Vua Hàm Nghi là vị vua thứ tám của
triều Nguyễn, biểu tượng của tinh thần yêu nước và phong trào Cần Vương chống
thực dân Pháp.
Vua Hàm Nghi, tên thật là Nguyễn
Phúc Ưng Lịch, sinh ngày 3 tháng 8 năm 1871 tại Huế, là con thứ năm của
Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Nhàn, em ruột của vua Kiến
Phúc và vua Đồng Khánh . Ông lớn lên trong cảnh bần hàn, không được nuôi dạy
trong cung như các anh em, và chỉ được đưa vào triều đình khi mới 13 tuổi
Lên ngôi và triều đại
Năm 1884, sau khi vua Tự Đức qua đời
và triều đình Huế rơi vào khủng hoảng quyền lực, các đại thần chủ chiến Tôn
Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chọn Ưng Lịch lên ngôi, lấy niên hiệu
là Hàm Nghi Lúc này, ông mới 13 tuổi, gánh trên vai trọng
trách lớn lao trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược.
Phong trào Cần Vương
Tháng 7 năm 1885, sau khi cuộc phản
công tại kinh thành Huế thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra khỏi kinh
thành và phát chiếu Cần Vương, kêu gọi văn thân, sĩ phu và nghĩa sĩ
khắp ba miền đứng lên chống Pháp Phong trào Cần Vương kéo dài đến năm
1888, thể hiện tinh thần kháng chiến bất khuất và lòng yêu nước của dân tộc Việt
Nam
Lưu vong và qua đời
Sau khi bị bắt năm 1888, Hàm Nghi bị đưa đi lưu đày tại Algiers, Algérie, nơi ông sống phần đời còn lại và qua đời năm 1944 vì bệnh ung thư dạ dày . Do áp lực của Pháp, triều Nguyễn không lập miếu hiệu cho ông.
Ngày nay, lịch sử Việt Nam xem ông cùng với các vua Thành Thái và Duy Tân là ba vị vua yêu nước tiêu biểu trong thời kỳ Pháp thuộc (Wikipedia)
Thành Thái (chữ Hán: 成泰 14 tháng 3 năm 1879 – 20 tháng 3 năm 1954), tên khai sinh là Nguyễn Phúc Bửu Lân (阮福寶嶙), là vị hoàng đế thứ 10 của triều đại nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907.
Do chống Pháp nên ông, cùng với các vua Hàm Nghi và Duy Tân, là 3 vị vua yêu nước trong lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc bị đi đày tại ngoại quốc. Ông không có miếu hiệu (wikipedia)
Vua Duy Tân (1900–1945), tên
khai sinh là Nguyễn Phúc Vĩnh San, là vị hoàng đế thứ 11 của nhà Nguyễn.
Lên ngôi năm 1907 khi mới 7 tuổi, ông nổi tiếng là một vị vua yêu nước, có tư
tưởng bài Pháp mãnh liệt và từng tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực
dân Pháp (1916) trước khi bị lưu đày.
Dưới đây là các cột mốc quan trọng
nhất trong cuộc đời ông:
- Năm sinh - Năm mất: 19 tháng 9, 1900 – 26
tháng 12, 1945
- Thân phụ: Vua Thành Thái
- Niên hiệu: Duy Tân (1907 – 1916)
Thời gian tại vị (1907 - 1916)
- Được Pháp đưa lên ngôi năm 7 tuổi với hy vọng dễ bề
thao túng vì ông còn nhỏ. Tuy nhiên, trái với dự tính, ông lớn lên với
lòng căm thù giặc sâu sắc, thường ngầm ủng hộ và liên lạc với các phong
trào Cần Vương và Việt Nam Quang Phục Hội.
- Dù còn nhỏ tuổi nhưng ông nổi tiếng với lối sống giản
dị, gần gũi với nhân dân và có những tư tưởng tiến bộ.
Khởi nghĩa chống Pháp và bị lưu
đày
- Năm 1916: Cùng với Thái phiên và Trần Cao Vân,
ông lên kế hoạch tổ chức một cuộc khởi nghĩa vũ trang trên toàn quốc.
- Thất bại: Kế hoạch bị lộ, Pháp đã bắt giữ nhà
vua. Dù bị ép buộc thoái vị và chịu nhiều sức ép, ông vẫn một mực giữ vững
khí tiết.
- Lưu đày: Thực dân Pháp đày ông cùng gia quyến
sang đảo La Réunion (thuộc Ấn Độ Dương) vào năm 1916.
Cuộc sống tại đảo La Réunion và Thế chiến II
- Tại vùng đất
lưu đày, dù sống trong cảnh thiếu thốn và cô độc, ông vẫn tự học, làm nhiều
nghề (như thợ điện, thư ký) và nghiên cứu luật.
- Khi Thế
chiến II bùng nổ, ông gia nhập lực lượng Nước Pháp Tự do (Free
France) của Tướng Charles de Gaulle để chống lại Đức Quốc Xã với cấp bậc
Thiếu tá
Qua đời
- Ông qua đời ngày 26 tháng
12 năm 1945 trong một vụ tai nạn máy bay tại Cộng hòa Trung Phi.
- Năm 1987, hài cốt của ông được cải táng và đưa về an
táng tại lăng của cha mình (lăng Thành Thái) ở cố đô Huế.
| Tại vị | 7 tháng 3 năm 1939 - 30 tháng 8 năm 1945 (6 năm, 176 ngày) |
|---|---|
| Tiền nhiệm | Bảo Đại |



























No comments:
Post a Comment