thuốc hỏn hon, còn lại hay những lúc phải vấn lá ngấy khô thay thuốc thật mới biết người tù cần hơi khói thuốc chừng nào. Tù cần thuốc, cần "phê" để quên đi thực tại đó là những cảm giác thiếu đói, thèm khát mọi thứ, khó lòng kể cho hết...

***

Như chợt khám phá  một điều thú vị, ông gọi giật phắc tôi:


-MI ĐI SỤT CÁ KHÔNG PHÚC!?

-DẠ ĐI CHỚ. 

-KÊU THẰNG SỞ ĐI VỚI NGHE!


Ông Trầm không quên thằng Sở do hắn cũng là người cùng làng Vĩnh Lại hơn nữa tất cả ba người đều cùng tổ với nhau. Trần đình Côn là tổ trưởng dĩ nhiên không ai dám kêu hắn đi sợ liên lụy cho hắn, tội nghiệp.


Thật ra, vào thời gian đầu ở trại 4 khoảng gần cuối năm 1975, năm trại tù binh này đều do quân đội miền bắc cai quản có tên là Đoàn 74. Năm trại đóng gần nhau sau năm 1976 có số tù binh từ Cồn Thiên Gio Linh nhập vào nữa và cuối cùng đổi tên là Đoàn 76.

 Thời gian kể trên, vòng rào ngoài trại còn lỏng lẻo, cuối tuần chúng tôi còn đi "cải thiện linh tinh" kiếm chút gì giúp cho bao tử. Chỉ có đêm về là lo có mặt là được. Nguyễn văn Sở và người viết đồng ý ngay với ý kiến chợt nảy sinh của ông. Cuối tuần, không có gì chỉ ngồi thèm thuốc đến chết người thôi. Ngoài kia là căn nhà thăm nuôi , Trại mới xây xong, vắng ngắt giữa cảnh núi đồi hiu quạnh. Đến kỳ thăm nuôi, căn nhà vãng lai đó mới vui hơn một ít. Người nhà của tù về rồi, sẽ trả lại quang cảnh vắng ngắt như mọi ngày.


Thời gian đầu, lúc bộ đội coi tù Trại chẳng có cổng gác. Mà chẳng cần ai gác do chưa có vụ trốn trại nào. Cái hàng rào kẻm gai lưa thưa cho có. Thời gian này rất lạ, ở trên nhà cán bộ chẳng ai lo chuyện tù trốn cả. Trần đình Côn, hắn là toán trưởng có ba hắn nghe đâu đi bộ đội tập kết có quen trại trưởng Trại 4 tên Thú. Đúng vậy, có một ngày ai đó chỉ cho người viết  hình ảnh một người bộ đội già tay dắt một chiếc xe đạp giàng đi ngoài hàng rào. Ông ta tiến đến hướng khu nhà cán bộ. Ông là cha của Trần đình Côn tổ trưởng trong lán. Ông đi tập kết về lại QT ông tới thăm thằng con trai trong tù. Ông là bạn ông Thú trại trưởng cùng bộ đội lâu năm. Có cha đi tập kết, cũng như nhiều người khác, chuyện Côn về sớm hơn chúng tôi là lẽ thường. 

Lán trưởng (nhà trưởng) chúng tôi là anh Nguyễn danh Huấn người Gio Linh. Mỗi lán có nhiều tổ. Mỗi khối có nhiều lán. Lán tức là cái nhà tranh lớn chứa mấy chục người tù. Còn khối có bốn lán như vậy. Tôi còn nhớ nụ cười hiền hòa của anh Huấn. Người anh điềm đạm, ít khi cáu gắt với ai. Đêm đêm vừa kéo hơi thuốc lào vừa kể chuyện đơn vị thuộc Sư Đoàn 23 trước ngày "TAN HÀNG...CỐ GẮNG".  Anh chỉ là trung đội trưởng, rồi chuyện về lại địa phương...Làng Xuân Mị, Gio Linh quê anh. Khi người sĩ quan trẻ đó trở về phải nhọc nhằn đối phó với sự kỳ thị của địa phương. Anh Huấn kể lại có những đêm HỌP DÂN hay đội đoàn, anh phải đối phó với bao hằn học, gay gắt. Trước đội đoàn hợp tác tại quê anh với lời kể lại chất chứa bao cay đắng do anh phải QUỲ mỗi lần Hợp Tác hay Đội họp.  Lên được trại 4, tuy là tù nhưng anh Huấn cảm thấy thoải mái hơn ở địa phương nhiều. Nguyễn danh Huấn, Trần Côn đều về trước tôi. Hai người đều về Sơn Mỹ Hàm tân trong thời gian đầu ra trại. Tội cho anh Huấn mất sớm ở Suối Nghệ nên không đi Mỹ được. Phần Côn lận đận lao đao từ vùng kinh tế mới này sang nông trường nọ cuối cùng gặp may đi được Mỹ trong các đợt HO "nạo vét" sau cùng. 


***




    Ông Trầm dắt thằng Sở và tôi đi ra hướng khác tránh cho nhà cán bộ thấy. Ngày nghỉ cuối tuần chẳng ai có việc. Trại nghỉ hẳn nhưng chẳng có vệ binh canh chừng. Cả ba người đi tắt qua hướng Nại Cửu Phường để ra hướng Căn Cứ Ái Tử cũ.

Một vùng đồi núi càn, lau lách rậm rạp. Quang cảnh một vùng hoang vu không có bóng người ngoại trừ mấy trại tù vừa mới lập. Mấy con đường đất đỏ ngày trước chưa mất dấu. Cây leo và bụi rậm chưa phủ hết xác mấy chiến xa của mặt trận vừa qua. Căn cứ Ái Tử chỉ còn là những tấm ri sắt cong queo bị xé toạc bởi đạn pháo. Những hầm chứa đầu đạn 105 ly và 155 ly bị nổ tung rơi vải tung tóe. Ông Trầm bảo Sở và tôi kiếm 2 đầu đạn 105 ly chưa bắn rồi vác theo ông. Cả ba người lầm lũi bước về lại hướng núi nơi có rất nhiều hố bom B 52 giờ đã trở thành những cái hồ nho nhỏ. Vác hai đầu đạn không chưa hề có ngòi nổ nên không thể nổ được. Tới mấy cái hố bom rồi, bảo chúng tôi dừng lại. 

Cái que sắt khá nặng có một đầu nhọn do thằng Sở vác theo, không ngờ giờ đây mới bắt đầu có ích. 

Cái cảnh "điếc không sợ súng" là giây phút đó. Liên tục đâm cái đầu sắt nhọn vào phẩn miệng quả đạn thật quả là chuyện liều. Không liều làm sao có cá ăn. Do đây là cơ hội "cải thiện" mà đã là tù thì làm gì còn chuyện sợ chết. Đã "cùi thì không sợ Lở" ý nghĩa cuối cùng là liều.  Thật ra theo kinh nghiệm pháo binh, chỉ có đầu nổ gắn vào mới làm cho đầu đạn có sức nổ được. Theo lệnh ông Trầm hai đứa chúng tôi thay phiên nhau dùng cái que sắt nặng đó liên tục đục vào lỗ đầu quả đạn pháo vị trí sẽ gắn đầu nổ nếu như quả đạn sắp được bắn đi. Sở và tôi, bậm môi nghiến răng liên tục thụt cái đầu nhọn que sắt dần hồi khai thông qua được lớp nhôm dày đi vào phần chứa thuốc nổ bên trong. Một lớp bột chất nổ màu vàng bên trong đã thành hình. 



Ông Trầm đốt một vài que củi xong lấy than hồng thả vào lớp bột thuốc nổ bên trong miệng quả đạn. Người yếu bóng vía làm sao dám làm chuyện này hay dám đứng gần bên?

Ông trấn an: 

-KHÔNG RĂNG MÔ ! (không sao đâu)


Ông nói chắc mẩm như đã rành rọt từ bao đời. Ông chẳng sợ gì do ông biết không hề gì. Lớp bột thuốc nổ bên trên bắt đầu bén lửa. Tôi chưa hết cảm giác run sợ lúc đó. Cứ tưởng tượng quả đạn nổ tung thì banh xác hết cả ba người.


Cơn run của tôi chưa hết, thì đầu đạn bắt đầu bén lửa cháy phùn phụt lên cao. Ông Trầm đợi cho làn khói trắng trên miệng quả pháo bốc lên độ cao vừa ý, xong ông vội ôm quả đạn đan cháy lội ra giữa hố bom và cắm ngược quả đạn xuống lớp bùn. Quả đạn được sức cháy nên không tắt đi vẫn tuôn những làn hơi bùm bụp bắn lên từ đáy miệng hố bom. 

Té ra ông đã kinh nghiệm chuyện này từ lâu, có điều kinh nghiệm này của ông không biết lúc nào?


ÔI NHIỀU CÁ QUÁ ĐI !


Quả đạn bắn hơi, sôi sùng sục giữa hồ non nửa tiếng đồng hồ thì ngưng hẳn. Một cảnh tượng trước mắt mà chúng tôi lần đầu tiên trong đời mới thấy...


Ôi thôi bao nhiêu thứ cá trong cái hố bom nhỏ, nói chung bất cứ có con vật nào núp sống dưới cái hồ này bao lâu nay đều  lo ngoi lên mép hồ để tìm hơi thở. Nhiều nhất là cá tràu và cá trê chúng thi nhau cằn lên mép cỏ để sống. Chúng thực sự bị say thuốc súng không thể nào ở nán lại trong làn nước đã sặc mùi thuốc súng vừa rồi. Mấy con rạm con đam đều chung số phận chúng thi nhau bỏ nước bò lên.  Cả ba người hỉ hả thi nhau bắt cả bỏ vào mấy cái bao cát nylon xanh của Mỹ. 

Thật là một "CHIẾN CÔNG" lần đầu tiên trong đời người viết mới chứng kiến đối với loài cá. Những con cá thành hình từ ngày TÀN CUỘC CHIẾN trong mấy cái hố bom sau cái cảnh bom bay đạn lạc. Ngày tàn cuộc chiến, sau hai ba mùa mưa rơi rơi trên miền đất khổ. Nước hố bom đã định hình một cảnh sống tái sinh. Hố bom cũng là hồ cá cỏn con lẫn trong những vùng đồi hoang dại mà ngày xưa từng ầm vang tiếng bom rền đạn réo. Tôi có ngờ đâu cái cảnh SỤT CÁ HỐ BOM như ngày hôm đó lại mang lại niềm vui cho chúng tôi khi người tù được cá. 


Từ năm 1977 chúng tôi bị đi đày ra Thanh Hóa cho đến khi vào lại Ái Tử và vô Bình Điền thì mất tin ông Trầm. Có thể ông đã được về trước.  Cả nửa thế kỷ qua đi, chắc hẳn năm này ông chẳng còn trên cõi thế này nữa. Ông ngang lứa với ba mẹ tôi thì ắt hẳn đã về với những người "muôn năm cũ". Nhớ về ông tôi không bao giờ quên khói thuốc lá ngấy, cùng hình ảnh mấy cái hố bom bên bụi bờ lau lách đìu hiu cạnh trại tù Ái Tử  năm nào./.


Đinh trọng Phúc


nhớ trại 4 Ái Tử 


Saturday, June 6, 2026

NỖI BUỒN VIẾT và GIẤY


 

Theo năm tháng hoài mong
thư gửi đi mấy lần đợi hồi âm chưa thấy
em ơi nhớ rằng đây còn có anh đêm ngày
hằng thương nhớ vơi đầy
(Châu Kỳ/ Sao Chưa thấy Hồi Âm)




BẠN MẾN,
Có lúc nào chúng ta ngồi nhớ thương về một thời mực và giấy không? Cái thời chúng ta hay mua từng đồng mực viên hoà với nước rồi đựng trong cái chai nhỏ xong không quên "nhém" hay vặn thật kỹ. Có mực đồng nghĩa chúng ta đang học lớp ba lớp tư niềm hãnh diện này khiến chúng ta nâng niu những bình mực này chẳng khác chi báu vật? Làm sao chúng ta quên được hình ảnh xin mạ vài đồng rồi chạy ù ra cái quán đầu kiệt mua cho ra cái lưỡi viết rồi về nhà cắm vào cái cán viết. Nếu mua chưa ra cán, chúng ta cột tạm vào đầu cái đũa gãy hay cái que tre nào đó cũng xong.

Mua mực viên thì ta phân biệt mực tím hay mực xanh để o bán quán biết mà bán cho đúng. Bình mực không VITA còn sót lại chúng ta cũng dùng mãi tưởng như 'suốt đời' - ôi quý làm sao!



Ai đã qua cái thời học trò bé nhỏ khi đã vào những năm được dùng viết mực làm sao mà không nâng niu từng nét chữ. tiết kiệm từng giọt mực. Chúng ta vừa dùng giấy thấm cho khô vừa hít hà suýt xoa mỗi khi làm bình mực đổ. Rồi thời bình mực 'nhựa KHÔNG ĐỔ' ra đời, một lần nữa chúng ta quý nó làm sao



Hạnh phúc sao cho từng trang giấy sau giờ tập viết kèm theo những điểm 9 hay 10 màu đỏ đậm đà cùng lời khen của thầy cô. Từng giọt mực lập công. Rồi chúng ta thương cái cán viết những lúc nó nhịp nhàng lên xuống viết nên bao nét chữ dịu dàng lúc ngón tay cậu học trò nắn nót mải mê...

Bao cô, cậu học trò nay bước vào thời biết dùng viết máy. Hãnh diện làm sao khi ta bước vào trung học. Nam sinh trung học thật lòng vui sướng khi trên túi áo trái của mình lại "lấp ló" màu vàng óng ánh của cái nắp viết máy. Tuyệt đỉnh ước mơ là ngòi pilot; nắp vàng càng quý. Loại khá thì có viết máy parker, alpha... Những thứ viết máy thế kia chúng còn tiêu biểu cho một thời kỳ chúng ta khôn lớn lúc đang bước vào ngưỡng cửa trung học. Viết máy tiện lợi cho học trò trung học, vừa qua thời tiểu học - lớp ba lớp tư với ve lọ, mực viên cùng cái cán viết tòa, ôi chúng ta nhớ lại, sao mà "lạc hậu" quá đi.



Thời thế đổi thay vùn vụt. Ngày trước chắc hẳn chúng ta chẳng hề hình dung hình ảnh cuộc sống nói chung là xã hội hôm nay đang chạy đua với kỹ thuật số (digital) cùng "a còng" (@)". ..
Nhân viên bưu điện - các chú các cô chuyên ngồi đánh điện tín (giây thép) nay ngồi ngáp dài buồn cho công ăn việc nay chẳng còn thích hợp. 'Cảnh đợi cánh thư xanh người yêu từ phương trời xa sao thơ mộng quá. Hai kẻ yêu nhau ngày qua ngày ngóng bác bưu tá viên đầu ngõ quả thật không còn nếu có chăng nữa cũng thật hiếm hoi. Chúng ta hồi tưởng lại, phải chăng giây phút nhận lá thư xanh đó là lúc ta bỗng dưng thấy người đưa thư " hôm nay sao đáng yêu chi lạ". Ôi chỉ là hoài niệm một thời- chuyện đánh giây thép "tích tịch tè tè" các bác bưu tá viên sẽ mang các tờ điện tín khẩn cấp nào đó... bao hình ảnh thực sự chìm sâu vào quá khứ.



Các thế hệ đi sau làm sao chiêm nghiệm được cảm xúc và hình ảnh ngày đó như chúng ta từng có. Những thế hệ sau này còn gọi là "gen Z" hoàn toàn không có những cảm xúc vừa tả. Có thiệt thòi chăng cho những tâm hồn sinh ra và lớn lên trong thời kỹ thuật số, mọi thứ đều có các robot tin học tính toán, làm thay.
Tất cả đều biến mất trong thời đại điện toán.
Thế đó, thế gian biến đổi khôn lường không ai ngờ được. Chính chúng ta trong thời đại hôm nay chưa hẳn đã đoán được hình ảnh ngày mai, một ngày mai ra sao cho SỐ PHẬN VIẾT VÀ GIẤY?

Nhưng biết đâu mai đây thiên hạ sẽ có một ngày: ngày bạn cũng như tôi thèm muốn một lá thư xanh với đôi dòng chữ tự tay người viết lấy. Có thể bạn cho là chuyện "huyền thoại" đó thôi. Ai thân lắm thì sẽ hiện trong vài dòng mét xịt (message) trong cái Iphone đời mới thế là an ủi hay ấm lòng rồi!

Cái ngày đó sẽ có thật đó bạn ạ. Đó là khi thiên hạ lười viết. Ngón tay nay quen rồi khi chỉ biết gõ và bấm thôi. Những dòng "mét xịt" trong Iphone sẽ thay cho hàng chữ dịu dàng trìu mến trong lá thư xanh nào đó. Phong bì và những con tem không ai còn nhớ. Hình ảnh tờ giấy viết thư loại pelure màu xanh hi vọng hay hồng tình yêu sẽ không ai nhớ hay biết đến nữa! Đây là thời những con 'rô- bốt tin học' thay người trong viết và giấy cùng trao đổi tâm tư...

Chúng ta mong sao thấy lại một thời mực tím cùng đôi dòng tự tình trên trang vở. Những câu thơ ghi lại từ một bài thơ lãng mạn đa tình. Có bài thơ tình nào đó hay đến não lòng làm người ta phải nắn nót chép lại, e ấp cất dấu bên trong cuốn vở học trò hay cuốn sổ nhật ký ngày xanh...

Chúng ta đâu có những cảm giác bồi hồi xúc cảm của một ngày xưa, phút giây nhận được lá thư người thương yêu gửi qua bưu điện. Những lá thư có khi hàng tuần hay non cả tháng mới tay người nhận. Một thời đại phương tiện thông tin quả khó khăn và thiếu thốn. Một cảm xúc và trải nghiệm nho nhỏ nào đó dâng lên trong tâm hồn chúng ta, lớp người sống qua hai thời đại xưa mà không quá xưa và nay tức là kỹ nghệ Internet và kỹ thuật số phát triển như vũ bão.

Một khi trong tâm hồn chúng ta còn lắng đọng chút nào tâm tình hoài cổ, đó là khi bạn và tôi hay nhắc lại bao chuyện "ngày xửa ngày xưa", ắt hẳn không ai nỡ quên đi một thời VIẾT và GIẤY. Lãng mạn hơn một chút, chúng ta có thể gọi đây là Nỗi Buồn Bút Mực. Một nỗi buồn nào đó man mác dâng lên trong lòng khi những hình ảnh dễ thương đang chia tay chúng ta mãi mãi./.

Đinh trọng Phúc edit và
tái đăng

Friday, June 5, 2026

LÀM TÔ BÚN HUẾ TRỞ THÀNH "RẤT HUẾ"

  

"RẤT HUẾ" TỪ O BÚN BÒ GÁNH BẾN XE AN CỰU NGÀY XƯA

Chào bạn đọc

Lan man trên mạng FB nghe người ta khoe hình tô bún " Rất Huế" nhưng thú thật người viết khá thất vọng do khi nhìn lại kỹ thì tô bún "rất Huế" này chẳng khác chi tô phở tái nhỏ.  Có thể thời này chuyện ẩm thực ăn uống 

'tạp pí lù' ba miền trộn lẫn, nên mạnh ai nấy nói chẳng cần đúng sai là gì cả.


 "RẤT HUẾ" TỪ GÁNH BÚN XÁO BÁN RONG


gánh bún xáo, o bán hàng đang gánh ngang bến xe An Cựu 


Có thể ai đó cho rằng "rất Huế" phải là món ăn cầu kỳ cho giới quý tộc cung đình; nhưng nói "rất Huế" ở đây trước tiên chúng ta phải nhớ đến mấy gánh hàng rong của các o các mệ Huế hàng ngày kẻo kẹt gánh bán dọc theo mấy phố, mấy bến xe hay thậm chí trong mấy con kiệt nằm sâu hun hút trong Thành Nội.

Khi ta muốn nhắc đến mấy tô bún bò "rất Huế" này quý bạn phải ăn từ mấy gánh bún xáo của mấy o mới đúng gu. Nhớ làm sao! tay o vừa giở cái nắp của cái nồi nhôm tròn, miệng trên hơi hẹp thì mùi thơm nước xáo đã bốc lên nức mũi. Diễn tả sao cho hết hình ảnh thân quen của món bún xáo đặc trưng cho Huế. Trên cùng một màu nước xáo phi ớt màu đỏ trông bắt mắt, chen lẫn những miếng huyết cùng các tép sả đang nổi bập bềnh.  Khách ghiền ăn cay, nội nhìn lớp màng mỡ phi màu đỏ này tuy chưa ăn cũng có thứ cảm giác cay cay ở miệng rồi. Mấy cái tô ngày trước, vừa vặn để khách ăn tiện cầm ở tay. Đó là thứ tô  miệng lớn, đáy nhỏ. O bán hàng bỏ gọn một phẩn bún vừa phải, một tay còn lại nhẹ nhàng chao  phần nước màng ớt cố tìm cho ra vài ba miếng thịt bò bạng nhạng, một chút gân một chút huyết. Nhanh tay, o bỏ thêm trên một nhúm rau răm hành ngò thế là xong tô bún bình dân cho khách ngồi đợi. 




Ăn tô bún Huế "đúng điệu" như thế khách có thể xin thêm trái ớt cay của o đem theo. Mà không ăn cay thì không phải là dân sành ăn tô bún Huế đâu. Vừa và xong miếng bún xáo vào miệng, nhai nhồm nhoàm, khách vội đưa trái ớt cay kia vào miệng cắn "bụp". Vừa ăn vừa hít hà, nước mắt nước mũi ứa ra mới là ăn tô bún xáo. Không hít hà, không ra nước mắt, không 'thò lò' nước mũi thì có thể chưa phải là hình ảnh  ăn tô bún gánh. 




Chỗ ngồi, khách chẳng cần đầu xa; có thể chồm hỗm hai bên đường. Bên hiên nhà hay đầu con ngõ chổ nào o bún gánh tiện ngồi xuống là khách cứ tìm nơi thuận lợi gần o mà thưởng thức tô bún lúc này.

Lạ một điều, tô bún nho nhỏ sóng sánh chút nước mỡ đỏ bên trên nhưng nó rất hợp với rau răm cắt nhỏ. Bún xáo với thịt bò, gân bò loại hai loại ba rất hợp với nó. Thit loại này rẻ hơn loại thịt bò loại một nhưng lại thích hợp với bún gánh mấy o. 


RẤT HUẾ TỪ CÁCH ĂN TRÁI ỚT CAY XÈ



Bạn ăn hàng có thể cho lạ khi người viết dám "tuyên bố" như rứa? Phong cách ăn tô bún gánh đúng với các cụ mệ ngày xửa ngày xưa là "và" vào miệng miếng bún xáo xong cầm trái ớt dài dài loại "chìa vôi" xanh óng ánh đưa lên miệng cắn một miếng. Có thể cụ hay mệ suýt soa từ vị cay thơm của miếng ớt nhưng đó là thưởng thức chứ không phải than phiền. Ớt dài còn xanh và đến độ cứng, cay không chín đỏ mới là biết ăn cay khi ăn đọi bún xáo. 

Ớt cắt lát sẵn chỉ là tính toán cho nhanh và lợi ớt sau này thôi, chưa hẳn đúng "phong vị" ăn ớt của người ăn bún Huế đúng cách quý bạn ạ.


"RẤT HUẾ" TỪ TÔ BÚN BÒ GIÒ HEO Ở MẤY CÁI QUÁN CÓ TIẾNG LÂU NĂM




Ăn tô bún Huế chưa phải chỉ có mấy tô bún gánh không thôi. Quý bạn chắc hẳn phải nhắc đến mấy quán bún bò giò heo nữa mới đầy đủ.

 Người Huế không gọi là tiệm bún bò Huế mà là Quán Bún Bò Huế. Bún bò Huế đã bán ở quán rồi thì phải nói như thời nay là 'phải có đẳng cấp' tức là phải tô Bún Bò Giò Heo mới hợp cảnh, hợp tình.


Ngày xưa, Người Huế cũng có thành ngữ "đi kéo ghế" tức là đi ăn quán, ăn tiệm. Khách ăn có thể không còn là giới bình dân như người ăn tô bún gánh nữa mà là giới có tiền. Buổi sáng ra "kéo ghế" quán bún đầu ngõ, khách kêu một tô bún bò giò heo thì hiếm khi mà chê được. Khách có thể kêu tô bún không giò, ít tiền hơn. Nói thì dễ, nhưng chuyện ăn hàng đều đặn hằng sáng như thế quả hiếm. Thỉnh thoảng ra quán ăn tô bún giò mới thấy ngon hơn.


Bún ở quán tức nhiên là cố định. Tiếng lành đồn xa, bún có tiếng ngon thì khách ở xa cũng tìm tới ăn. Không bán suốt ngày mà đến gần trưa là hết. 


Tô bún bò Huế tại Huế như đã trình bày, thông thường là tô bún bò giò heo. Tiền nào của đó. Dĩ nhiên cái tô trong quán bây giờ to hơn. Quán nào sang một tí, thì tô bún được đặt trên chiếc dĩa hẳn hòi. Tô bún bò giò heo khác với tô bún gánh từ hình thức, đến hương vị. Nước xáo trong hơn ít có màu đỏ đậm như bún gánh. Một khoanh giò, hay nửa cái móng giò chính giữa. Cạnh bên khoanh giò là một hai lát thịt bò ngon và lớn hơn. Có thể có thêm một ít gân bò nhưng không bắt buộc. Tuy nhiên ít nhiều phải có một hai lát huyết. Không có lát huyết thì không nên gọi tô bún bò Huế.




 Đặc biệt tô bún bò giò heo cần ngò và hành chứ không cần rau răm cắt mịn nữa. Hành xanh còn gốc có thể chẻ đôi để dài. Bún bò giò heo không cần hành tây cắt lát, nó chỉ hợp cho cháo lòng mà thôi. Tô bún bò giò heo cắt chả lên trên mặt thì không đúng tô bún bò. Lý do vị ngon của nước xáo sẽ mất đi do chả đã có vị mặn riêng của nó rồi. Khi khách ăn vào miệng, giò heo và thịt bò cùng gân sẽ quyện lẫn với xáo bún mới giữ được hương vị của tô bún bò "Rất Huế".


Khách ăn nói theo thời nay là "đẳng cấp" hơn thì không ngại ngùng chi chuyện tô bún bò giò heo đắt tiền hơn. Khách chỉ cần ngon là được. Nước xáo thơm mùi xáo sả nhưng ít màng đỏ, miếng giò heo vừa béo vừa sần sật không quá dai. Miếng thịt bò ngọt bùi béo chen lẫn trong hương vị sả lẫn trong nước xáo. Thoang thoảng  mùi ruốc Huế  nhưng rất nhẹ nhàng chứ không nồng đậm như bún gánh nói trên. Khách có thể kêu ớt cay cắt lát. Tuy nhiên bên cạnh tô bún bò giò heo khi nào chủ quán cũng phục vụ thêm dĩa đu đủ chua ngọt cắt mỏng. Vào quán ăn bún bò Huế mà thiếu dĩa đu đủ chua ngọt thì như thiếu thốn chút gì. Chỉ vậy thôi, bún bò Huế cần ngò hành đầy đủ là được. Thứ rau phụ bên ngoài chỉ là ăn ghém. Rau sống bên ngoài nhiều là giai đoạn bún bò Huế đã trôi dạt hay pha với cách ăn trong nam lâu ngày mà ra.


Cái phong cách ăn tô bún tại quán không còn ngồi "chồm hỗm" nữa mà có ghế ngồi bên cạnh cái bàn nhỏ đàng hoàng. Bàn ăn trong quán bún Huế không rộng quá. Lớn lắm chỉ đủ cho bốn khách chứ không có thứ bàn ngồi tới mười người như thời nay.


Người viết cố gắng diễn tả tô bún bò giò heo ngày đó ra sao mới lột tả hết cái ngon của tô bún Huế. Bạn cũng chớ cho rằng nhiều thịt hay chế biến lạ hơn là ngon hay tự động cho là "rất Huế".  Thứ phong cách "rất Huế" từ tô bún xưa phải đi từ thứ hương vị đậm đà từ làn nước xáo của nồi bún bò Huế. Tác giả bài này thiết nghĩ sau này có làm theo cách mấy cũng không còn giống các mệ các o ngày xưa được.  Chớ có bỏ vào thật nhiều "bột ngọt" để tăng độ ngon của tô bún rồi cho là "Huế". Cách nêm nếm từ cách ướp  thịt xáo cho đến cách gia một ít ruốc Huế phải đúng cách và khéo léo mới tạo được thứ hương vị "rất Huế" của nồi bún bò Huế. 


Cái tô tại quán giờ đã lớn hơn. Khách không thể bưng và được nhưng có thể ăn chậm hơn. Rỉ rả cắn miếng giò heo sần sật, béo nhưng không dai quá. Thỉnh thoảng ghém một lát đu đủ chua. Miếng bún và làn nước xáo đậm đang thấm nhanh vào lưỡi, khách không quên cắn thêm miếng ớt trái cay nồng xông tận hốc mũi. Khách vừa ăn vừa cảm nhận được mùi thơm thoang thoảng của ngò, vị nồng của củ hành tươi vừa chẻ mỏng.

Ngày trước, các o hay các mệ người Huế hay nói ngon "ăn ngậm mà nghe"; trong đó ắt hẳn phải có mấy tô bún bò Huế. Từ tô bún gánh cho đến tô bún bò giò heo trong quán nó có cái hương vị rất riêng, đi đâu tôi cũng khó lòng tìm lại. Tô bún Huế ngày trước nó phải có cái gì đó làm cho tôi khó lòng diễn tả cho tận ý? Lý do đầu tiên do ẩm thực bây giờ pha trộn quá nhiều. Ăn tô bún Huế chưa hẳn phải nhiều thịt nhiều giò không thôi, mà phải có cái gì "rất Huế" ngày xưa./.


Tái đăng 

Đinh trọng Phúc 


SÀI GÒN XUÂN CỦA MIỀN NAM

Miền Nam, niềm vui chan chứa đêm mơ hồ Miền Nam, tình xuân sưởi ấm thêm đôi bờ Giờ đây mùa xuân đang xóa tan mây mờ Quên đi đau thương sầu n...