Saturday, July 18, 2026

MƯA QUÊ HƯƠNG




    Mưa quê hương, đó là lúc ta đưa tay hứng những giọt nước trong ngần, mát lạnh; chợt một niềm thương, nỗi nhớ len lén vào lòng. Kỷ niệm về một thuở tuổi thơ, những chiếc thuyền giấy nổi bập bềnh theo trọt nước trước hiên. Ngày đó xa rồi,  dưới mái tranh quê hay miền trung chứa chan hoài niệm.  Nhưng mỗi khi quê hương đang chống chọi trong dòng nước lũ cố tìm sự sống thì bao giọt mưa kia lại hiện thân cho nỗi lo sợ hãi hùng. Mưa quê hương mỗi lúc đông về kèm theo nước lũ đó là lúc trời đất biến thành khổ ải, tang thương phủ chụp lên lớp người dân nghèo lam lũ. Bao dòng nước mắt đau thương miền trung sao vẫn tuôn rơi mãi với số phận định phần.


Cố gắng quên những bi khúc do mưa để thi vị hóa hình ảnh của mưa đó là "khúc luân vũ" đáng yêu từ trời cao ban xuống trong ngần từ bao giọt nước trong ngần, long lanh rơi xuống trần gian. Chất phát, gần gũi với người làm ruộng- mưa là lúc kẻ nông phu ngước mặt nhìn trời, lòng hả hê vui sướng khi nghĩ đến bao hạt lúa vàng căng đầy nhựa sống cho mùa gặt tới.  


đồng lúa vại (gieo) no nê làn nước

Lắm lúc mưa là lúc người thi sĩ nhìn qua khung cửa hay nghe tiếng nước rơi trên hàng sầu đông rồi dệt nên nhiều vần thơ mượt mà, cảm tác. Người nhạc sĩ chợt rung động vội ghi ngay từng nốt nhạc buồn trong tiếng mưa rơi. Lại buồn thay cho người cô phụ, con tim giá băng quặn thắt, bao năm dài nhớ chồng vĩnh viễn đi xa. Tình cảm hơn, ta lại nghĩ về bao mối tình mãi vương vấn tơ lòng, ai đó lúc tương tư  trên  căn gác vắng. Sống với hoài niệm, biết ơn, ta sẽ nhớ về chuyện ngày xưa trên vùng biên giới xa xôi, có anh chiến sĩ vội kéo tấm poncho  lúc màn mưa theo gió quất xối xả vào người...


hình- khoai măng cắt khô dành khi ăn độn


Nói sao hết chuyện trần gian khi mưa trời rơi xuống.  Dù sao chăng nữa, mưa muôn đời vẫn là mưa. Đó là sự  kết tinh bao làn hơi, trả lại thế gian những giọt nước tinh khiết, sau bao chuyến phiêu lưu kỳ thú trong không gian thênh thang và quãng khoát. Những mầm xanh sẽ nhú, bao mạch sống sẽ tiếp nối vào đời cũng nhờ mưa. Lạy trời mưa xuống    Lấy nước tôi uống  Lấy ruộng tôi cày... 

Niềm ước mơ, mong muốn của người dân quê mộc mạc biết chừng nào. Biết bao khao khát nhưng thực tế của những ai từng an phận với đời sống "chân lấm tay bùn".  Cuộc đời của lớp người "cày sâu cuốc bẫm" như quyện vào những câu ca dao chất phát truyền miệng với nhau dù qua bao nhiêu thế hệ người làm nông vẫn luôn ghi nhớ nằm lòng.  Người bám đất và đất nuôi người. Người dân quê lớn lên từ ruộng đồng chỉ những ước mong đơn điệu. Cuộc đời mộc mạc, họ đâu mơ chi phù phiếm xa hoa? Bao ước mơ từ xóm làng lam lủ không gì hơn là hình ảnh của những "bát cơm đầy"hay "rơm đun bếp".

Nhưng khi lụt về, đó là lúc "ông tha mà bà chẳng tha", điệu luân vũ của trời và đất lại trở thành hung tợn. Dòng nước cuồng điên đang gieo muôn triệu khối nước đày đọa lên bao tấm thân gầy nghèo khổ, tội tình.  Biết bao kiếp người chỉ biết những cầu xin đơn thuần bình dị. Mưa bỗng dưng hóa thân thành khổ ải, tang thương với bao dòng nước lũ băng băng, chảy xiết!  Ôi! những mái tranh tan tác, nổi trôi;  bao ruộng nương chìm đắm. Mưa giờ không là thơ là nhạc, mà là những tiếng khóc  ai oán thê lương!



Miền trung bao đời vẫn thế: căng mắt canh chừng cơn thịnh nộ của thiên nhiên khi thu về đông đến. Những giấc ngủ chập chờn trong gió thét mưa gào. Lụt -bão sao mãi hoài  là 'định mệnh an bài' cho miền đất khổ -nắng cháy da người-mưa dầm thối đất?  Thế mà lạ làm sao? Ai đi xa cũng muốn mau về nhà. Chỉ vắng nhà ít hôm thôi, người xa nhà chưa gì đã nhớ đã thương. Mẹ già nhớ hàng cau, thương bụi rơm bên mái tranh nghèo, vấn vương làn khói cơm chiều hay chắt chiu từng chút rơm đun bếp. Bác nông phu nhớ con trâu già cùng mấy thửa ruộng thân yêu. Bác nhớ làm sao những trưa nghỉ cày lúc ngồi vấn thuốc. Đó là những trưa bác dựa lưng bên gốc cây làng ngó lên Trường Sơn xanh thẳm. Tình quê chỉ ngần ấy thôi nhưng mặn mà chẳng chút nhạt phai. Một quê hương gian khó với thiếu thốn gian nan nhưng tình quê mãi mãi nồng nàn, lòng yêu thương làng nước chẳng hề phai nhạt.


đồng ruộng xã Triệu Tài, Triệu Phong sau năm hồi cư,  nơi tác giả từng đóng quân ngày đầu về đơn vị Quảng Trị
        


    LỤT LẠI VỀ, chuyện "đày đọa của ôn trời" chẳng hề thay đổi. Nước tràn vào làng, chảy băng băng ngoài ruộng. Lụt mấp mé vào đến cái trọt nước trước hiên. Mấy cặp mắt đau đáu  nhòm chừng, phấp phỏng lo âu...


 Lạy trời nước rút!  

 Cái sập lúa vẫn còn an toàn trước mắt mạ. Trai tráng trong nhà chẳng còn việc chi, đang đi kiếm vài mớ cá nước lụt. nước lên phủ ngập cánh đồng, đôi bờ tre xóm dưới lờ mò theo làn mưa. Cái tơi không đủ che thân, người lo đi cất rớ, kẻ khác đi nơm. Mớ cá kiếm về, nặng mùi bùn đất làm ai cũng vui quên cơn gió lạnh.


Nhạc mẫu tôi kể lại cho vợ chồng người viết nghe chuyện dưới quê ngày xưa vào cơn giáp hột. Môn khoai cũng cạn sạch, nhưng lúa ngoài đồng chưa chín. Có lúc túng quá người mình phải ra đồng truốt những hạt lúa chín trước ở phần chót bông về giã ra nấu ăn tạm. Những ngày giáp hạt như thế, người dưới quê ngó quanh nương chẳng còn gì bỏ được vào om. 


 Thế mới biết tại sao người xưa (hay miền trung) hay để dành, hà tiện chắt chiu từng củ khoai khúc sắn là thế. Dù được mùa, nhưng chẳng ai quay lưng phụ phàng với khoai môn cả.




Hình ảnh mạ ngồi cắt từng mớ khoai măng, phơi khô phòng đói.  Những sợi khoai khô vuông dài, mạ mừng do phơi được nắng. Ngoài khoai khô, mạ còn cất vài thúng sắn lát, mong mỏng cong cong... Khoai sắn phơi khô, con nhà nông ai mà chẳng quý. Nhớ hình ảnh mạ lom khom cất đặt từng mớ khoai khô vào trong sập gỗ, mạ cất đặt như nâng niu thương mến vô cùng.

Mạ còn gắng chắt chiu, gom từng cọng rơm, mong răng ngọn lửa phập phồng trong gió ngoài nương vẫn nấu chín nổi nồi cơm hấp sắn. Mớ cá hôm nay, những con cá mụn mạ kho cho cả nhà, sao thơm tho ngon miệng lạ thường. Giêng Hai đến là lúc trời lạnh như "cắt da".  Bao thiếu thốn, bao tính toán lo toan.  Đàn ông vác cày ra ruộng thì lại phải lo ăn, mà ăn 'làm răng' thì đã có mạ lo. Mạ lo, là 'lo ăn cho đủ  đến khi giáp hạt.

Chỉ rứa thôi,  khi cái vòng lo toan không bị ông trời làm cho trắc trở thì con nhà nông thở ra nhẹ nhõm. Cũng là lúc cái "vòng đời" lam lũ tính đủ một năm tròn mong sức người vẫn còn dẻo dai để cấy cày làm ra hạt gạo. Mong làm răng thoát cái cảnh nước tràn vô đồng mà chảy băng băng làm ngọn lúa không ngóc đầu lên được. Đó là lúc trời còn giúp cho con nhà nông lo toan đủ hai vụ cấy cày. Đầu mùa gieo mạ cấy lúa, cuối mùa gánh về nhà những gánh lúa được mùa nặng hạt. Trời còn thương thì người làm ruộng chẳng màng chi tuổi đời chồng chất, tưởng sức mình như đeo mãi với ruộng lúa con trâu...


Chuyện ngày xưa, chuyện những ngày giáp hạt, đó là lúc con người chân lấm tay bùn vẫn mãi bấm bụng nhịn cho qua cho quen những ngày thiếu đói. Đó là lúc lúa ngoài đồng đang nặng dần những hạt lúa kết tinh từ mồ hôi nước mắt của người nông dân tháng ngày miệt mài trên đám ruộng thân yêu, ươm đầy hi vọng của ấm no trước mắt. Cứ mỗi lúc "qua truông giáp hạt" đó là vòng tuần hoàn của một năm tròn. Rồi bác nông phu bấm đốt tay tính thêm được một tuổi đời hay vòng trần thế già thêm mười hai tháng.  Bên mảnh đất thân yêu muôn thuở, bên mái tranh ấp ủ tình quê, cạnh bụi chuối bờ tre người nông dân vẫn mãi tấm lòng chung thủy đất-người. Ngày lại ngày qua bốn mùa xuân hạ thu đông 'cày sâu cuốc bẫm'. người làm ruộng chỉ một niềm mong đợi đơn sơ 

 "Ăn sao cho đủ tới khi GIÁP HẠT !"

Thế thôi, một đời dân dã, đơn thuần người miệt quê chẳng ai biết mong chi lâu dài hay cao sang hơn nữa. Qua bao nhiêu năm hay nhiều đời con cháu tiếp nối, sau lũy tre làng lòng người dân quê chỉ ngần ấy ước mong. Nhưng rồi mỗi khi gió thét mưa gào, nước chảy băng băng, đó là lúc lòng người chỉ biết nhất tâm cầu nguyện ơn trời. Cho đến khi trời êm lụt hết, tình quê vẫn mãi nồng ấm tràn trề không hề thay đổi. Người làm ruộng vẫn miệt mài một nắng hai sương chắt chiu tháng ngày bên bờ mương thửa ruộng trong tình cảm thủy chung cho đến khi sức tàn lực kiệt, trọn kiếp con người./.


Đinh hoa Lư edition

DƯA CẢI "THƯỢNG DU"




RAU TÀU BAY hay MÓN DƯA CẢI THƯỢNG DU

 

(nhớ bạn tù 'cải tạo' Ái Tử, Quảng Trị)


Chào bạn đọc

    Tàu bay còn gọi là phi cơ thứ mà người mình hiện tại có thể đa phần đều biết. 

Kinh tế đổi mới xã hội đi lên phương tiện giao thông dồi dào, ngoài các chuyến xe khách hạng sang giờ đây các thành phố tại VN đều nối với nhau bằng những chuyến tàu bay phản lực bay tuyến nội địa.

 

Chuyện tàu bay kể lại đây không dính líu chi đến những chuyến phi cơ vần vũ trên trời mà tàu bay đây là "Rau Tàu Bay" một loại cỏ hoang ăn được. Một thời từng làm BẠN cho những người tù binh ngày thua trận.

 

Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay (ca dao)

 

    Người viết tin tiếng "DƯA TÀU BAY "là một danh từ chỉ dành cho thành phần tù nhân chính trị sau 1975 họ mới biết thôi. Miền nam sụp đổ những người còn lại đã bắt đầu chịu sự hành hạ ghê gớm qua một danh từ 'cải tạo' đó là thời gian mà hàng ngày có quá nhiều cái bao tử tù chính trị đang bị hành hạ, bào xé "tận xương"!

 

     Ba tiếng kẻng báo cho từng khối tù đi lãnh phần sáng lên chia trước khi đi làm. Chuyện trước tiên là chia phần MUỐI. Đúng vậy quan trọng nhất là muối. Những người 'cải tạo' như chúng tôi cần muối. Tuy mỗi người chia ra khoảng non hai muỗng cà phê muối sống nhưng ai cũng cất thật kỹ!?

 

Chuyện cũng lạ đời từ khoai sắn cơm canh gì cũng chia đều lại phần muối ban sáng để chấm sắn ăn cũng phải chia! Mà lại chia cho cân phân mới là khó cho anh nào trực trong ngày.

 

Tại sao lại cần và cất kỹ thế? 


Trốn trại ư?

 Không dám!

Hay làm gì khác?


Thưa thật, chuyện là vậy...

 

 Chúng tôi đã đạt đến trình độ 'thượng thừa' về làm DƯA. Mà dưa thì CẦN MUỐI. Nguyên tắc đơn giản là vậy thôi.

Chà ở tù mà ăn dưa thì cầu kỳ quá sá? 

Dưa giá chấm thịt heo à?

Không đâu quý bạn ơi! Dưa giá thịt heo là chuyện nằm mơ trong giấc ngủ thôi. Đêm về hai cái sạp dài trong cái lán dài lê thê có hai dãy người. Sau một ngày rừng rẫy giờ chúng tôi đang say sưa trong giấc ngủ ngon lành. Đây là thời gian tha hồ mà thả hồn về dĩa dưa giá, thịt heo... Khi tỉnh giấc, thực tế của chúng tôi còn lại là dưa tàu bay thôi!

 


Ngày đó, vùng đồi càn, cằn cỗi trung du Quảng Trị sao rau tàu bay mọc nhiều quá? Những bao tàu bay non mơn mởn chúng tôi hái xong, khi qua suối không quên rửa sạch.  Về lại trại tù chúng tôi sẽ ăn độn thêm với cháo sắn ngõ hầu nhét đầy cái bao tử xép ve đang sôi "lục bục ì xèo"! Nhiều cái bao tử, chúng "biểu tình đòi hỏi"?! Đói bắt cái đầu chúng tôi phải "biết cách sinh tồn", nói cách khác là vừa cuốc đất vừa "dáo dác" ngó quanh?...

 Sau ngày 21 tháng 5, 1975 tù binh từ Ba Lòng đưa về vùng này hàng ngày khai hoang trên những triền đồi đầy sỏi. Chúng tôi un vồng trồng sắn khoai. Nhiều đôi mắt không hề bỏ qua những mảng đất sau mấy trận mưa, rau tàu bay đang hồi lên, xanh non mơn mởn. Thế là vào lúc nghỉ giải lao, chúng tôi tha hồ kiếm thứ rau dại đó nhét vào mấy cái bao cát quân đội từng được xếp dẹp, gọn, giấu đằng lưng.

Có anh bạn tù nào đó nảy sinh sáng kiến khá thông minh, làm thử "dưa tàu bay" xem nó ngon dở ra sao?

Qua vài đợt thử đầu tiên chúng tôi thấy dưa đó quả ngon thật! Nhiều cái đầu "gật gù" đồng ý, tán thưởng. Dĩ nhiên trong cái thế "vô kế khả thi" hay "thế giới người mù kẻ chột làm vua", loại dưa lạ lùng đó nó là "số một"! do chẳng có gì cạnh tranh, với loại dưa đó cả? Thích quá, chúng tôi đặt tạm đặt tên cho nó là "Dưa Cải Thượng Du".

 Nghĩ cho cùng vào hoàn cảnh ngày đó, sao mà không là dưa? Gô dưa làm xong nó có vị chua, giòn, chăm chú ngửi kỹ hơn, quả gô dưa có mùi thơm thơm dưa cải...thoang thoảng thôi không đậm lắm nhưng đối với cái mũi người tù lúc đó "thiếu thốn" tột độ thì nhạy bén vô cùng. Đã kể thì phải kể thật lòng,  người viết thưa với bạn đọc,  có khổ một điều do chúng tôi thiếu  DĨA THỊT HEO BA CHỈ (ba rọi) cùng  CHÉN NƯỚC MẮM ỚT TỎI”!?



Thật là chuyện "viễn mơ" làm gì có dưa giá thịt heo? Ai đó có nhớ dưa giá thịt heo thì xin đợi đêm về! Sau tiếng kẻng Trại báo đi ngủ, chúng tôi sẽ  thiếp đi trong giấc mộng. Ai  nấy tha hồ thả hồn phiêu du rồi "liên hoan cùng  "DƯA CẢI THỊT HEO"!


Hiện tại ta có miếng dưa tàu bay đưa khúc sắn "tiêu chuẩn" cho bữa tối vào miệng cho no, thế là ngon rồi. Đó là lý do tại sao chúng tôi cần muối. Rồi buổi kiểm thảo phê bình công tác ban đêm, dưa tàu bay cũng là đề tài bị đem ra chỉ trích? Người đội trưởng lại một lần nữa nhăn mặt nhíu mày. Anh cực chẳng đã phải phê bình, kiểm điểm...nếu không anh cũng khổ với trên!? 

   

Chuyện nhắc nhở vấn đề CẢI THIỆN LINH TINH làm phiền lòng người "vệ sinh viên" phải dọn dẹp trong lán (nhà) khi tù đi làm rồi.  Chuyện 'vi phạm' của mấy lon gô DƯA TÀU BAY ai đó treo lủng lẳng từ đầu nằm trong lán  ngày đó đều trở thành đề tài 'thời sự'. Sao mà không "thời sự"? khi "đồng bệnh tương lân" phong trào làm "dưa cải thượng du" trở thành mốt ăn toàn lán, không có không được! Thứ dưa từng giúp đỡ hay thực ra là "trấn áp" được từng đợt "biểu tình" của mấy cái bụng tù trong những ngày thiếu đói. "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay..." nói như Cụ Nguyễn Du xưa, chỉ có người tù binh sau 1975 mới cảm được nỗi niềm ngày tháng cũ. Biết bao đau khổ từ cơn đói lòng và bốn chữ trong cái tội "cải thiện linh tinh" người viết thiết nghĩ chỉ có người tù 'cải tạo' mới nhớ mà thôi.

Thương hại cho số tù khi đi làm về làm sao! Có người buồn lòng nín lặng, có kẻ lại "càm ràm, ca cẩm" do hũ dưa tàu bay, thứ dưa đang hồi chua chín, thơm mùi dưa cải đã bị vệ sinh viên "tịch thu" mất rồi?!


Một loài hương dưa, hương vị không bao giờ quên khi tết đến xuân về. Nhớ mùa xuân xưa nào soạn sành phẩm vật cúng kiến, nào dọn mâm linh đình. Ôi dưa hành củ kiệu, chả thịt, nồi  hầm ngon đáo để! Lại còn có dưa cải chua, thịt heo ba chỉ trong mâm cơm cúng tất niên...

 

Còn ai từng làm thân phận người tù Ái Tử Quảng Trị nhớ đến những mảng đồi trung du ngập trắng hoa tàu bay. Những sợi bông  trắng, đến mùa nở bung, nhẹ bấc từng la đà bay theo gió núi.

 

hiện nay tại quê nhà rau tàu bay không còn "rau dại" nữa mà nó được sánh ngang với các loài rau thông dụng khác dùng trong bữa ăn 


Hiện nay trên quê hương mình,  rau tàu bay; loài rau dại đều là vị thuốc, là tiền! Tàu bay cũng như bao cây dại khác như cây mây, cây đót... khắp vùng trung du là "của trời ban" giúp người nghèo kiếm sống. Chuyện thời nay là vậy. Chỉ còn chúng tôi, lớp tuổi về già ngồi nhớ chuyện xưa...nhớ sao chuyện muối và dưa tàu bay. 


Tàu bay, tên nghe thật lạ! nhưng lại là một kỷ niệm làm người kể hôm nay nhơ nhớ, thương thương, rồi bỗng nhiên lại cay cay con mắt ./.


Đinh trọng Phúc 

edit 18/7/2026

Thursday, July 16, 2026

HỒI KÝ H.O: RA TRẠI (phần cuối và HẾT)

Con đường tôi về, rực nắng ban mai,
Còn hàng hoa đỏ, mùa hè thắm tươi
Còn em ngày nào, áo trắng thẹn cười
Nay đã vào đời, nụ hồng lả lơi
Phong sương dạn dầy, tuổi xuân đọa đầy...(Lê tín Hương)



TÀU QUA HẦM RÙ RÌ 



    Thế là tôi đã mất một ngày và một đêm trên chuyến tàu chợ vào Nha Trang. Người soát vé báo trước con tàu chợ tôi đi chỉ ghé ga chót là Ga Nha Trang. Chỉ có Tàu Thống Nhất từ ngoài bắc mới đi thẳng vào Sài Gòn. Thời gian ở tù tại Trại 4 Ái Tử, Quảng Trị tôi từng nghe có tàu Thống Nhất. Những bài đăng trên tờ báo Nhân Dân trong cái "căn- tin" tôi có dịp đọc vào cuối tuần, ngày nghỉ lao động. Hai chữ "căn tin" người viết không đặt ra mà trại từng gọi cho cái phòng đọc báo. Những tờ báo Nhân Dân được đóng nẹp cẩn thận, móc trên vách đất của "thư viện tù" trong trại. Có cơ hội, chúng tôi hay đánh cắp vài tờ, giấu vào bụng, về lại lán xé nhỏ để vấn thuốc. Thèm đọc tin, chúng tôi chẳng có chọn lựa nào ngoài những tờ báo Nhân Dân hay Quân Đội Nhân Dân. Tôi nhớ có dịp đọc tập tự truyện nhỏ có cái tên "Cây Đa Bến Cũ" của hàng binh "Phạm văn Đính" hay trung tá Đính trong QLVNCH từng được cho tù đọc tại đây. Tôi nhớ mang máng ông này có thăm trại Một, Ái Tử sau tháng 5. 1975 lúc chúng tôi vừa từ Ba Lòng được chuyển về lập Trại Ái Tử.

    Biết bao nhiêu là chuyện...

    Gần hai ngày, chiếc tàu chở tôi không có 'dịp may' nào dừng lại chờ tàu Thống Nhất qua mặt nên tôi không hình dung tàu đó nó đẹp, sang, to lớn, màu mè ...ra sao? Khoảng sáu giờ sáng tàu sắp qua hầm đèo "Rù Rì'. Người ta cho biết, và tôi cũng biết khi tàu vừa qua Ninh Hoà, đi vào thêm vài chục cây số nữa thôi.


Tôi đã về lại Nha Trang!

                Bãi Tiên Quân Trường Đống Đế
               bãi tập chiến thuật núi rù rì


    Tính từ ngày tôi ra trường, cuối tháng 11 năm 1973 đến tháng Sáu 1980, gần bảy năm giã từ Quân Trường Đống Đế, xa đèo Rù Rì cùng những bãi tập chiến thuật mệt nhoài trong mấy tháng huấn luyện. Mau quá, non bảy năm biết bao biến đổi cho miền nam và cuộc đời những người lính, những đứa tù binh?


                tôi ra trường vừa đúng 20 tuổi đời (24/11/1973)

 Bao đồng đội nằm xuống thì an phận rồi. Họ đã đền xong nợ nước, nợ áo cơm, kể cả nợ đời.

Nhiều người còn lại, chật vật, khốn khổ với hai chữ "ĐỔI ĐỜI” như những mớ rác rưới hỗn độn, đủ màu sắc bị quăng vào và lắc đều trong cái thùng lớn, từng ngày từng giờ. Hình ảnh trước mắt tôi hai ngày nay, kể cả bản thân, bị lắc đều dồn nén trong những toa tàu chợ hôi hám, nóng nực, chật chội.

đèo Rù Rì hình xưa 1960

C:\Users\typei\Desktop\Trung doi 4 Dd 776 Td 15 Khoa 5 B-73 DD..jpg

  




 Tàu đã vào khoảng tối cái hầm. Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh mấy tháng thụ huấn tại Quân Trường Đống Đế, đó là thời gian huấn luyện giai đoạn 2 tại núi Rù Rì, đại đội khóa sinh chúng tôi từng qua lại hầm tàu này. Lúc xuyên hầm, chúng tôi đi sát vào thành hầm để giữ an toàn. Chúng tôi qua hầm xong, chẳng có chiếc tàu nào tới nên chẳng hề có cảm giác ra sao nếu có tàu qua vào giờ đó? Đại đội khóa sinh qua hầm Rù Rì, đi một hàng dài men theo QL 1 qua Đống Đế trước khi về lại Quân Trường. Người viết chẳng quên bao thanh âm cùng hình ảnh người dân sống theo hai bên đường ngó theo, đùa vui cười cợt với lính, những người trẻ đang làm phận sự người trai trong thời binh lửa...


cho đến năm 2020, mấy chục năm sau hầm đèo Rù Rỳ lại còn rệu rã không được tu bổ gì (hình báo Khánh Hòa )

    Hầm Rù Rì không dài hơn hầm tàu Hải Vân. Tàu qua hầm, đó là lúc tôi tưởng tượng trên đầu tôi, sườn núi Rù Rì- Đống Đế những buổi tập "Trung Đội Phòng Thủ' hay "Trung Đội Di Tản Chiến Thuật'"... đó là những buồi huấn luyện trên núi Rù Rì. Có những buổi huấn luyện khác, tập sát Bãi Tiên có sóng biển bạc đầu, rì rào gió mát. Nào là Đỉnh "Thằng Cù Lần" tức là cái tượng lính sơn trắng trong tư thế “cầm súng thao diễn nghỉ". Nào đỉnh Hòn Khô phải chinh phục nó trước đêm gắn alpha cũng vào tháng Tám năm 1973.

                            đêm gắn Alpha 

    Giờ tôi về đây, cũng vào tháng Sáu trong thân thể gầy còm, áo quần tả tơi bạc phếch'? "chiến bại binh' trở về làm sao mà 'oanh liệt, oai hùng' cho được?

                                       TƯỢNG THẰNG 'CÙ LẦN' nay không còn 

Tôi nhớ hai câu truyền miệng trong Quân Trường Đống Đế:
"Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ
Em nằm xoả tóc đợi chờ ai?"


viền núi Hòn Khô đêm về giống người con gái nằm xỏa tóc...

    Tôi chẳng biết tác giả là ai? khóa đàn anh nào trong quân trường? Nhưng chúng tôi cứ truyền miệng cho nhau, dễ quá sao mà không thuộc.
    Đêm về, từ "chambre" đại đội 771 ngó lên Hòn Khô, viền núi đen sẫm in hình lên nền trời sáng mờ.  Tôi gật gù tán thưởng, “công nhận trông giống hình 'người con gái nằm xỏa tóc' hết sức!”


    Những cuối tuần đi phép, chỉ 12 tiếng đồng hồ trong ngày. Chúng tôi từ Đống Đế có thể về 'bát' phố Nha Trang. Nhưng Nha Trang, một thành phố dành cho "người yêu Hải Quân, Không Quân" thôi. Đây là tôi viết thật cho cái tâm lý "tự ti mặc cảm" ngày đó, bởi thế tôi chẳng về Nha Trang. Riêng tôi chỉ du ngoạn ngang Cầu Xóm Bống hay Tháp Bà rồi trở lui. Uổng công đánh giày xi- ra láng bóng, ủi áo quần phép phẳng phiu...

    Buồn làm sao cho những kỷ niệm lính qua nhanh với nhiều cảm xúc cùng bao nỗi nhớ nhung mang máng cũng lắm, sâu đậm cũng nhiều. Nhưng kết cục, tất cả đều buồn, đều tủi, cho bao nghiệp lính 'đứt gánh giữa đàng'.

    Con tàu chui ra hầm một đoạn, tôi thấy Núi Hòn Dung còn đó. Những ngày lính quân trường di hành qua đây, mấy xóm phong cùi, giờ còn tại đó không? tội nghiệp cho “làng cùi”. Chúng tôi lúc đó vẫn mua thức ăn tại bãi tập gần núi Dung, gần họ chẳng e ngại hay lo sợ gì.


BẾN XE NGUYỄN HOÀNG

một quán nước TP Nha Trang 1988 (ảnh khách ngoại quốc)

    Anh xe ôm rồ xe chở tôi tới bến xe Nguyễn Hoàng lúc giờ bán vé gần hết. Hình ảnh những chiếc xe dài liên tỉnh thời trước vẫn còn đó, cũ hơn. Những chữ Hợp Tác Xã Xe Đò ...giờ được thế vào những cái tên tư nhân ngày trước. Nha Trang ồn ào, náo nhiệt hơn Huế. Vẫn có những đứa trẻ bán mỳ và hàng rong đeo theo nài nỉ với chiếc xe sắp chạy. 

Tôi chạy nhanh vào phòng vé ...người ta lắc đầu làm gì có vé giờ này ?
Một anh nói lớn với cụ già:
        -Ra đầu đường đón mới có về Sài Gòn mau lên!
Tôi nghe vậy liền chạy theo họ.
Quả đúng! người ta rành chuyện này. Phải “linh động” tránh bến xe một quảng xa, mấy chiếc rời bến sẽ tấp vào đón khách thêm, ngoài số khách tiêu chuẩn mà vé đã bán. Hợp tác xã xe khách là vậy. Sau này tôi mới hiểu có vậy mới sống còn, nghĩa là biết “linh động” với nhau. Người ta bán vé tiêu chuẩn chỉ ít thôi, theo giá "nhà nước' thì làm sao sống được?

Chiếc xe dài vàng nhạt sà vào.
        -Sài gòn, Sài Gòn phải không- 

' Lơ' xe một tay bám vào thành cửa, đầu nghiêng ra ngoài, hỏi lớn.
    Tôi bám theo ba người đi Sài Gòn, khỏi cần hỏi khi nghe họ đi Sài Gòn. Xe đón 'gió' kiểu này không có thì giờ cho hai bên 'kỳ kèo' giá cả. Lơ xe vừa nói vừa kéo, vừa đẩy mấy người khách như 'tống' mạnh vào trong cho người tài xế rồ ga chạy mất như bị 'ma đuổi"?
            -Anh kia dzô đâu?
    Thấy bộ dạng tôi, anh chàng 'lơ xe' có thể đoán là người 'ngoài kia' vào. Tôi quên mất là cái mũ cối bằng rơm ép, màu vàng của tôi đang dội trên đầu  nên làm họ lầm là người "ngoài bắc" vào? (sau này tôi tiếc hùi hụi sao không đưa giấy 'ra trại' cho lơ xe? người trong này biết 'tù về' thì không ai ép giá cao bao giờ)
                -100 đồng ‘dz
ô’ Bình Tuy!?

    Tôi không nhớ có kỳ kèo với người lơ xe đó không? Tôi chỉ nhớ là đưa ngay 100 đồng cho anh ta, lại còn mừng do anh ta kéo ra cái ghế phụ bằng gỗ nhỏ xong bảo tôi ra lui ngồi tít đằng sau.
    Có được chuyến xe vô nam, có được cái ghế nhỏ khỏi phải đứng thế là tôi mừng lắm rồi. Dầu biết rằng 100 đồng lớn lắm, nhưng tôi còn đủ tiền. Cám ơn tình cảm từ mẹ đích tôi, bạn bè, bà con  ngoài Huế, Quảng Trị, Đông Hà, giờ tôi mới có cơ hội ngồi trên chuyến xe khởi hành từ Nha Trang đó.
  Tuy ngồi sau phần cuối xe lắc nhồi nhiều nhất, nhưng thật tình lúc đó tôi vẫn thích thú khác xa với hai ngày trên chuyến tàu chợ.
Chiếc xe qua ngã ba Diên Khánh bắt đầu quẹo trái vào hướng nam.
            "Ba Mạ ơi! cả nhà ơi! con gần đến nhà rồi!"
    Lòng tôi lâng lâng sung sướng. Ước gì cả nhà tôi biết được giờ này tôi đang có mặt trong chuyến xe Nha Trang -Sài Gòn đó!


VỀ NHÀ


 

    Chiếc xe chạy khá nhanh, nó kiếm thêm một số khách 'khá bộn' trên đường vào. Hành lang giữa chật cứng. Người ngồi ép vào nhau, cổ nghểnh cao tìm khoảng trống để. Tôi 'an phận', thoải mái hơn chút đỉnh nhờ lên xe trước. 'Lơ' xe lấy 'ngon ơ' của tôi đúng một trăm đồng bỏ vào túi. Chuyện tiền nong của anh ta với tài xế không liên quan gì tôi. Thế tôi lại âm thầm 'cám ơn' cái ghế 'súp' hiếm hoi do anh ta dành cho tôi lúc xe vừa rời bến.


      xe đò xưa cùng hai người "lơ" xe 

 
    Chiếc xe chạy nắp theo bờ biển. Hình như ngang bờ biển Ninh Chữ? Hoang sơ với làn nước xanh mấp mé theo quốc lộ. Bao hòn đá chập chùng, những vũng nước biển trong leo lẻo. Xa xa sóng đánh vào đá nước tung lên trắng xoá. Ngoài khơi hoang vu không thấy bóng thuyền.




   
 Người viết nhớ lại, cuối năm 1974 lấy phép từ TKQT, tôi đi phép từ Đà Nẵng vào Sài Gòn bằng xe đò.  Tôi dám liều mình đi xe đò chẳng qua không biết cách gì tìm một phương tiện khác? Nếu lính thành phố như Đà Nẵng Huế thì ai đó có thể quen biết Quân Vận có thể đi vô nam bằng phương tiện máy bay quân đội nhưng đối với tôi một người ngoài vùng "hỏa tuyến" tỉnh Địa Đầu có thể xem như thiếu thốn mọi bề. Dù biết thiếu an ninh khi đi xe đò tôi vẫn liều bận đồ lính đi trên xe đò thôi.  thiếu tiền thiếu phương tiện thì đành phải liều vậy. Ngày đi phép đó, ngang bờ biển Ninh Chữ này, cảnh biển quá đẹp nên tôi nhớ mãi. Nếu vậy, thì chiếc xe đang  gần Phan Thiết, "quê hương nước mắm" rồi. Tôi mừng thầm...từ Phan thiết vào đến Bình Tuy không còn bao xa nữa!


    Qua khỏi cầu Phan Thiết, chiếc xe đang vào Thành Phố. Trong xe tôi vẫn ngửi được mùi nước mắm từ mấy hãng chế biến gần múi cầu. Vẫn còn nhiều đống hũ nhỏ, sơn trắng la liệt dưới kia. Người ta vẫn còn làm nước mắm đựng trong hũ (còn gọi là trĩn )đất như xưa. Chiếc xe dài đang chạy xuyên qua Thành Phố. Phố Phan vắng vẻ, buồn hiu. Những cửa tiệm thưa thớt, vài chiếc xe honda 67 màu đen còn sót lại chạy vù qua mặt chiếc xe hàng. Bạn cùng lớp với tôi, Nguyễn Cường Nam, ra trường sau tôi, hồi đó nghe tin Nam 'trấn nhậm' cây cầu nào ngoài Phan Rang? Giờ tôi không còn biết tin gì về Nam? Phan Rang xe đã qua rồi, đây là Phan Thiết; có thể Phan Rang, thị trấn nhỏ quá, nên tôi không để ý.



Rừng Lá !


    Xe gần tới ngang Rừng Lá. Người ta đặt tên là Rừng Lá không biết do sao? Trước đây mỗi lần xe chạy ngang đây ai nấy cũng lo, cũng hồi hộp. Nỗi ám ảnh bị 'du kích' ra chận đường, một ‘rừng lá của mật khu’ của 'người bên kia'. Vào đây "rừng lá' tôi cũng thoát do gặp may không có 'du  kích' nào ra đón. Chuyến đi phép 1974 tôi vừa kể đoạn trên, tôi "bận đồ lính" tôi thoát được một mối nguy hiểm tại Bồng Sơn, quận Hoài Nhơn, Bình Định. Có chiếc cầu bị du kích đánh sập, và 'du kích' cũng giả dạng người đưa đò ‘transport’ khách qua sông, có xe bên kia đón.


    Khách qua sông cùng tôi ai cũng bận đồ dân sự, họ ép tôi vào giữa nếu có "du kích" thì họ khỏi thấy. Do tôi 'điếc không sợ súng' chứ người dân họ biết hết, nơi nào có du kích họ đều ranh. Tôi lúc này đúng 21 tuổi, trẻ măng, bận bộ đồ xanh ô liu, trên ve áo còn mang hai 'quai chão" đen sì, may liền vào cổ áo, không gở ra được. Một anh trung niên, bận bộ vét trắng, mang kính cận ra dáng trí thức. Tôi nhớ anh nói giọng Quảng Nam cứ đi 'kè kè' bên tôi để che giúp bộ đồ lính của tôi. Giờ mấy mươi năm qua, thêu dệt chuyện này hay hư cấu làm chi nữa. Tôi chỉ có lời CÁM ƠN MUỘN MÀNG đến tình dân trên chuyến xe đò 1974 mà tôi đi phép từ miền trung vào nam thăm gia đình. Năm đó trong nhà ai cũng mừng cho tôi 'thoát nạn'. Nhưng về lại đơn vị TKQT tức trả phép, ba mẹ tôi phải 'rán sức' mua vé máy bay cho tôi ra lại Huế, chiếc DC 4 bốn cánh quạt bay vù vù gần 3 tiếng mới tới Phú Bài. Đó là chuyện 1974 chuyến phép cuối cùng của tôi và cả những ai phục vụ trong QLVNCH cũng nên.


 lá buông  là thổ sản của Rừng Lá Bình Tuy
        

 Giờ đây là Rừng Lá của năm 1980, hết chiến tranh rồi, chỉ còn niềm vui ra tù, không lo sợ hồi hộp gì nữa... Dòng suy nghĩ của tôi đột ngột ngưng hẳn do anh chàng lơ báo cho tôi biết sắp đến Ngã Ba 46, họ sẽ cho tôi xuống đó.


Tới rồi! về nhà rồi ! một cảm giác hân hoan, hồi hộp khó tả trong lòng tôi.



NGÃ BA BỐN SÁU




    Xe thả tôi xuống liền rồ máy chạy ngay. Tôi đứng bên đường nhìn theo chiếc xe dài, màu vàng nhạt khuất hẳn dưới con dốc xa xa.


Trời thật sự chiều. Con lộ chính đất nước giờ này thật vắng. Tôi băng qua đường. Ngã ba này giờ chỉ vài cái quán lèo tèo, vắng khách. Giờ này tôi không còn tìm ra một phuơng tiện nào để về La Gi cả.


 Trong chuyến phép tôi vừa kể đoạn trên, tôi theo mẹ từ Mỹ Tho về La Gi. Những chuyến xe lam đông khách từ ngã ba Bốn Sáu này đây. Hồi đó nhộn nhịp làm sao. Về La Gi một chặng đường 18 cây số. Hai bên đường đa số là người dân Quảng Trị theo chuơng trình Di Dân LẬp Ấp 1973 của Quốc Vụ Khanh Phan Quan Đán thời VNCH.


Giờ tất cả đều vắng, ngã ba này không có ai ngoại trừ tấm bảng xi măng rất lớn đề dòng chữ lớn:


RỪNG LÀ VÀNG ĐỐT RỪNG NHƯ THỂ ĐỐT DA THỊT MÌNH

 

    Tấm bảng kia dĩ nhiên đối với tôi lần đầu tiên trông thật lạ kèm theo sự vắng vẻ một 'NGÃ BA 46' hiện tại. Tôi nhớ ngày trước, một thời xe lam, xe ôm rộn ràng lên về La Gi, trong đó có khá đông lưu dân QT.


    Chuyện đi bộ theo con đường này về nhà dù trên hai mươi cây số giờ đó đối với tôi là chuyện bình thường. Những ngày trong Trại Ái Tử, những đoạn đường vác gỗ nặng từ rừng về trại cũng non hai mươi cây số; huống gì bây giờ, tôi bước thênh thang. vai lại 'nhẹ hều' cộng thêm niềm vui quá lớn, đó là được về đoàn tụ với gia đình.


    Mặt trời chưa lặn hẳn. Tôi còn thấy được những xóm nhà hai bên con đường nhựa không rộng mà không quá hẹp. Vài đám ruộng cỏn con, xen vài luống mía. Những túp lều tranh còn vuơng khói, xen kẻ vài mái nhà tôn xi măng xam xám. Bên trái tôi một bóng núi nhòn nhọn. Rừng chiều dần dần đen sậm lại. Cảnh vật im lìm trong bóng hoàng hôn. Tôi cúi đầu bước nhanh trên con đường vắng ngắt không còn xe hay người đi. Hình như tôi muốn đuổi theo ánh sáng còn sót lại của một buổi chiều sắp hết.


Ngang cầu Suối Đó thì trời đã tối hẳn. Nhờ ánh trăng thượng tuần nên con đường không tối lắm. Con sông chảy qua cầu vào mùa này đã cạn nên tôi dễ dàng lội qua. Cái cầu đã sụp đổ. Ban ngày, có lẽ xe đò chạy vòng đường khác. Lội qua con sông cạn, leo lên lại con đường, tôi dựa lưng lên cái ba lô tạm nghỉ mệt trên con đường nhựa.


người Quảng Trị Di Dân Lập Ấp vào Bình Tuy năm từ năm 1973 tại Động Đền Hàm Tân

    Động Đền trong kia, nơi bà con tôi ở rất đông. Ngày đó tôi thăm vùng này được hai ngày trước khi ra lại QT. Sau 1975 nhà ba mẹ tôi từ Mỹ Tho mới về tập trung tại đây. Động Đền, nơi người QT ở gần bên nhau. Rẫy rừng than củi, buôn bán nông phẩm là chính. Những cái quán cà phê tranh nho nhỏ, những cái chợ cũng nho nhỏ, những mái trường cho con em QT và những chuyện gì nữa sinh ra từ vùng đất mới này, tôi không tường tận gì lắm. Sau năm 1972, gia đình tôi 'chạy' thẳng đến Mỹ Tho, chỉ về tập trung ở đây sau năm 1975; và đây cũng là lý do tôi khai địa chỉ trong giấy Ra Trại là vùng này.


Mặt trăng thượng tuần gần lặn, tôi vội vả bật dậy tiếp tục bước nhanh.


Ngã Tư Quân Cảnh đây rồi!


Tôi rẽ phải vào con đường đất, nó không còn trải nhựa đường nữa. Chỉ hai ba cây số nữa là đến Động Đền thôi. Nhưng nhà tôi ở xóm nào? tôi hoàn toàn mù tịt, trong Giấy Ra Trại đề là Xã Tân Mỹ thôi.


    Con đường đất lồi lõm, khó đi trong bóng đêm. Tôi cứ men theo vậy đi mãi. Ánh đêm và thôn xóm tối đen hai bên đường. Trời về khuya, tôi càng lúc càng bước nhanh; hình như tôi đang mò lên một con dốc. Còn ánh đèn nào leo lét tôi đánh bạo bước vào hỏi nhà.


Một giọng nói Gio Linh của một chú trung niên trả lời:


- Ôi  phải o  Dỏ ...thôn Cam Bình phải khôn? chú đi lui xuống lại đi, ngay dưới dốc có chợ Cam Bình là đến ngay thôi ...


Hú vía! 


Tôi nghe vậy mừng quá ríu rít cám ơn chú kia và trụt xuống dốc lại ngay. Thì ra tôi đã lạc đường không theo con đường chính lên dốc mà lại theo con đường mòn lên đến trên xóm trên cao đó. Người khách trong đêm như tôi, nghe mới ra tù chắc là một chuyện cho gia đình kia bàn tán "đỡ buồn" chăng? Hình như nhà họ mới đi làm rẫy về, mới ăn xong chưa ngủ?

 Tôi quay bước trở lui, mò mẫm trụt xuống con dốc, con đường mòn đầy cát mà tôi vừa leo lên. May quá! vẫn còn ánh đèn nào leo lét vừa thắp lên trong mái nhà tranh bên phải tôi. Tôi nhớ lúc qua đây, tôi không thấy có ánh đèn này, có thể họ vừa làm gì đó, mới thắp lên lại? Mừng rỡ, tôi gõ cửa...


    Dưới mái nhà tranh lụp xụp, ám khói. Ngay ở căn giữa có kê sẵn một cái bàn gỗ thấp lè tè, ọp ẹp. Một ngọn đèn dầu hỏa thắp vội tỏa ánh sáng lù mù. Thì ra đây là cái quán nhỏ: vài cái tô không, còn phảng phất đâu đây mùi thơm bún xáo do khách vừa ăn xong. Nếu thế, đây đúng là Chợ Cam Bình rồi. Ngoài kia chắc là cái đình chợ? bóng nó cao hơn những mái nhà đang im lìm 'ngủ' trong đêm. Thật lạ! không có tiếng con chó nào sủa khi nghe tiếng người. Bác chủ quán bằng tuổi mẹ tôi [2]người ôm ốm, cái áo cụt trắng bạc nhạt nhoà trong ánh đèn vàng vọt.Tôi vừa kịp nói xong, bác vội nói lớn lên giọng mừng rỡ với cái giọng Bắc 'di cư’:


            -Ôi ! cậu là Phúc con o Nhỏ phải không? theo tôi, theo tôi, o Nhỏ ở ngay sau này rồi.


     Bà vội cầm cây đèn dầu dẫn tôi đi ngay.
Con đường vào trong xóm tối om, nhưng chỉ một đoạn thôi. Một mái tranh lụp xụp, lờ mờ dưới nền trời khi ánh trăng thượng tuần vừa khuất.
Cầm cây đèn dầu trong tay, bác kêu lớn:


            -O Nhỏ ơi, o Nhỏ! thằng Phúc về rồi o Nhỏ ơi!


(đoạn cuối này được tác giả tu bút lại sau cùng, không có trong audio đọc truyện của Hồi Ký Miền Nam)

    Nói xong bác vội ra lại nhà ngay. Hình như người hàng xóm muốn giây phút trùng phùng đoàn viên được tự nhiên hơn, hơn nữa trời quá khuya rồi bác phải ra lại coi nhà.


    Cái cửa lá gài xọc xạch vội hé ra ngay. Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu thắp ban đêm tôi thấy hai đứa em trai đang ngồi dậy mặt ngơ ngác do bị đánh thức trong cơn ngủ say, hai đứa em đang ngủ nhưng lại ở trần không bận áo. Ba mạ tôi lay hoay do quá mừng chẳng biết làm gì trước tiên. Mạ tôi nghẹn lời do sự mừng vui quá bất ngờ trong lúc bắt đầu say ngủ. Cả hai người cầm vai người lắc lắc hai cánh tay thằng con trai mới ra tù cơ hồ sợ vuột mất hay có phải “nằm mơ” chăng?


    Một mái tranh ẩm thấp xiêu vẹo dưới ánh đèn lù mù. Những cái đòn tay bằng tre lâu ngày màu ám khói dù ban đêm tôi vẫn nhìn thấy rõ.  Tôi xúc đông, miệng lắp bắp chẳng biết trả lời câu hỏi nào trước cho ba mạ tôi. Ba tôi chẳng đợi nghe tôi trả lời vội kéo hơi thuốc lào, tiếng nghe “lụp bụp". Vừa phà làn khói, ba tôi vừa nghe tôi giải thích ...Ba tôi lại hút nữa hình như người muốn giải tỏa một nỗi vui mừng to lớn trong đêm.  Mạ tôi tiếp tục hỏi, những câu hỏi trùng nhau. Mạ tôi lay hoay  như muốn kiếm cái gì cho tôi ăn trong đêm? Tôi còn nhớ rất in là chẳng có gì tạm gọi là ăn liền được như thời này. Muốn nấu lon gạo thì phải đi tìm củi lửa, rồi phải nhen nhúm…khoai khô sắn khô có thể có nhưng ngoài ra chẳng có chi tôi đưa vào miệng ngay lúc đó…một mái tranh nghèo đúng nghĩa. Hai đứa em gái thì đã lấy chồng nên không ở trong nhà, chỉ còn hai đứa em trai, cứ nhìn chằm chặp vào người anh bao lâu nay mới gặp. Hai đứa em, chúng chẳng biết nói chi ngoài cái nhìn trân trân, có phần nào e thẹn trong niềm vui bất ngờ trong đêm.

    

     Thú thật, tôi không ăn gì nhưng cũng chẳng muốn ăn do quá no từ niềm vui đoàn tụ. Ba tôi tự cho phép mình hút liên tiếp và nhả khói thuốc lào trong đêm. Mùi thuốc lào của ba tôi hút không gì lạ, chúng tôi vẫn chia nhau từng bụm khói thuốc lào do trại phát trong tù. Cũng là thuốc lào nhưng mùi thuốc hôm nay tôi có cái cảm nhận rất khác, nó êm đềm và sảng khoái trong niềm vui quá lớn, Đoàn viên và tự do rồi trong vòng tay thương mến của gia đình ba mạ và các em tôi.




    Bên vách lá, có gánh hàng mạ tôi vừa bán bữa chợ hôm đặt sát vách. Mạ tôi cứ mãi lay hoay không biết lấy thứ gì cho đứa con trai ăn được? Thuốc rê tiêu hành, đồ vặt ...những thứ con trai mạ không thể đưa ngay vô miệng.

Nhưng mạ ơi xin mạ dừng tay. Con không đói mà rất no trong niềm vui VỀ MÁI NHÀ XƯA ./.


Đinh trọng Phúc

edition 16/ 7/ 2026



TRẢ LẠI THỜI GIAN

Xin trả lại những kỷ niệm buồn vui Ngày xanh đã theo thời gian qua mất rồi... (Trả Lại Thời Gian / NS Thanh Sơn) BẠN MẾN, THỜI GIAN VẪN LẠNH...