Tuesday, July 14, 2026

HỒI KÝ H.O: RA TRẠI (phần 1)

 

 


Tác giả- Đinh trọng Phúc


Về đây khi mái tóc còn xanh xanh.
Về đây với mầu gió ngày lang thang
Về đây xác hiu hắt lạnh lùng.
Ôi lãng du quay về điêu tàn...

 (Trở Về Mái Nhà Xưa lời Việt Phạm Duy)


            Trại Bình Điền, Huế 12-6-1980

        Làm sạch lại cái ba lô bạc phếch, tôi lật đật bỏ vào vài thứ phải mang theo hôm nay. Chỉ vài ba thứ gồm- bộ áo quần tù mới trại phát, tôi chưa bận lần nào, tất cả thư từ gia đình gửi, vài sợi dây dép lốp. Chừng ấy thôi tôi chẳng có gì để mang về. Tai như ù, miệng khản đặc, tôi lắp bắp nói với mấy anh bạn tù vừa được trại kêu tên ở lại.
-Anh cũng có tên, anh Quyết! anh Chuân nữa anh cũng có tên nữa!
....

bản đồ quân sự VNCH và Hoa Kỳ thời VN War -Căn Cứ Bastogne / Tây Nam Huế

    Làn sương mờ mịt trên đỉnh Bastogne ẩn hiện phía ngoài trại tù. Xung quanh còn dày đặc sương vào sáng sớm, giờ đi lao động. Trại gồm mười dãy nhà tranh song song. Những liếp nhà giữa hai lớp hàng rào cao bằng thép gai, phía trong còn đặt bùng nhùng 'concertina' của Mỹ. Cái chòi trước cổng cao nhất, trên đó có một công an áo vàng cầm sổ điểm danh. Từng đội tù lần lượt ra cổng ...

-Những anh có tên sau đây ...đứng qua một bên
-Nguyễn văn A
-Trần văn B
-Ngô văn Chuân
-Nguyễn văn Quyết
-Đinh trọng Phúc

...


Lỗ tai tôi như lùng bùng , tôi cố tin là mình nghe không lầm ?

-Có phải tên em khôn anh Quyết?
-Đúng rồi, tên em đó mà, cả tên anh nữa!

Anh Quyết đội trưởng, mấy người khác và tôi nhanh chóng đứng qua một bên. Những khuôn mặt nét căng thẳng. những người được gọi tên cố làm ra vẻ "nghiêm trang" nhưng thật ra ai cũng sướng "muốn điên"! Bao lần rồi, mỗi lần cán bộ trực đứng trên cái cổng kia đọc tên là có một đợt Trại cho tù về. Giờ tuy không nói ra nhưng ai cũng biết.

Các khối kia cũng vậy; mỗi khối có vài người bước ra khỏi hàng... Sáng nay không còn tiếng nói chuyện râm ran như mọi khi.
Ngoại trừ những người có tên đứng lại, còn tất cả lần lượt bước ra cổng tiếp tục đi làm. Những khối tù lần lượt bước xuống những bậc tầng cấp có chắn ngang bằng gỗ rừng, nét mặt họ đăm chiêu, tư lự...

-Ê nhớ để cái... lại cho tau nghe Q.!
-Ê mi bỏ cái ...cho tau nghe!

...

lon gô vật nấu giá trị và tiện dụng nhất trong đời tù "cải tạo"



Những người thiếu may mắn trong đợt này cố ngoái đầu dặn dò người về sáng nay những lời dặn dò như thế. Đó là những thứ cần dùng trong tù. Chiều nay khi họ về thì chúng tôi, những người được gọi tên sáng nay, đã rời Trại rồi.

 Cái kim may, đoạn chỉ, cái lon gô (sữa bột guigoz xưa), cái chén cơm, cái bi-đông nước, thậm chí cái bào sắn ra sợi ...mọi thứ đều là "bảo bối" trong tù.

Tôi sẽ để cái mũ đi rừng, cái gô đen lại cho thằng Thu nằm cạnh. Hắn dặn tôi thật kỹ trước khi bước ra cổng. Đầu hắn cứ ngoái nhìn lại, ánh mắt khẩn cầu. Nhà Thu ở Huế, tôi thì ở tận Bình Tuy nên hắn chẳng ai cần dặn nhau trước gì, lý do nếu ai về trước thì chẳng có cơ hội ghé được nhà của ai. Những người ra tù hôm nay đa số gốc Huế. Mấy đứa bạn mà tôi có thể nhắn nhe được về cho gia đình như Côn như Huấn, thì ra tù trước tại Ái Tử,Quảng Trị, sớm hơn mấy năm.


Bỏ vội cái gô và cái mũ vào cái ba lô của Thu phía trên sạp nằm, tôi  "chia gia tài" là giây phút này, tình bạn cũng thể hiện giây phút này. Kẻ về người ở, những cục đường, những lát khoai luộc, mấy thứ linh tinh tôi đều bỏ lại cho Thu. Tình cảm chân thành hay an ủi nhau ở phút này. Về và ở hay đồn đoán lao xao trong trại, không ai biết ai đi, ai ở, để nói chuyện, để nhắn trước. Cuộc chia tay không bao giờ được trại cho biết trước do an ninh hay này nọ?


 Tầng cấp bước lên những căn nhà cán bộ trước trại sao hôm nay tôi bước nhẹ hều. Bước chân lâng lâng sung sướng, cảm giác hơn năm năm tôi mới có. Trong phòng cán bộ đi ra, tôi là người được trại cho số tiền “lớn nhất”- ba mươi hai đồng bạc  do gia đình tôi ở tận Bình Tuy cách xa đây hơn một ngàn cây số! ($0.032 x 1000)


Tôi không nhớ có ngoái lại nhìn cái cổng, cái chòi gác cao của trại một lần cuối cùng hay không, ngoại trừ một hình ảnh tôi nhớ rõ, đó là anh 'tăng gia sản xuất' đứng tần ngần bên mấy luống rau xanh nhìn theo chúng tôi. Khỏi đoán, tôi biết anh đang nghĩ gì?


Thôi, xin giã từ mấy công việc lấy 'phân tù' trộn băm với lá rừng làm nguồn bón cây. Anh' tăng gia' kia còn mãi công việc 'chẳng đặng đừng'! hòa tưới 'phân người' lên mấy luống cải xanh đang mọc nhanh 'phơi phới'. Cũng giống toán thợ rèn làm ra cuốc rựa, ba 'lạng mỳ tươi 'bồi dưỡng ', đó là 'phần thưởng' của Trại tăng thêm cho họ trong ngày.


Giờ toán chúng tôi cất bước ra về. Tự do thoải mái-khó diễn tả nỗi háo hức bên trong mỗi người, nhưng tất cả đều chung một ý nôn nóng về nhà thật mau.


tờ giấy phép CA Hàm Tân tỉnh Thuận Hải cấp cho mẹ tôi nhưng may thay ngày đó tôi đã ra trại


MẤY ENG VỀ CHỊ CÓ ĐEN THÌ ĐỪNG CHÊ NGHE MẤY ENG!?


    Mấy trảng đồi đang phủ màu xanh của sắn Bình Điền. Bao công sức của người tù tạo dựng nay xin bỏ lại phía sau. Tước mắt chúng tôi hiện lên hình ảnh xóm làng kinh tế mới của dân mới lên vùng này. Người Huế lên đây không biết lúc nào? Họ lên lập nghiệp hay sao? cảm giác chúng tôi thật lạ! Ngày đó đây là rừng, nơi của chiến tranh, mịt mùng khói súng, "Mặt Trận Tây Nam Huế" hàng ngày tin chiến sự in đậm trên mặt báo Chính Luận, Sóng Thần, hay nghe qua đài BBC, VOA,. Chỉ sáu năm thôi tất cả đều đổi thay, như một giấc mơ, thật sự là mơ!

dân bị đẩy lên vùng "kinh tế mới" sau 1975

Những trảng đồi khai hoang bị đốt cháy nham nhở. Hai bên con đường đất đỏ vài cái quán tranh sơ sài. Phía sau lưng chúng tôi, trong xa kia là mấy trại tù. Những năm xa cách, không ngờ người dân cũng 'đổi đời' như chúng tôi cùng đáo sơn tầm thực. Tù thì trồng sắn, khoai, dân cũng chẳng khác gì, tất cả đều lên đây phá rừng trồng cây lương thực thay cho lúa gạo.


Chúng tôi không ai bảo ai, đều sà vào cái quán cơm bình dân bên đường trong lúc chờ xe đò từ Huế lên.


O bán cơm đon đả mời chào:


        -Rứa (thế) là sướng quá rồi mấy eng ơi , dưới nhà chắc mừng lắm hỉ!


Mấy anh và tôi dạ, dạ luôn miệng, thật lòng cảm tạ lời chúc mừng của o. Lạ gì! thấy chúng tôi, người dân biết ngay tù mới được tha. Nhiều lần như vậy rồi. O nhìn những chiếc áo vằn vện, sọc ngang, dọc ai mà chẳng đoán ra. Phải kể mấy cái ba- lô nữa, đủ hình dạng, nhưng tất cả đều nhẹ hều. "Gia tài" của tù đều bỏ lại cho bạn. Có gì quý đâu! ngoại trừ mang được tấm thân gầy gò, bệnh hoạn về với gia đình thôi.


            - Mấy eng ăn cơm cá dưa kho hỉ?


            -Mấy đồng rứa o?


Tôi chỉ hỏi giá, còn chọn lựa thì không. Giây phút đó, cơm là nhất trên đời và cũng là thứ hàng "độc nhất vô nhị" trong cái quán tranh ngày đó.


        -Hai đồng eng nờ !


"Thế là miềng (mình) còn 30 đồng còn đón xe hàng về Huế nữa," tôi thầm nghĩ.


Gần sáu năm trời, hôm nay tôi mới ăn tô cơm ngon nhất trên đời. Cơm trắng, o đơm khá đầy, cộng thêm hai con cá nục cùng mấy lát dưa hường, o kho thấm tháp làm sao! Vị giác của tôi lúc này đang "liên hoan" qua tài kho nấu của o bán hàng người Huế.  Bao tử người tù vừa ra trại sẵn sàng tiếp nhận những gì từ miệng, sau khi "thường thức", đưa xuống. Tất cả cử động của tôi đều thoải mái, không còn những lúc chần chừ lưỡng lự ...hình ảnh mới hôm qua- mấy củ khoai, khúc sắn phần ăn tối từng người tù phải cùng chia đều. Củ sắn chia xong, ăn nhanh thì sợ hết, tôi để dành một ít về đêm, đợi tiếng kẻng trại tù xong, tôi sẽ ăn dằn bụng trước khi đi ngủ.


 Hầu như mọi người đều có lộ phí và ăn tô cơm cá dưa kho của o bán hàng. Những cái đầu gật gù, những lời nói chuyện râm ran, những hẹn hò gặp nhau sau ngày về với gia đình. Chúng tôi không quên nhau- Ái Tử -Thanh Hóa cho tận Bình Điền, biết bao kỷ niệm buồn vui.


O bán cơm bận áo Bà Ba trắng
nhưng đã ố vàng do bụi đỏ Bình Điền và dãi dầu ngày tháng trên đó.  Tuy nước da sạm đi do nắng nóng và đất khai hoang nhưng không che hết cái "chất Huế" của o từ dưới thành phố lên. Dáng nhanh nhẹn, giọng mời ngọt ngào bao lâu nay O quen mua bán dưới Huế. Giờ lên đây, cũng bán mua, nhưng là hàng cơm và thức ăn bình dân hạp với dân nghèo, lam lủ với rẫy rừng, cuốc rựa...


            -Mấy eng về chị có đen thì đừng có chê nghe mấy eng!


Câu nói bất ngờ của o bán hàng làm chúng tôi, không ai bảo ai, đều ngước lên nhìn.


Có thể mấy năm trước O từng chứng kiến cảnh túng bấn của bao người vợ tù gian nan, tất tả ngược xuôi. Những người vợ, người mẹ hay con dâu này bán hết những cái gì bán được trong buổi giao thời. Từ vòng vàng, nhẫn cưới kỷ niệm, cái máy hát, rồi tủ bàn và áo quần nào còn đẹp, tất cả lần lượt “ra đi” do từ thiếu đói của bầy con, sau ngày ba chúng đi tù.


Trong nhóm, tôi là đứa em cấp bậc nhỏ nhất, lại độc thân. Tôi chưa hiểu "thấm thía" những cảm xúc bằng các anh, những người bao đêm quay quắt nhớ vợ thương con.


Mấy tô cơm hôm đó, O xúc đầy hơn, không tính toán. Mừng cho chúng tôi, o nói thật lòng. Năm tháng chịu đựng gian truân, thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần, những người vợ tù đáng quý biết bao! Sao mà chê "đen" được các chị ở nhà? Ngày tháng "thân cò lặn lội" gần xa, bao dặm đường gian nan tìm ra hạt gạo nuôi mẹ chồng nuôi con, phần lo bới xách cho chồng trên trại. Tôi không quên hình ảnh đoàn người thăm tù mỗi hai tháng, những người đàn bà nay quần thô áo vải, theo bước đi vội vàng, hai cái túi xách đu đưa hai đầu đòn gánh...


Chiếc xe hàng từ Huế lên rồi. Từ xa đám bụi vàng bốc cao. Chúng tôi trả tiền cho o bán cơm vừa khen, vừa cám ơn o về đọi cơm sao ngon quá. Ánh mắt o long lanh, những niềm vui hôm nay cùng nhau chan hòa. Vội vàng ra khỏi cái cái quán tranh, chúng tôi chạy vội tới chiếc xe đang dừng tại cái bãi đất trống dưới chân đồi. Vừa chạy, nhưng tai tôi tưởng chừng câu dặn dò của o bán cơm còn văng vẳng sau lưng...

    Mấy eng về chị có đen thì đừng có chê nghe mấy eng!

 

VỀ LẠI HUẾ XƯA





Khi tôi về, nhìn dân tôi ngỡ ngàng
Khi tôi về, nhìn quê hương điêu tàn
Nhìn tuổi thơ nghèo nàn, nuôi đời trong dối gian! (Con Đường Tôi về / Lê Tín Hương)


    Chiếc xe Bình Điền thả chúng tôi xuống gần Ga Huế thì trời chưa chiều lắm. Mấy anh em hối hả chia tay, xong tìm cách nhanh nhất về nhà.

    Tôi ngơ ngác ngó quanh. Mấy năm xa vắng cố đô giờ tôi nhìn lại, Huế có vẻ gì xác xơ và xa lạ! Cũng như các bạn khác từ rừng xanh về lại chốn thị thành, mới biết quê hưong chỉ vài năm mà tiều tụy đến não nề! Ga Huế im lìm trong cơn nắng tháng Sáu. Cửa cái bể, cái vá. Quanh nơi tôi đứng, vài ba cái quán đìu hiu trong gió, vài thẩu kẹo, năm ba nải chuối đu đưa.



Tiếng nài nỉ đi xe của mấy người xe đạp ôm đưa tôi về thực tại:

    - Đi xe khôn eng...? !
   -chú... chú ...đi xe cháu nì chú?!

    Nhìn quanh toàn là xe đạp, người viết không ngờ ngày về lại Huế nay trước mắt toàn là những chiếc xe méo mó, sét rỉ, không vẻ gì chắc chắn để làm chuyện chở người. Đến nỗi này sao? Người Huế giờ lại "sáng tạo" ra một cách làm ăn mà tôi chưa bao giờ thấy trước đây? Họ phải tận dụng hết sức lực "cơ bắp" của mình kiếm đồng tiền, bát gạo trong một xã hội ít ai còn tiền để đi? Họ phải "bấm bụng" giành giật miếng ăn từ mấy người xích- lô đạp bao năm nay, những chiếc xe lambretta, những chiếc xe đò hai màu xanh trắng!? Ngày xưa người ta cũng đi “xe ôm, xe thồ” nhưng tệ lắm là chiếc honda, nhấn ga là chạy “vù vù”, thế mà đã than khổ rồi?

    Tôi không biết từ chối hay nhận lời ai đây? Tôi ái ngại nhìn những ánh mắt cầu khẩn của mấy người đạp xe đạp ôm bằng tuổi em tôi. Những nét mắt chưa xóa đi nét vô tư và hồn nhiên của những ngày chỉ biết cắp sách đến trường, áo cơm thì có ba mạ lo, giờ thì chẳng còn chi!? Cũng may có thêm khách và tôi khỏi từ chối ai. Tôi chọn cuốc xe của một em đạp xe đạp ôm bằng tuổi em mình:

-Về Tây lộc mấy rứa?
-Chú cho 3 đồng à chú!

     Nhìn tôi, em đó cũng chẳng "nói thách" làm chi, chúng tôi là ... cải tạo mà! Xa Tây Lộc không biết mấy năm rồi.  Tôi vẫn nhớ nồi cháo gà thơm phức của mạ đích tôi,(ba và mẹ đẻ người viết ở Bình Tuy địa chỉ về nhà của tác giả) hồi đó nổi tiếng trong cái chợ mới xây, đặt tên là chợ Tây Lộc, kế đường Trần quốc Toản.

    Người thiếu niên gò lưng cố đạp qua cầu Sông Hương. Chiếc cầu mới xây sau này, giờ đó cũng nét “rêu phong, rệu rả”. Huế giờ này sao nhiều xe đạp quá đi thôi!? Tôi hơi lấn người tới trước như muốn mình được nhẹ bớt đi phần nào. Hỏi chuyện, tôi biết em đạp xe còn đi học nhưng phải kiếm thêm tiền về cho mạ. Em không biết cách gì để giúp gia đình nữa, phương tiện là chiếc xe đạp nhưng lại bon chen lắm mới kiếm ra người khách. Có khi cả ngày em mới được một "cuốc" xe chỉ đủ mua ba lon gạo!

    Xe đã vô cửa Thượng Tứ. Nó cứ rập rành qua mấy đoạn có ổ gà, ổ vịt. Tôi lại rướn người lên cho nhẹ bớt khi nghĩ đến cảnh cái ruột xe của em bị dằn qua mấy chỗ đá nhăm. Từ sau, tôi thấy áo trắng bạc màu của em đã lấm mồ hôi, hơi thở của em dồn dập, em ráng cho xong một đoạn đường nữa để có mấy đồng bạc Bắc mà tôi đã để sẵn mà trả cho em.

    Nhớ về quá khứ, đây đâu phải là lần đầu tôi được chở đi bằng xe đạp. Nhưng hồi đó là đi chơi,đi dạo mát vui thú cái tuổi thiếu niên sau những ngày học hành mệt nhọc. Giờ đây tôi là một gánh nặng cho một em mới lớn; em phải đổi sức lực của mình để kiếm vài lon gạo cho mẹ già và mấy em đang đợi ở nhà. Cái điệp khúc mệt mõi này lại kéo dài trong cái não nùng, buồn tủi, đợi mong.


NHỮNG ĐỒNG BẠC NGHĨA TÌNH


cho đến cuối thập niên 1980 xe đạp ôm vẫn phổ biến ở thành phố Huế (Đà nẵng cũng vậy)

    Khi em nhỏ đạp xe ôm tới ngang cống Tây Lộc, tôi vội nhảy xuống do Cống hơi dốc. Tôi trả ngay cho em 3 đồng bạc bắc tôi đã bỏ sẵn trong túi từ lâu. Nhìn theo dáng đạp xe vội vàng của em, lưng hơi cong, cái áo trắng nhàu nát, đẫm mổ hôi, tự nhiên tôi chạnh lòng thuơng cảm cho một thiếu niên người Huế, tuổi mới lớn lại gặp gian nan quá sớm. Tôi không biết em dùng 3 đồng đó làm gì? Kiếm khách thêm thì trời đã chiều. Ai đi đâu lúc này? thời buổi ngoài đường người đi bộ “đông hơn xe đạp”.

        -Ba lon gạo là cùng!

Tôi vừa đi vừa nghĩ thầm.

    Ngày đó “củi quế gạo châu”- vào năm 1980, người lớn tuổi chắc không ai quên. Vào cuối năm 1975 thời gian tôi đang ở tù tại Trại Ái Tử, mang một đồng “bạc bác” lén về được Chợ Hôm -cái chợ chiều 'chồm hổm' nhà quê gần sông Thạch Hãn xã Triệu Long, tôi mua được đúng "một lon" khoai khô. Tiền thời này, cao nhất là tờ bạc mười đồng màu đỏ trong khi gạo là 'thuốc bổ -sâm nhung '?


Lá thư nhà do thân phụ từ Bình Tuy gửi cho tôi ra tới trại tù Bình Điền nhận ngày 6/1/1980...một thời ngay cái phong bì gửi thư cũng hiếm nên ba tôi phải xếp tờ giấy làm phong bì con tem thì 12 hào

    Tôi thở dài quay bước tìm nhà mẹ đích tôi.(ba với mẹ đẻ tôi ở Bình Tuy nơi tôi sẽ về đó) Trước 1975, mẹ đích tôi được một căn trong Cư Xá Công Chức sát chợ Tây Lộc, nay đã bị Nhà Nước đuổi hết. Trong chợ ai mà không biết mẹ tôi - "Bà Cuơng nấu cháo gà ngon có tiếng"!

    Con đường nhỏ về phía phi trường Tây Lộc cũ dẫn tôi vào dãy nhà lụp xụp. Vừa thấy tôi vào nhà mẹ tôi quá mừng và bất ngờ nhưng không quên buông những câu nguyền rủa ai đã giam tôi quá lâu:

        -Quân chi ác ôn rứa?!...con người ta mới ra trường chuẩn úy mà giam chi giam ác tới 5-6 năm dữ rứa?!

    Anh em bây giờ tản mác vào tận miền Nam, chỉ còn đứa em gái ở lại với mẹ tôi vừa làm HTX thêu ren 'bữa đực bữa cái' vùa phụ nấu nồi cháo gà cho mẹ tôi lúc này. Tôi chỉ ở với mẹ tôi được một, hai đêm. Sau khi ăn uống no nê mẹ tôi moi hầu bao được mấy chục bạc cho tôi ra QT tìm bạn bè. Nhìn những đồng bạc một đồng hai đồng cũ nát cuốn tròn mẹ tôi lần ra từ cái 'ruột tượng' tôi như muốn khóc. Một ngày mẹ tôi buôn gánh bán bưng chỉ được năm mười đồng, nhưng giờ tôi thật sự cần tiền?

    Trước khi ra khỏi Bình Điền, 'Trại' cho tôi 32$ bạc. Trại tính theo giá nhà nước mỗi cây số '3,2 xu' [2] hay 0$032 nhân lên 1000 cây số ;than ôi, sự thật ngoài trại tù lại khác. Mọi thứ đều thiếu từ vải vóc, gạo dầu, cho đến cái vé xe chỉ ưu tiên cho cán bộ và “tiêu chuẩn hoá” nên tất cả đều chỉ có sẵn tại 'chợ đen" mà thôi. Còn hai muơi mấy đồng có gắng lắm đến Đà Nẵng là cùng. Đây là lý do tôi phải 'bấm bụng' lấy mấy chục bạc lao khó từ tay mẹ già, từ công lao em Hoà, phải thức sớm làm gà phụ nồi cháo cho mẹ, vừa thêu ren mỗi tháng ròng rã chỉ vài chục bạc.

VỀ LẠI QUẢNG TRỊ

    Chiếc xe hàng thả tôi giữa đường quốc lộ gần Cầu Ga. Tôi theo con đường Hồ đắc Hanh cũ về lại xã Hải Trí. Nguyễn văn Bốn, thiếu uý BĐQ 'học tập' trong Đà Nẵng, ra tù sau 15 tháng. Bạn tôi giờ chạy xe hàng với ba hắn, nhưng hắn gọi ba là chú do kiêng khi ba của Bốn tên là BA!

    Thành Cổ tan tành nên nhà Bốn về "định cư" gần ngã tư Quang Trung -Hồ đắc Hanh. Vùng này bà con còn gọi là Hải Trí. Gia đình bạn tôi chạy xe nên thuộc tầng lớp khá giả hơn, dù xe đò bị vào "hợp tác xã xe khách" từ lâu.

    Bốn ra tù sớm hơn nên đã lấy vợ. Gia đình Mai, vợ Bốn trước đó cùng ở đường Duy Tân. Mẹ Mai là một đạo hữu rất siêng năng công quả nhất với chùa Tỉnh Hội năm xưa thời Thầy Thích Chánh Trực trụ trì. Tôi và Bốn là hai đứa bạn thân trong xóm Cửa Hậu (Cửa Hậu là một cửa của Thành Cổ: Tiền-Hậu-Tả-Hữu). Tội nghiệp, cái xóm đó giờ người ngoài kia vào ...bắt đầu xây dựng lấy hết đất. Bà con về lại như nhà Bốn biết ở với ai, nên đành bỏ cuộc. Hơn nữa, biết ai giúp đòi lại? Bà con thôn xóm ngày xưa sống dọc theo con đường Lê văn Duyệt, tản mác tứ phuơng. Kẻ ở trong nam, người tận khu thị tứ Đông Hà. Sau 1975, khu Thị Tứ Hải Lăng xem như 'xoá sổ', bà con xóm Cửa Hậu, đường Lê v Duyệt - Duy Tân thêm một lần nữa tản mạn vô nam hay 'hồi cư'  ra lại vùng này hay về làng.

    Chuyện hồi cư lần một, nói cho dễ hiểu là hồi cư sau 1973. Năm này bà con ra ở quanh cồn cát Diên Sanh dối diện TKQT- tạm gọi là "Khu Thị Tứ". Đợt hồi cư thứ hai (1975) là cuộc “đổi đời” sâu đậm nhất: ngoài trừ người 'ra đi miên viễn'; còn lại thì vượt biên, vào nam, ra tận Đông Hà buôn bán làm ăn. Còn một số như gia đình của Bốn không về lại cái xóm Cửa Hậu thân yêu đó mà trú ngụ bên đường Hồ đắc Hanh hay Hải Trí.

    Cho đến hôm nay tôi mới có dịp viết lên đôi dòng cảm tác về tình bằng hữu giữa hai đứa bạn thân nhau từ thuở mới 'sinh ra đời'.

Sau khi ăn uống no nê, gặp gỡ chú thím Ba- ba mẹ Bốn- hôm sau Bốn dắt tôi ra tận Đông Hà; Một lần nữa, hai chúng tôi xăm xoi trong khu thị tứ mới của Đông Hà sau 1975 để tìm bà con xóm Cửa Hậu.

năm 2022 người bạn thân Nguyễn văn Bốn từ Sài Gòn về lại thăm xóm xưa đang ngồi trước di tích điêu tàn Cửa Hậu Thành Cổ

    Hình ảnh bà con trong xóm ngày nào giờ đang trở lại...Nào hai gia đình dì của Bốn: dì Nậy, dì Giỏ đều là chủ xe đò nhưng nay đã vào hợp tác xã. Nhà Trần Tài (em út của cac anh Tước , Xê -Tước- Tiết,  và O Bê) và nhiều người nữa. Gặp tôi về ai cũng thuơng, ai cũng mừng. Bạn đọc tha lỗi cho cái tội nói về mình; xưa, trong xóm Cửa Hậu ai cũng thuơng tôi.
                       Đông Hà 1975-1980

    Nhắc lại bà con tản mạn ra đây, Đông Hà, ai cũng bảo tôi ở lại nhưng lòng tôi như 'lửa đốt'. Tôi nôn nóng về nam. Gia đình trong Bình Tuy đang ngóng tin tôi từng giờ. Tình cảm mẹ tôi tại Tây Lộc, từ bạn bè, bà con lối xóm giúp tôi gần ba trăm đồng bạc bắc cho tôi làm lộ phí vào nam. Số tiến này lúc này không phải là ít. 

    Đón chiếc xe hàng vào Huế, giã từ Đông Hà mắt tôi còn ghi lại hình ảnh cái quán ăn lụp xụp mang tên Đường Ký, một thời là một tiệm ăn Tàu lớn bên Phố QT. Lọt đuợc vào lòng chiếc xe 'gió', lòng tôi chua xót cho thời thế 'vật đổi sao dời”...

còn tiếp 



HỒI KÝ H.O: TÔI ĐI CHẠY BÀN

 









 TIỆM PHỞ 909 tại TP Milpitas California --JOB CHẠY BẢN CŨNG LÀ CÔNG VIỆC ĐẦU TIÊN CỦA TÔI TẠI XỨ MỸ 
tháng 9 năm 1995 (chiếc xe cạnh là của khách, thời đó tôi chỉ đi bộ ra làm thôi chưa có xe)
   

    Gia đình tôi được đi định cư tại Hoa kỳ vào năm 1995. Đi năm này so chẳng sớm gì so với những người đi trước. 

Số H.O sau này đi trễ cũng có lý do nhưng phần đông sống tại vùng nương rẫy, ít ai có điều kiện bằng kẻ sống tại thành phố.  Số HO nói sau này, như gia đình người kể đây  chẳng hạn, khi ra đi phải "tòn ten" dính theo số nợ! Ngoài một số họ sống thành phố, đa phần những người sau ngày tù "cải tạo" về đều mịt mờ đời sống nơi vùng nương rẫy, kiếp "phó thường dân" làm gì có điều kiện ra đi nhanh được? Do vậy, phải làm sao "có tiền để ra đi. Ngoài ra,  người đi ai cũng mang theo bao nhiêu lời hứa hẹn do bà con ai cũng khổ cả?! Tâm lí ngày đó là vậy, là một sự thật khi "thời thế" đang thay đổi sang một chương mới, giao thương đổi mới bắt đầu hé dạng...người viết nhớ không lầm đó là thời của ông Võ văn Kiệt.

cậu tôi Võ Bình đón gia đình cháu tại phi trường SFO trưa 2/8/1995

    Phi cơ đáp xuống phi trường SFO trưa 2 tháng 8, 1995 vợ chồng tôi cùng bầy con dại năm đứa mới hoàn hồn, như tỉnh mộng. Chỉ vài tuần sau khi có được vài thứ giấy tờ cần yếu đầu tiên, vợ tôi thì lo giữ con còn công việc đầu tiên của người kể chuyện là đi học Anh văn ESL (English as Second Language)  tại các trung tâm giáo dục người lớn (MILPITAS ADULT SCHOOL) kiếm vài ba chữ. Thế mà cái đầu sao lại khó "nạp". Ngồi trong lớp gặp toàn đồng huơng, cô giáo người Mỹ lại hiền, nên chúng tôi thuờng hay "nói chuyện". Chuyện là gì? Thường chúng tôi hay nhắc đến chuyện bên quê nhà thay vì gắng nghe hay học kiếm đôi ba chữ vào đầu. Cô thầy người Mỹ dạy ở đây, họ thông cảm hoàn cảnh chúng tôi, nên không khắt khe gì trong việc học tiếng Anh. Nói với thầy cô thì chúng tôi hay nói bằng... tay! có nghĩa rằng  "ra dấu" phần nhiều. Trong trí óc chúng tôi luôn luôn nghĩ về hình ảnh người thân bên nhà. Cha mẹ, em út cùng bao nhiêu chuyện làng nước ông bà. Cuối cùng có cái chuyện không bao giờ tôi quên là ...NỢ!

Giống như đoạn trên, tôi phải ưu tiên chuyện kiếm ra đồng bạc xứ người và giải quyết những thứ tự cần yếu lúc ra đi? Những trăn trở đó làm sao cho đầu óc tôi an bình để "học chữ" đây? Ôi sau thời gian tù tội rồi mười lăm năm mịt mùng nương rẫy, một thời xuân trẻ chôn vùi nơi chốn đói khổ khát khao cho đến lúc được bàn tay "bao dung" nước người đón nhận thì lòng tôi lại cứ bị thôi thúc từ bổn phận hiện tại với vợ con cùng bao lời hứa hẹn với "trời quê nhà" xa tận nửa vòng trái đất?!

   Dầu sao, điều người viết  đáng viết đầu tiên rằng: chúng tôi phải biết cám ơn nước Mỹ hảo tâm đã có nhiều cách giúp đỡ bà con sang định cư nơi quê huơng mới, trong đó có gia đình vợ chồng tôi. Chính phủ nước này không bao giờ phó mặc nhà tôi cùng bầy con  dại.

  
 TIỆM PHỞ 909 một tiệm ăn gần nhà là "mục tiêu' cho tôi nhắm tới

    -Học không học thì  thôi, ta đi kiếm tiền đã!
 
  Bụng bảo dạ thế, nhưng thú thật với bạn đọc trong lòng tôi hơi ...run. Những ấn tượng, mặc cảm tuần trước khi ông bạn H.O (anh Lữ phúc Cam đã quá vãng 2023) cho con chở giúp tôi tới một tiệm fastfood- tức bán thức ăn nhanh (Dakao Sandwich). Hình ảnh người chủ, nhỏ tuổi hơn, lừ lừ nhìn tôi từ đầu xuống chân? Coi bộ anh ta chê tôi "ôm yếu và lớn tuổi" nên từ chối khéo:

    - Hẹn về nhà... gọi sau!?

  Bữa đó tôi đánh liều bỏ cái lớp ESL đi thẳng vào tiệm 909 nói trên. MỘt anh chàng to mập tưởng tôi là khách, chạy vội đến, mời vào bàn.

 Tôi làm bộ giở tờ báo Việt ngữ lên:

   -Không, tôi xin tờ báo mà anh!

Sự thật làm gì tôi dám "kéo ghế" ăn 1 tô phở vào thời gian này!?

   Tôi đánh liều hỏi thử, tuy trong lòng tôi chẳng mấy hi vọng:

      -Đây cần người làm không anh Hai?

   Anh ta trả lời ngay:

    -A có!  anh cần làm không ? bà chủ đang cần một chân chạy bàn (waiter) mấy hôm nay đây.

   Ôi chao! tôi không tin vào tai mình? Nói sao hết nỗi mừng của tôi lúc này.

 Bà chủ giọng Bắc , cùng tiếng nói với người chồng. Cái lợi điểm cho tôi không ngờ tới : người chồng nghe tôi là H.O nên bằng lòng ngay do ông cũng là sĩ quan VNCH nhưng nhờ "vượt biên" sớm và làm ăn thành công.

      minh họa: Chiếc xe đẩy của tôi trong tiệm 909 

   Tôi được cho làm "part time" bán thời gian tức là nửa ngày nhằm thử sức ra sao? Làm nửa ngày có nghĩa là gần trưa, vào giờ "lunch", tiệm đông khách, tôi tới phụ dọn bàn.  

    Giờ người viết miêu tả sơ chiếc xe đẩy của tôi ra sao trong tiệm. Thật ra lần đầu trong đời khi sang đây tôi mới thấy chiếc xe đó. Phần sau xe luôn đèo theo một cái thùng, tôi sẽ đổ tất cả thức ăn thừa vào. Tầng trên đựng tô chén. Tầng dưới gồm hai cái thùng dựng bao nhiêu là thứ linh tinh- ly, phin cà phê v. v.. 

Vấn đề chính yếu là tôi phải dọn thật nhanh! 

   Thời này các hãng xưởng tại San Jose đang lên "như diều gặp gió". Những năm này ông Bill Clinton đang làm tổng thống, kinh tế Mỹ nói chung sung mãn, ngân quỹ Hoa kỳ dư dật. Hãng xưởng thời đó coi bộ rất đông công nhân người Việt.  Giờ trưa họ ra cái tiệm phở 909 ăn "lớp trong lớp ngoài". Cao điểm giờ trưa khi nào cũng có người "get line" chờ ngoài cửa.  Họ kiên nhẫn chờ tôi chùi sạch bàn xong mới được waiter mời vào. Bàn này dọn chưa xong thì bàn khác đang chờ. Chiếc xe đẩy của tôi tha hồ "tung hoành" còn tôi thì "tả xung hữu đột" chẳng khác chi "vị tướng" ngày xưa trên trận mạc không bằng?! Tướng ngày xưa ngồi trên mình ngựa, tay cầm trường đao, còn thân phận tôi lúc này tuy "tả xung hữu đột" nhưng "địch quân" của tôi chỉ là "tô chén...khách ăn xong"?!

tiệm 909 ngày đó nổi tiếng món Bánh Xèo


 Giờ đông khách, thân tôi vật lộn trong cái tiệm chật hẹp, dần dà trong người thật sự ngấm mệt. Lỗ tai "muốn phun khói " đến nơi! Hai con mắt chẳng còn đâu một giây  để liếc xem cái đồng hồ treo trước cửa vào bếp. Thực vậy, mục tiêu của đôi mắt tôi là tô chén ăn xong, những đồng tiền "típ" khách cho, bỏ trên bàn phải thu nhanh vào cái lon trà không, đầy lon thì lo đem cho bà chủ. Bao thức ăn thừa đổ vào cái thùng trước xe. Thời gian đó, thật lòng tôi lấy làm tiếc cho những con gà con chiên vàng hươm khách ăn chỉ một nửa, những tô phở không hết, mấy dĩa cơm trắng ngần cũng chỉ vơi phần nào...

     - Ai đời? thật phí của trời, thiên hạ đang đói !?

Đúng vậy, tâm lý của một người vừa giã từ vùng đất khổ khoai sắn thế cơm thì làm sao tránh được sự tiếc rẽ như thế.


hình cũ bên nhà: ngày tết các ông 'phó nhòm' xã Tân Thiện đi chụp dạo vùng kinh tế mới như nơi tôi ở. Tết 1992 có được một hình kỷ niệm chuồng heo  (hình phó nhòm Đinh Hữu Thư Cam Bình Hàm Tân)

  Tôi chợt nhớ lại cái chuồng heo, bao ngày lận đận bên nhà...đó là con heo nái vợ chồng tôi nuôi. Những con heo ăn toàn rau và xác khoai mì, cùng muối, ít khi có được cá:

     -Ui chà! hồi đó có bao thứ dư ni cho heo mình ăn hè?!

  Tôi chỉ nghĩ  thoáng qua thôi, do hai chân phải hoạt động nhanh, lui tới, qua lại, đẩy xe qua bên này dọn nhanh bàn bên kia trong khi khách đang ăn, ồn ào náo nhiệt. Vừa dọn bàn, nhưng tôi phải khéo léo với khách. Thỉnh thoảng tôi còn bỏ xe chạy vào lấy vài thứ cho hai ba người khách "khó tánh" nào đó đòi hỏi, cằn nhằn?...nào phở nguội, rau chưa sạch, nào thêm đá, chế bình trà vv

  Tội nghiệp thân tôi, lúc nào tôi cũng xin cô giáo người Mỹ dạy lớp ESL ngày đó ra sớm mười lăm phút, xong tôi hộc tốc chạy qua tiệm phở thì vừa lúc khách ào ào vô! Hơn 3 giờ chiều tôi ra về với điều kiện phải chùi xong sàn nhà.  Bữa cơm trưa của tôi cũng mấp mé gần hơn 3 giờ. Về nhà cơm tối tôi chẳng muốn ăn do quá mệt.

***

    Chỉ qua một thời gian ngắn, ông chủ để ý thấy tôi làm siêng năng... Siêng ở đây là không bao giờ dám đứng. Hết chùi bàn thì lại, bỏ thêm giấy lau miệng vào những cái hộp sắt tây , hay chêm thêm tương ớt. Mệt quá tôi chẳng cần gì học hành nữa. 

        Thôi ta nghỉ quách! 

    Nghỉ quách tức là quyết định dứt khoát, bỏ cái lớp người lớn ESL cạnh nhà vào "miền dĩ vãng". Cần tiền ! mà tiên đây là tiền mặt (cash) chính phủ chẳng biết, mà họ chẳng cần biết vì họ "thừa biết ". Chính phủ "du di" cho ba "thằng nghèo" như tôi có thêm chút đỉnh tiền mặt, "không khai báo" cho đời bớt khổ, chứ giàu có gì cho lắm đâu.

          Số người viết thật may mắn! 

    Không biết may hay nhờ siêng năng? Sau khoảng một tháng làm bán thời gian, tôi được ông bà chủ cho làm "full time" tức toàn thời gian.

    Tôi chinh thức lên được chức "waiter"! ôi "hách" chưa? waiter có nghĩa là đứng ghi order của khách . Việc chùi bàn, có thằng Mễ mười mấy tuổi vào thay. Thằng nhỏ người Mễ  nó là thanh niên tức nhiên à  mạnh hơn tôi thiệt! hết chùi bàn nó chạy lui sau bếp lo phụ clean (chùi) song chảo. Chuyện song chảo không phải dễ vì thợ bếp nấu xào liên tục, và lại chùi rửa liên tu bất tận, phải có sức mới chùi nổi. Sức nó còn đảm nhiệm việc chùi nhà, sạch restroom nói chung nó không có cái "đặc ân" mang cái tạp- dề đen cùng sơ mi trắng, quần đen dài đứng ghi order như chúng tôi.



    Trở lại việc waiter của tôi. Thời buổi này khoảng 1996 kinh tế vùng Silicon Valley này là trung tâm điện tử và điện toán thế giới. Cái hãng Solectron điện tử gần tiệm tôi làm có nhiều dãy building, nhân công toàn người VN. Họ hay 'sà qua' tiệm tôi ăn trưa. Thứ Sáu sau khi lảnh lương họ vào tiệm này ăn bánh xèo. Bánh xèo 909 tiệm tôi nổi tiếng trong vùng, được xem là "độc nhất vô nhị". Khách ăn bánh xèo càng lúc càng đông nhất là ngày cuối tuần. Hai ngày weekend rõ ràng mấy người waiter chúng tôi lấy order cho khách muốn "bù đầu bốc khói" đến nơi. Kỷ niệm chạy bàn ở đây tôi không quên được hình ảnh một toán ăn gia đình vào ăn bánh xèo ngày đó. Khách quá đông, tôi vừa lấy order bàn này vội đem ngay vào nhà bếp. Sự mệt mỏi rõ ràng đang đến thân tôi như "tẩu hỏa nhập ma" trong cuốn truyện kiếm hiệp năm xưa thay vì đem order vào ngay cho nhà bếp, tôi bị chi phối bởi những nơi khác nên hoảng loạn bỏ luôn cái order ghi xong vào túi tạp dề trước bụng thay vì vào dán trong bếp cho các bà bếp đổ bánh xèo? Ba cái bàn tiếp nhau cùng hơn hai chục người khách ngồi đợi ...bánh xèo "dài cả cổ"? Khách bàn khác ăn xong ra về rồi, nhưng cả đại gia đình kia ngồi đợi mãi? Bánh xèo đâu? cái order nó bị quên nằm trong tạp dề tôi rồi?!
Thế là cả ba bàn đồng đứng dậy bỏ ra về? Nhà bếp phân bua do không có order treo dưới đó? Tôi cứ cãi và "đoan quyết"  họ làm rơi hay quên? Tối về, tôi chợt lạnh người khi khám phá ra tờ order tôi ghi cho đại gia đình đó nó nằm trong góc tạp dề của tôi?! lòng tôi khá hối hận và nhớ mãi hình ảnh một bàn dài khách đứng dậy bỏ đi, những khuôn mặt bất mãn, thất vọng...

   Trở lại chuyện bưng phở...

Vừa lấy order của khách, tôi vừa có nhiệm vụ bưng phở. Phải học thuộc vị trí số bàn theo bill mà bưng ra. Ngoài ra, người kể chuyện này phải học thuộc số của loại tô phở, món ăn...ví dụ khách kêu trong menu một số 1 một số 4 và một số 5 tức là một tô phở lớn, một tô đặc biệt và một tô phở đặc biệt vừa. Đó là chưa kể phải thuộc mấy món cơm, bò kho bánh cuốn xào khác nữa...

    Nhớ hình ảnh, mấy tô phở ở xứ này sao lớn quá?! Người viết phải ví von tô phở đó lớn đến nỗi "vịt lội còn được". Nhưng cái mâm rộng hình chữ nhật mỗi lần người waiter bưng ra sắp đầy tới năm, sáu tô- nặng ơi là nặng!

Người kể muốn diễn tả lại bao nhiêu hình ảnh lao xao, ồn ào trong một tiệm ăn đông khách ngày đó. Đó cũng là một thời gian kinh tế phát đạt của những năm gần tới cái đích năm 2000. Đó là thời kỳ có nhiều tiệm ăn Việt Nam phát đạt đi lên cùng với nền kinh tế thịnh vượng của vùng Silicon Valley, từng mang danh là Thung Lũng Điện Toán. 

  Cái điệp khúc lấy order, đem nhanh vào, bưng phở ra, mắt ngó láo liên coi ngoài cửa có khách đứng chờ hay không, mời vào bàn, không được quên đem tới bàn cuốn menu cho khách chọn món. Một waiter tốt trong tiệm này có nghĩa chân không bao giờ đi "thủng thẳng" mà cũng không đồng nghĩa với chạy "vùn vụt"?!... Động tác đôi chân của người làm trong tiệm, những waiter ai cũng giống nhau,  khi nào cũng phải "thoăn thoắt", miệng  không bao giờ ngơi:

- Nước sôi! nước sôi ! tránh ...tránh!

 Đó là lúc tôi bưng phở ra. Xong, tôi tức tốc nhiệm vụ waiter không thừa một giây nào:

-Dạ thưa, ông lấy order chưa ạ?
- Bàn số...thêm ly nước chanh, bàn...3 ly đá lạnh, bàn...thêm dĩa giá trụng
(luộc) ...


  Người viết chẳng hề có thì giờ để liếc lên cái đồng hồ. Mà coi giờ làm gì ! "khách hàng là Thượng Đế ",  phục vụ khách và bưng phở là chính, ăn trưa cho mình  tính sau . Khi nào hết khách trưa thì cùng nhau chùi cho xong sàn nhà và thay phiên nhau ăn. Khi ăn cũng phải ngó ra cửa xem chừng có khách vào hay không? Ăn trưa phải nhanh kẻo khách tối đang vào. Đó là những gì tạo cho những ông bạn cũng HO nhưng tự ái lại CAO! vào đó làm waiter, hay phụ bếp chùi soong chỉ một bữa và "đầu hàng" bỏ về? Có ông bạn cùng đi từ miền đất khổ, qua trước người kể hơn một năm cũng vào một tiệm ăn Việt, được giao trách nhiệm chùi song chỉ đúng MỘT ngày anh quăng hết ra về! Tiệm 909 này, có ông bạn tuổi bằng tôi được giới thiệu vô làm lại được giao phó "chùi song" cũng đúng MỘT ngày?!  Số tôi may không được giao phó phụ bếp chùi song mà lên ngay làm "waiter" ghi order cho khách. Nghĩ lại số song chảo dưới bếp chùi liên tục, cái chảo này xong, lo chùi ngay để thợ bếp làm món khác, rồi cái song kia chảo nọ tiệm có cả trăm món ăn, phải có sức mạnh mới làm nổi?!

tiệm 909 ở TP Milpitas nay không còn nữa, hai ông bà chủ sau 30 năm hơn người viết đã mất liên lạc


Số tôi may hay ông bà chủ chấm "ngoại hình" nên ưu tiên cho tôi làm waiter đứng lấy order cho khách? Tôi không hiểu, nhưng giá tôi được cho xuống phụ chùi song dưới bếp, làm liên tu bất tận thế kia? cộng thêm không khí nóng dưới đó có thể người viết không đoan chắc có "chịu" nổi không? Gần sáu năm đói ăn trong trại "tù cải tạo" về lại vùng nương rẫy gần mười lăm năm thiếu thốn ...ngày ra đi xứ Mỹ với thân thể ốm o hao gầy của một chiến bại binh cùng một tiều phu "bất đắc chí" nơi khoai thừa cơm thiếu có thể được lên lấy order cho khách hay làm waiter là sự ưu tiên của ông bà chủ đó rồi. 

     Đoạn trên là hình ảnh người kể miêu tả cho bạn đọc tưởng tượng ra trong giờ ăn trưa. Nhưng vào hai ngày weekend thì sao? Không thể nào nói hết "cái mệt của thân này" trong khi thiên hạ có thì giờ rảnh rỗi đi "enjoy" vào hai ngày cuối tuần. Cũng phải thôi! họ làm việc cả tuần mệt mỏi, căng thẳng trong hãng xưởng, công ty, đây là lúc họ cùng gia đình đi ăn tiệm chứ! Nhất là khi tiệm tôi nổi tiếng với món "BÁNH XÈO"!  Cũng là bánh khoái, nhưng cái bánh xèo tiệm tôi làm to hơn. Khách thường kêu một cái cho mỗi người là đủ. Hai ngày cuối tuần là hai ngày tiệm đông khách nhất. Từ ông bà chủ cho đến người làm đều làm việc phục vụ rất căng thẳng, phải nói là mệt "bù đầu"! nhưng bù lại tiền vô ào ào! tiền "típ" cũng đầy ắp cái lon làm mọi người ai cũng không quản mệt nhọc muốn hụt hơi trong người.

       Lao động kiếm đồng tiền mặt của người VN, cho tiệm VN, là vậy. Phải làm "xịt khói" từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối , còn thâm của chúng tôi gần nửa tiếng vì dọn dẹp mà ra về.

    Khu apartment gia đình tôi thuê gần tiệm phở tôi làm. Thời gian này tôi chưa có xe mà chẳng cần xe làm gì do tôi chỉ đi bộ tới làm thôi. Có nhiều đêm vợ tôi dẫn mấy đứa con ra thăm nói đúng ra là xem tôi làm ra sao? Tôi chẳng biết có vợ con đứng ngoài cửa kiếng. Vợ tôi chỉ cho các con xem ba chúng làm lụng khổ cực ra sao? Dĩ nhiên tôi chẳng hay biết rằng có vợ con đang đứng ngoài cái cửa kiếng lớn ngoài tiệm nhìn vào.  Sau này nhờ vợ tôi kể lại, tôi mới hay. Tôi thật sự cảm động do biết vợ mình lo lắng sức khỏe cho tôi. Nhưng dù tôi làm lụng cực khổ ra sao cũng không bằng trách nhiệm vợ mình phải hàng ngày chăm lo miếng ăn cái mặc cho bầy con nhỏ năm đứa!? Một ước mong thầm kín trong lòng: Biết đâu nhờ hình ảnh đó, mai mốt đàn con hai vợ chồng tôi sẽ chăm lo học hành tấn tới cũng nên!?

    Dù sao chăng nữa, tôi cũng cám ơn tiệm Việt Nam, quán VN nơi xứ lạ quê người. Nhờ vào kinh tế xứ Mỹ đang lên mới có công ăn việc làm cho những người cần việc- cần tiền như chúng tôi lúc đó. Từ những chịu khó và siêng năng, làm tiền mặt giải quyết cho những người đi định cư xứ người với tình trạng vô nghề, vô nghiệp, chưa được hòa nhập vào xã hội mới. Làm người ta biết quý trọng đồng bạc hay ý nghĩa hơn, làm người ta biết thương những ai lao động chân tay. 

     Ngồi kể chuyện ngày đầu qua Mỹ, ngó vậy mà đã ngót hơn ba mươi năm xa xứ! Thời gian vùn vụt trôi nhanh, chẳng trách gì nay vợ chồng tôi đà lưng còng tóc bạc. Hình ảnh ngày đầu nơi quê hương mới Hoa Kỳ qua hơn ba thập niên vẫn mãi trong trí nhớ chúng tôi; đó là chuỗi tháng ngày xa quê cùng lạ lẫm đủ thứ với những ước mong và lận đận khó quên. Trong bao chuyện khó quên cho gia đình tôi ngày đầu qua Mỹ vẫn mãi là hình ảnh ngày TÔI ĐI CHẠY BÀN nhằm mưu sinh cho cuộc sống ./.


Đinh trọng Phúc
Edition 

14/7/2026


Monday, July 13, 2026

CHUYỆN KỂ NGƯỜI TÙ VÀO THĂM CHÙA SẮC TỨ TỊNH QUANG TỰ


 

NGƯỜI TÙ BINH THĂM CHÙA SẮC TỨ


NGÀY 21 THÁNG 5, 1975 TÙ BINH TỪ BA LÒNG VỀ THÀNH LẬP TRẠI TÙ CẢI TẠO CÓ TÊN LÀ ĐOÀN 74 (trong hình lục giác có đánh số 1-2-3-4-5)



Lời mở đầu

Tuyến phòng thủ sông Mỹ Chánh bị vỡ và tôi cùng 16 người khác của TĐ 105 ĐPQ Tỉnh QT bị bắt làm tù binh trưa ngày 23/3/1975 và ngày 24/3/1975 đã bị đưa ra Đông Hà thuộc miền CS miền bắc lúc Huế chưa thất thủ. Sau đó đoàn tù binh chúng tôi bị đưa lên Ba Lòng cho đến lúc SG sụp đổ 30/4/1975.
Cho đến Ngày 21/5/1975 đoàn tù binh chúng tôi từ Ba Lòng được đưa ngược về lại Ái Tử để thành lập 5 trại TÙ  CÓ TÊN LÀ ĐOÀN 74 do quân đội CSVN coi.(hình trên có dấu số màu đỏ trong hình Lục Giác)

Tiếp tục xây trại, một ngày nhờ được phân công đi lấy kẽm gai tại căn cứ Ái Tử cũ, người viết mới có dịp ghé vào Chùa Sắc Tứ thăm lại các Thầy và mấy chú ra sao?
Khi thấy đoàn tù thấp thoáng bới móc ngoài căn cứ Ái Tử cũ, có ai đó thấy tôi và có người nhắn tin vào gia đình ba mẹ tôi đang ở Mỹ Tho cho tin tức là tôi 'CÒN SỐNG"...Thế là nhà tôi ở Mỹ Tho 'DẸP BÀN THỜ ' của tôi xuống? không còn thờ nữa.( Trước đó vài tháng thì nghe ai trong đơn vị tôi chạy vào thấu trong nam và đoan quyết  tin tôi bị chết ở  Lương Mai- Phong Điền ngày 23/3/1975 nên ba mẹ tôi đều đặt tôi lên bàn thờ tại Mỹ Tho)

Thời gian nấn ná đi lấy kẽm gai tôi lén chùa, lúc đó cảnh chùa rất hoang tàn đổ nát. Cũng nhờ dịp này người kể  mới có dịp gặp lại thầy Thích Ân Cần và cả Thầy TỈnh giáo Hội là Thích Chánh Trực đang cùng trú trì tại Tổ Đình.
Các chú  ngang tuổi tôi xưa không còn gặp, chỉ có các chú nhỏ tuổi hơn có thể từ mấy làng mới vào tu sau tháng 4/1975 mà thôi.

Đinh trọng Phúc

***

                    tượng phật  Bà và hồ sen mặt trước chùa 1967-68 




NHỚ VỀ CHÙA SẮC TỨ
HỒI KÝ

CHÙA SẮC TỨ CUỐI NĂM 1975

    Những ngày tàn cuộc chiến, hoàn cảnh đẩy đưa tôi về lại thăm chùa Sắc Tứ. Một ngày khoảng cuối năm 1975 khi tôi được phân công đi lấy kẽm gai về xây dựng trại tù gần thôn Xuân Khê một thôn nằm về hướng núi cách chùa khoảng vài ba cây số.

    Quang cảnh đìu hiu của chùa Sắc Tứ lúc người dân chưa hồi cư về mấy làng quanh vùng Ái Tử chợt làm lòng tôi se lại. Mái tượng Quán Thế Âm đổ nát và hồ sen xơ xác trước chùa hoà trong không gian vắng lặng làm tôi có một cảm giác bơ vơ, xa lạ như đang ở chốn không người. 

   Mặt tiền của chùa trước vụ 1972 đang xây nay trước mắt tôi cũng tiêu điều đổ nát. Sau hậu liêu của chùa cũng còn vững làm chỗ tá túc cho những người ở lại. Tượng Phật chánh điện cũng không còn, đang tạm thay bằng tượng PHẬT đứng bằng đồng nho nhỏ. Hồi trước 1972 xây chưa xong thì biến cố 72 phải chạy để lại chùa hứng chịu cảnh pháo kích bom bay đạn lạc . Cho đến hôm nay cảnh thầy trò trở về sau 1975 như hôm nay trong cảnh đổ nát vẫn lai hoàn đổ nát mà thôi. Đạo hữu tứ tán mỗi người một nơi. Thành phố QT bên kia bờ sông, một nơi từng cúng dường cho chùa nay chỉ còn là đống gạch vụn không người. Mà người xưa của thành phố thân yêu của Chùa ngày đó chắc tản mác khắp bốn phuơng trời như bầy chim tan bầy vỡ tổ đó thôi.

   Tôi cất tiếng tìm Thầy. Một lúc sau mới có tiếng người vài ba o bên thôn Ái tử qua làm công quả nói thầy "đang lao động", còn mấy chú thì cũng đi lao động ngoài xa.

    Tôi vội vòng ra sau chùa thì gặp được thấy Thích Chánh Trực đang cặm cụi làm cỏ sắn trước Chùa. Gặp tôi, Thầy chống cuốc nghỉ mệt. Tôi thấy rõ những giọt mồ hôi nhễ nhại trên vầng trán cao của Thầy. Cái áo lam của thầy bạc màu theo mồ hôi muối và cơn nắng cuối hạ. Hai thầy trò đứng bên vồng sắn trò chuyện. Thầy vừa chống cuốc vừa nói chuyện với tôi. Thầy hỏi han về tình hình của tôi. Tôi thú thiệt với thầy hoàn cảnh và nhờ đi lấy kẽm gai mới tạt vô thăm chùa một lát chứ không lâu được. Thầy chẳng ái ngại chi do số tù binh mới về lập trại, Đoàn 74 hàng ngày vẫn xôn xao đi tìm kiếm vật dụng quanh căn cứ Ái Tử sau chiến tranh. Ngay cả cái cổng Sư Đoàn 3 BB chênh chếch sau lưng chùa nhóm tù cũng đi vô lấy phế liệu về trại. Người kể còn nhớ trong câu chuyện, thầy có phân biệt một đoạn về duy linh là gì? chỉ ngần ấy thôi thầy không nói gì sâu thêm.

Chợt thầy Thích Chánh Trực nhắc đến mệ ngoại tôi:

            -"O Bếp mô rồi con." 
            -"Dạ, mệ con vô đi di dân vô Bình Tuy với gia đình rồi thầy nờ." 

  Các thầy trú trì từ chùa Tỉnh Hội cho đến Sắc Tứ hay kêu mệ ngoại tôi là o Bếp. Thầy mừng do nghe tin ngoại tôi vẫn còn trong nam. Mệ ngoại tôi tức là bà Bếp Thỏn người làng Hạnh Hoa làm dâu làng Nại Cửu, là bà vãi tu ở chùa này đã lâu. Chùa tỉnh Hội xưa có bà Hai (tôi nhớ bà nói giọng QUẢNG ) nấu nướng cho Thầy. Bên này, Sắc Tứ thì có ngoại tôi. Cả hai bà đều nấu chay rất khéo và ngon. Quý thầy ai cũng khen, đi mô cũng nhắc. Mệ tôi vắng chùa là chùa nhớ. Các thầy các điệu các chú đều nhớ.

Chiến tranh tao loạn tứ tán mỗi người một nơi. Hai mái liêu tả hữu hai bên chùa là những hình ảnh và kỷ niệm cho tôi, nhiều lắm với những lần từ bên thành phố QT qua đây. Những ngày hè nghỉ học tôi hay qua thăm ngoại tôi bên chùa này. Những đám tang của người thân trong gia đình ngoại tôi cũng được chùa cho táng ở đây . Những lần lái honda qua đây chở mệ tôi về nhà 'có việc' hay cả những lúc qua viếng rảnh rang qua thăm chùa thăm mệ hay thắp nhang cho mộ phần người thân.

Chợt như nhớ ra Thầy vội đưa tôi vô trong liêu nói dù sao cũng phải nán lại ăn cơm với thầy do Thầy Thích Ân Cần cùng mấy chú đi lao động sau chùa không xa lắm chắc là sắp về. Một lúc sau thầy Ân Cần cũng đi làm về cùng mấy chú mới tu còn nhỏ tuổi tôi không biết được. Ngang tuổi tôi có mấy chú Tăng chú Đăng lưu lạc phương nào tôi cũng không còn biết.(Sau này ra tù tôi nghe tin chú Đăng bị chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng còn chú Tăng thì mất tích đâu không còn ai biết)


các chú đệ tử thầy Thích Ân Cần thời ngoại tôi tu tại chùa ,1967-
các chú này là sư đệ của các chú Tăng - Đăng...phần nhiều người làng Trà Trì và Trà Lộc (Hải Lăng QT)

Khoảng thời gian 1967- 1968  căn cứ Mỹ đóng quanh Chùa, có vài quân nhân Hoa Kỳ hay qua thăm cảnh chùa và chụp hình ảnh này. Những quân nhân này sau này về lại Mỹ và họ đưa lên mạng Internet hình ảnh Chiến Tranh VN trong đó có hình này .


Thầy Ân Cần trước tiên là hỏi tin về ngoại tôi. Mệ tôi hoàn cảnh xa chùa từ 1972 làm chùa nhớ chùa thương. Ngoài kia bên góc phải chùa, cái giếng nước hình vuông nho nhỏ còn đó. Bụi tre la ngà xơ xác đìu hiu phất phơ theo cơn gió và cơn nắng ban trưa. Tôi mường tượng hình ảnh ngoại tôi tháng ngày trước lom khom ra giếng rửa rau để vô nấu cơm cho thầy. Hồ sen năm đó loáng thoáng mấy cánh sen hồng, mấy con cá rô phi lượn lờ cùng bức tượng Quan Âm mới khánh thành. Thòi này căn cứ Mỹ đóng quanh Chùa. Trước chùa là phi trường Ái Tử của Quân Đội Mỹ , thỉnh thoảng có vài người lính Mỹ vào thăm chùa , thăm tượng Quan Âm xong vào chùa chiêm bái tượng phật trong chánh điện. Người Mỹ có khi còn giúp đỡ chùa một mớ ván ép cho chùa chi dụng. Cảnh chùa yên tĩnh cũng là nơi cho một số người Mỹ vào đây tĩnh dưỡng tâm hồn sau những lúc căng thẳng vì chiến tranh bên ngoài. Ngang đây người viết còn nhớ lại một dịp may là nhờ Việt Nam Quốc Tự không đồng ý cho quân đội Mỹ san bằng Chùa với giá đền bù Một Triệu đô La vì lý do an ninh cho căn cứ to lớn này. Cũng nhờ uy linh của các thiền sư trụ trì còn gia độ xui khiến cho vậy, nếu Việt Nam Quốc Tự tại Sài GÒn thời đó đồng ý thì xem như di tích quý báu của Sắc Tự Tịnh Quang Tự đến nay đâu còn ?

Giờ thì...mới đó mới đây chỉ còn là những đổi thay cùng thiếu vắng.

 Một chút chi hai thầy bảo tôi ăn cơm với hai thầy để về lại trại. Từ chối cũng không đành, tôi phải nán lại ít lâu nữa. Om cơm nho nhỏ khoảng 2 lon gạo vài củ khoai tím ruột hấp lên trên. Tôi chỉ giành khoai ăn để nhường cơm lại cho 2 thầy. Thiệt tình đối với tôi vào lúc này ăn mấy củ khoai tím ruột trồng đất cát của chùa là ngon lắm rồi. Tôi không quên được hình ảnh 3 Thầy trò cứ nhường qua nhường lại. Chén nước tương giờ này cũng loãng, miếng rau luộc cũng không đậm đà; giá như còn ngoại tôi ở lại với chùa, tôi nghĩ thầm trong bụng. ..Ngoại xa quê, mái liêu chùa trở nên trống vắng, cảnh chùa buồn làm lòng tôi thấy buồn hơn. Tôi làm sao quên đươc "chú Hợi" con heo đen chùa nuôi để lấy nguồn phân bón. Cái nanh của "chú Hợi" già tuổi quá cho đến lúc cả hai dài và cong vuốt lên. Tôi còn nhớ, ngoại tôi khoe rằng " chú Hợi cũng được Thầy cho quy y rồi". 

============== 
PHỤ GHI theo báo Phật Giáo Giác Ngộ ngày 12/4/2024

VỀ LỄ GIỖ 29 NĂM HÒA THƯỢNG THÍCH CHÁNH TRỰC VIÊN TỊCH TẠI TỔ ĐÌNH KIM TIÊN VÀ CHÙA PHẬT HỌC QUẢNG TRỊ 4 THÁNG 3 GIÁP THÌN (12-4-2-24)


Hòa thượng Thích Chánh Trực lúc ngài làm Chánh Đại diện Phật GHPGVNTN tỉnh Quảng Trị

Sáng nay, 12-4 (4-3-Giáp Thìn), Lễ tưởng niệm 29 năm ngày Trưởng lão Hòa thượng Thích 

Chánh Trực viên tịch đã được trang nghiêm tổ chức tại tổ đình Kim Tiên (Huế) và chùa Phật

 Học Quảng Trị với sự tham dự của chư tôn đức Tăng Ni cùng đông đảo Phật tử. Tại tổ đình Kim Tiên (P.Trường An, TP.Huế), hiện diện dâng hương tưởng niệm có Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Thanh, Ủy viên Thường trực Hội đồng Chứng minh; Trưởng lão Hòa thượng Thích Lưu Hòa, Thành viên Hội đồng Chứng minh; chư tôn đức giáo phẩm Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế; Hòa thượng Thích Khế Chơn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế cùng chư Tăng Ni các tổ đình, tự viện ở cố đô Huế đã đến đảnh lễ tưởng niệm, tri ân.
Trưởng lão Hòa thượng Thích Chánh Trực thế danh Hoàng Văn Trung, pháp danh Tâm Trung, pháp tự Chánh Trực, thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43. Ngài sinh năm Tân Mùi (1931) tại làng Trà Trì, X.Hải Xuân, H.Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Sinh thời, ngài từng đảm nhiệm các chức vụ: Phó Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên (1963), Chánh Đại diện Phật giáo tỉnh Quảng Trị (1968), Thành viên Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam (1980), Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN (1981), Phó Trưởng ban Trị sự tỉnh Bình Trị Thiên (1982), Trưởng ban Trị sự sáng lập GHPGVN tỉnh Quảng Trị (1989).


Bảo tháp Trưởng lão Hòa thượng Thích Chánh Trực trong khuôn viên tổ đình Kim Tiên (Huế)


TẠI CHÙA PHẬT HỌC QUẢNG TRỊ 






HẾT PHỤ GHI
============================================ 

TIẾP THEO...

...Bữa cơm tuy đạm bạc nhưng ba thầy trò trở nên tương đắc. Hai thầy cũng cho biết bên hợp tác xã cũng bán cho chùa mỗi tháng mỗi thầy 8 ký gạo "tối thiết".Ba thầy trò vừa ăn vừa kể lại chuyện mấy năm trước khi Thành Phố vẫn còn .. .Kể về cái chợ Quảng trị ngày xưa, chùa hay qua lại bán vài ba thứ do chùa trồng trọt  như đậu mè khoai sắn chẳng có gì quý để mua vài ba món cần dùng. Ngày đó khách thập phương bên Tỉnh năng qua lại chùa viếng cảnh và lễ phật.Ai lễ xong đều ra hóng mát ngoài hồ sen và chụp ảnh dưới chân tượng đài Quán Thế Âm. Đạo Hữu bên Tỉnh tôi nhớ có thương gia Nguyễn Xuyến năng cúng dường giúp đỡ cho Chùa nhiều lắm. Mệ Xuyến cũng rất mến bà ngoại tôi. Ai vô chùa cũng hay hỏi thăm O Bếp mô rồi...Hôm nay cũng vậy thầy Chánh Trực hay Thầy Ân Cần đầu tiên khi gặp tôi là hỏi thăm "O Bếp mô rồi?"

Nếu không có chuyện 1972 và 1975 thì giờ này thầy Chánh Trực còn trụ trì bên chùa Tỉnh Hội Quảng Tri chứ đâu ngồi đây ? Hoàn cảnh đổi thay đố ai biết được. Thầy Chánh Trực trước là đệ tử tại chùa Kim Tiên và sau này mệ ngoại tôi cũng được thọ giới đốt nhang lãnh Y Bát tại mùa kiết hạ tại chùa Kim Tiên nên thấy Chánh Trực mới năng hỏi o Bếp . Thầy Ân Cần thì không lạ gì ngoại tôi là bà vải ngày tháng bếp núc bên hữu liêu của chùa. Giờ (1975) mệ  tôi ở tận trong nam tình hình ra sao ba thầy trò làm sao biết được    Ba thầy trò vương vấn chưa được bao lâu thì tôi phải giã từ để về lại trại. Từ đó tôi biền biệt ra Bắc vô Nam tôi không còn có dịp về lại chùa nữa.

                                       ***

    Không ngờ năm 1991 người kể chuyện từ Bình Tuy ra đến Đông Hà do có công chuyện. Trên chuyến xe vô nam tôi lại có cơ duyên vô lại thăm chùa. Tôi không còn gặp được thầy Thích Chánh Trực nữa. Thầy Thích Ân Cần đang đau. Thầy chống gậy dẫn tôi ra hậu liêu chỉ vào cái tháp của thầy Thích Nhật Lệ thầy bảo tôi:

" con coi ngó rứa mà Thầy Nhật Lệ lại đi trước Ôn tề!" 

Tiểu sử Cố Hòa Thượng Thích Nhật Lệ ( 1927 – 1987 ) – Nguyên Trú Trì Chùa Hải Quang

– Nguyên Cố vấn Ban Đại Diện GHPGVNTN Tỉnh Gia Định
– Nguyên Cố vấn Giáo hạnh GĐPT Tỉnh Gia Định
– Nguyên Phó Ban Nghi Lễ TW GHPGVN
– Nguyên Trưởng Ban Nghi Lễ Ban Trị Sự THPG/TPHCM
– Trợ lý riêng cho Hòa Thượng Thích Trí Thủ
– Trú Trì Chùa Hải Quang
Hòa Thượng họ Nguyễn, thế danh là Cảnh, pháp danh Tâm Hòa tự Thành Quang, hiệu Nhật Lệ thuộc phái Thiền Lâm Tế đời thứ 43. Sanh ngày 09 tháng 9 năm Đinh Mão ( 04/10/1927 ) tại làng Trà Trì, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. (Tiểu Sử Cố Hòa Thượng Thích Nhật Lệ ( 1927 - 1987 ) - Nguyên Trú Trì Chùa Hải Quang | GĐPT Việt Nam (gdptvietnam.org)


Thầy Thích Nhật Lệ viên tịch trong nam. Lúc mệ ngoại tôi mất ở xuân sơn Bà Rịa năm 1984 thầy Nhật Lệ từ chùa Hải Quang Sài Gòn có về chủ lễ cho ngoại tôi tại đó. Thương thầy, chỉ ba năm sau thì thầy cũng về với cõi Phật. Kỷ niệm của người viết còn nhớ những ngày chạy loạn 1972 lang thang vào chốn Sài Gòn, tôi ở lại với chùa Hải Quang do gần Trại Phi Long tại Tân sơn Nhất. Ngày đó thi Tú Tài 2 cũng tại SG, tác giả liền nộp đơn vào Không Quân nên ở lại tại chùa Hải Quang của thầy mấy hôm. Chùa Hải Quang sau lưng chợ Ông Tạ. Bên hông chùa là cái nghĩa trang khá lớn, nằm sau lưng Chợ Ô Tạ. Chợ Ông Tạ có đường Thoại ngọc Hầu có rạp chiếu bóng Đại Đồng, coi phim xong đi qua đường vô cái đường kiệt dài là vô cổng Chùa Hải Quang thôi.

Trở lại chuyện chùa Sắc Tứ, Thầy Ân Cần tay run run chống gậy, Thầy lại chỉ vào bảo tháp xây sẵn cho thầy, "mai mốt Ôn viên tịch cũng đưa vào trong ni". Tuổi đời chồng chất, thầy trụ trì tại đây lúc tôi còn bé con năng qua lại chùa. Thầy xem như là được nhìn cái bảo tháp của mình. Những ngày tu hành tại chùa đến lúc ra đi Thầy cũng vui lòng do mãi gần chùa nơi Thầy thương mến.

Trước 1972, người viết cứ lái honda lần người viết qua Sắc Tứ thăm chùa, thăm ngoại nên trong chùa ai cũng nhớ mặt tôi. Tác giả nhớ Thầy còn khỏe mạnh. Bóng thầy ngồi trước hàng hiên của Tả Liêu nhìn tôi lái xe vô phía liêu bếp, Thầy cười vui vẻ...

        - Phúc qua đó con?

 Thời gian phôi pha sao nhanh quá, vật đổi sao dời. Hôm đó nhìn dáng thầy run run chống gậy chỉ vào bảo tháp sinh phần của mình. Ôi thời gian! thoắt đó thoắt đây kẻ ở người đi. Thầy cũng sắp đi, bình thản trước cảnh tử sinh trong cõi ta bà. Trong nam ngoại tôi cũng không còn nữa. Tôi mường tượng hương hồn ngoại tôi cũng theo gió xuôi trung về lại với chùa vì ngoại tôi tu đây cũng hơn mười mấy năm rồi.

Ngàn cây ngọn cỏ cũng còn xao xuyến. Thầy ở lại con phải vô nam bước chân viễn khách của con phải còn đi xa hơn nữa.

Mấy hôm đó thầy Thích Ân Cần hình như bệnh nhiều. Thầy gượng gạo ngồi ăn cơm với tôi cũng cơm hẫm nước tương chẳng chút đậm đà. Tôi ái ngại nghĩ bụng làm sao thầy nuốt cho vô trong cơn bệnh hoạn này. Bữa cơm thầy buông đũa sớm vì thầy phải về nghỉ mệt.
Câu nói của Thầy như một lời trăng trối với tôi trước khi tôi từ biệt thầy ra lộ đón xe vô lại phương Nam:

"Thầy nhờ con nhắn nhủ đạo hữu phương xa,nhất là ai có gửi mộ phần người thân tại chùa, đi làm ăn mô năng nhớ về chùa nghe con?"

Thầy còn gửi cho tôi bức ảnh của thầy nhờ chuyển cho dì tôi tên là Võ thị Liễu đang ở Trị An. Dì tôi ngày xưa khi còn buôn bán ở chợ Quảng trị rất thương về chùa.

Vào nam rồi ít lâu sau thì tôi nghe tin thầy Thích Ân Cần viên tịch.
Thời gian tuy phôi pha, hình bóng những người xưa cùng nhau về miền quá khứ tuy vậy tôi viết ra đây những dòng ký ức chân thật từ đáy lòng.

Nhất là lời hứa với người xưa, tôi không thể nào để "gió thoảng mây bay" rằng "những ai đi xa dù ở phương nào nên nhớ về chùa nghe con."

Đó là tình thương của thầy để lại cho Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang Tự cho những ai đang tu hành tại đó trước khi thầy về với Phật.


NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

PEARL S. BUCK-- NGÔI SAO NGÀY GIÁNG SINH ( TRỌN TẬP)

      Ngày Giáng Sinh, ông tỉnh giấc vào lúc trời mới rạng sáng. Trong khoảnh khắc đầu tiên ông chưa thể nhận ra mình đang ở đâu. Trong trí ...